Luận án Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar phục vụ tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk

HỌC VIỆN NÔ NG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
ĐẶNG THỊ THÚY KIỀU  
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG HIỆU QUẢ  
ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ HUYỆN CƯ M’GAR PHỤC VỤ  
TÁ I CANH C Y CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔ NG NGHIỆP – 2018  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
ĐẶNG THỊ THÚY KIỀU  
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG  
HIỆU QUẢ ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ HUYỆN CƯ M’GAR  
PHỤC VỤ TÁI CANH CÂY CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK  
Chuyên ngành: Quản lý đất đai  
Mã số: 9.85.01.03  
Người hướng dẫn khoa học:  
1. PGS.TS. VŨ THỊ BÌNH  
2. TS. NGUYỄN QUANG DŨNG  
HÀ NỘI - 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm  
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2018  
Tác giả luận án  
Đặng Thị Thúy Kiều  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của  
thầy cô, bạn bè và người thân, tập thể và cá nhân những nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh  
vực trong và ngoài ngành. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:  
PGS.TS. Vũ Thị Bình và TS. Nguyễn Quang Dũng là những Cô/Thầy đã hướng  
dẫn hết mực nhiệt tình chỉ dạy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành  
luận án.  
Tập thể lãnh đạo và các thầy, cô Khoa Quản lý đất đai, Bộ môn Quy hoạch đất  
đai, Ban Quản lý Đào tạo, Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  
Có được những thành quả trong luận án là được sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh  
đạo và cán bộ: Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung, Viện Quy  
hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây  
Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu đất, Phân bón và Môi trường Tây Nguyên, Sở Nông  
nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk  
Lắk, Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Đắk Lắk, Chi  
cục Thống kê huyện Cư M’gar, UBND huyện Cư M’gar, Phòng Tài nguyên và Môi  
trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Cư M’gar đã cử người phối  
hợp và cung cấp số liệu cho luận án, các hộ gia đình chọn làm mô hình.  
Tôi cũng xin cám ơn đến các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác tại trường Đại  
học Tây Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu.  
Cuối cùng tôi muốn được cám ơn những người thân trong gia đình tôi đã luôn  
chia sẻ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện công trình nghiên cứu.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2018  
Tác giả luận án  
Đặng Thị Thúy Kiều  
ii  
 
MỤC LỤC  
2.2.3. Một số công trình nghiên cứu ứng dụng đánh giá đất theo FAO ở Việt Nam.............24  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
CCN  
Nghĩa tiếng việt  
Cây công nghiệp  
DTTN  
ĐVHC  
ICO  
Diện tích tự nhiên  
Đơn vị hành chính  
Hiệp hội Cà phê thế giới (International Coffee Organization)  
IPM  
Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pests Management)  
FAO  
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc  
(Food and Agriculture Organization of the United Nations)  
LUT  
TTg  
Loại sử dụng đất (Land Use Type)  
Thủ tướng  
TB  
Trung bình  
QĐ  
Quyết định  
STT  
Số thứ tự  
UBND  
VICOFA  
Ủy ban nhân dân  
Hiệp hội Cà phê-Ca cao Việt Nam (Vietnam Coffee and Coca asociation)  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
ix  
 
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Đặng Thị Thúy Kiều  
Tên luận án: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê  
huyện Cư M’gar phục vụ tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk.  
Chuyên ngành: Quản lý đất đai.  
Mã số: 9.85.01.03.  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  
Mục đích nghiên cứu  
Đánh giá thực trạng sử dụng đất trồng cà phê và hiệu quả một số LUT cà phê tại  
huyện Cư M’gar. Đánh giá thích hợp đất đai đối với một số LUT cà phê; đề xuất định  
hướng sử dụng đất trồng cà phê khi thực hiện tái canh và các giải pháp sử dụng hiệu quả  
đất tái canh cà phê huyện Cư M’gar.  
Phương pháp nghiên cứu  
Sử dụng các phương pháp điều tra, phỏng vấn nông hộ, lựa chọn theo dõi mô  
hình, phân tích thống kê, xử lý số liệu và tổng hợp để đánh giá thực trạng và hiệu quả sử  
dụng đất trồng cà phê đối với các LUT và các mô hình theo dõi. Sử dụng các phương  
pháp khảo sát thực địa, lấy mẫu đất, phân tích đất để phúc tra xây dựng bản đồ thổ  
nhưỡng. Sử dụng phương pháp đánh giá đất theo FAO; phương pháp phân tích SWOT  
và phương pháp xây dựng bản đồ để đánh giá thích hợp đất đai và định hướng sử dụng  
đất khi tái canh cà phê.  
Kết quả chính và kết luận  
- Xác định được hiệu quả của các LUT cà phê theo các tiểu vùng, cụ thể là: Tại  
tiểu vùng 1: các LUT cà phê xen bơ và cà phê xen sầu riêng có hiệu quả cao, cà phê xen  
tiêu có hiệu quả trung bình, cà phê thuần hiệu quả thấp. Tại tiểu vùng 2: LUT cà phê  
xen bơ có hiệu quả cao, cà phê xen tiêu và cà phê xen sầu riêng có hiệu quả trung bình,  
cà phê thuần hiệu quả thấp. Tại tiểu vùng 3: các LUT cà phê xen tiêu và cà phê xen bơ  
có hiệu quả cao, cà phê xen sầu riêng hiệu quả trung bình, cà phê thuần hiệu quả thấp.  
- Từ năm 2011-2016 huyện Cư M’gar đã tái canh được 2.492 ha cà phê. Theo kết  
quả điều tra có 88,67% diện tích tái canh cà phê thành công và 11,33% diện tích tái  
canh không thành công. Nguyên nhân là do điều kiện đất đai không phù hợp, xử lý đất  
chưa đúng kỹ thuật, thực hiện tái canh trên những vườn cà phê bị nhiễm bệnh vàng lá,  
thối rễ nặng, chọn giống không đảm bảo chất lượng.  
x
 
- Kết quả đánh giá thích hợp đất đai đã xác định được: LUT cà phê thuần có  
mức rất thích hợp (S1) 1.287,06 ha, mức thích hợp (S2) 26.777,87 ha, mức ít thích hợp  
(S3) 29.781,37 ha và không thích hợp (N) 9.184,48 ha; LUT cà phê xen tiêu có mức rất  
thích hợp (S1) 1.287,06 ha, mức thích hợp (S2) 14.498,35 ha, mức ít thích hợp (S3)  
28.929,98 ha và không thích hợp (N) 22.315,39 ha; LUT cà phê xen sầu riêng có mức  
thích hợp (S2) 28.064,93 ha, mức ít thích hợp (S3) 16.650,46 ha và không thích hợp  
(N) 22.315,39 ha; LUT cà phê xen bơ có mức rất thích hợp (S1) 1.287,06 ha, mức  
thích hợp (S2) 26.777,87 ha, mức ít thích hợp (S3) 16.650,46 ha và không thích hợp  
(N) 22.315,39 ha.  
- Kết quả theo dõi các mô hình đã xác định: về hiệu quả kinh tế xếp theo thứ tự từ  
cao xuống thấp là cà phê xen bơ, cà phê xen tiêu, cà phê xen sầu riêng, cà phê thuần; về  
hiệu quả xã hội, các LUT cà phê trồng xen cao hơn cà phê trồng thuần do tạo thêm việc  
làm và tận dụng được lao động nhàn rỗi, giúp nông hộ có nguồn thu nhập trải đều trong  
năm; về hiệu quả môi trường, các LUT cà phê trồng xen có hiệu quả môi trường cao  
hơn LUT cà phê thuần do có tác dụng giữ độ ẩm, giảm nhiệt độ, điều hòa khí hậu giúp  
vườn cà phê phát triển tốt hơn.  
- Kết quả phân tích SWOT xác định: Các LUT trồng cà phê có điểm mạnh và  
cơ hội là điều kiện tự nhiên thuận lợi; nông hộ có nhiều kinh nghiệm sản xuất; sản  
phẩm cà phê, tiêu đã có thương hiệu tốt trên thị trường trong nước và quốc tế; sản  
phẩm sầu riêng và bơ tiêu thụ tốt ở thị trường nội địa. Tuy nhiên điểm yếu và thách  
thức là thiếu nước tưới trong mùa khô, nông hộ khó khăn về vốn, nông hộ chưa nắm  
vững kỹ thuật canh tác một số LUT cà phê trồng xen, tuyến trùng và nấm tồn tại trong  
đất trồng cà phê ảnh hưởng đến công tác tái canh.  
- Đề xuất diện tích đất trồng cà phê của huyện Cư M’gar là 32.947,50 ha, trong  
đó cà phê trồng xen bơ có diện tích nhiều nhất với 15.916,44 ha, cà phê trồng xen  
sầu riêng có diện tích 11.140,93 ha, cà phê trồng xen tiêu có diện tích 5.890,13 ha.  
Trong tổng diện tích đất trồng cà phê theo định hướng thì có 25.918,39 ha cà phê phục  
vụ tái canh, còn diện tích trồng mới là 7.029,11 ha. Một số giải pháp góp phần nâng  
cao hiệu quả sử dụng đất tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar là công tác quản lý sử  
dụng đất trồng cà phê, một số chính sách có liên quan đến tái canh cà phê, vốn, kỹ  
thuật và thị trường.  
- Các kết quả nghiên cứu của luận án đã làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn xác  
định LUT cà phê hợp lý góp phần thực hiện thành công việc tái canh cà phê.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Dang Thi Thuy Kieu  
Thesis title: Research on the current situation and propose the efficient use of coffee  
land in Cu M'gar district for coffee recultivation in Dak Lak province.  
Major: Land Management  
Code: 9.85.01.03  
Educational organization: Vietnam National University of Agricultural (VNUA)  
Research Objectives  
The thesis evaluates the coffee recultivation situation and the efficiency of land use  
types (LUTs) for coffee in Cu M'gar district. It evaluates soil suitability for some LUTs in  
Cu M'gar district, proposes orientations for the use of coffee land for recultivation and  
solutions to effectively use land for replanting coffee in Cu M'gar district.  
Materials and Methods  
The following methods are used: surveys, farmer interviews, model selection,  
statistical analysis, data processing and synthesis to evaluate the current situation and  
efficiency of coffee land use for LUTs and research models. Field survey, soil sampling,  
soil analysis for revision of soil mapping are also used. FAO land evaluation, SWOT  
analysis method and mapping method are used to assess soil suitability and land use  
orientation when replanting coffee.  
Main findings and conclusions  
- Identify the effectiveness of coffee LUTs in sub-areas. In sub-area 1, LUTs of  
coffee intercropped with avocado and coffee intercropped with durian are highly  
effective, coffee intercropped with pepper is average and monocropped coffee is low  
efficiency. In sub-area 2, LUT of coffee intercropped with avocado is highly effective,  
coffee intercropped with pepper and coffee intercropped with durian are average and  
monocropped coffee is low efficiency. In sub-area 3, LUTs of coffee intercropped with  
pepper and coffee intercropped with avocado are highly effective, coffee intercropped  
with durian is average, monocropped coffee is low efficiency.  
- From 2011 to 2016, Cu M'gar district replanted 2,492 hectares of coffee.  
According to the survey results, 88.67% of coffee replanting area was successful and  
11.33% of the replanting area failed. This is due to inappropriate soil conditions and  
treatment, recultivation in coffee farms infected with gold leaf, heavy root rot, poor  
quality seed selection.  
- The results of the integrated assessment of land suitability have been identified:  
LUT of monocropped coffee has the highly appropriate level (S1) 1,287.06 hectares,  
xii  
 
appropriate level (S2) 26,777.87 hectare, less appropriate level (S3) 29,781.37 hectares  
and inappropriate level (N) 9,184.48 hectares. LUT of coffee intercropped with pepper  
has the highly appropriate level (S1) 1,287.06 hectares, appropriate level (S2) 14,498.35  
hectares, less appropriate level (S3) 28,929.98 hectares and inappropriate level (N)  
22,315.39 hectares. LUT of coffee intercropped with durian has the appropriate level (S2)  
28,064.93 hectares, less appropriate level (S3) 16,650.46 hectares and inappropriate level  
(N) 22,315.39 hectares. LUT of coffee intercropped with avocado has the highly  
appropriate level (S1) 1.287,06 hectares, appropriate level (S2) 26,777.87 hectares, less  
appropriate level (S3) 16,650.46 hectares and inappropriate level (N) 22,315.39 hectares.  
- The results of monitoring the identified models: the economic efficiency ranked  
from high to low is as follows: coffee intercropped with avocado, coffee intercropped  
with durian, monocropped coffee. In terms of social efficiency, LUTs of intercropped  
coffee are higher than monocropped coffee by creating more jobs and utilizing idle  
labour, helping farmers have incomes spread throughout the year. In terms of  
environmental efficiency, LUTs of intercropped coffee are higher than monocropped  
coffee due to the effects of keeping moisture, reducing temperature, and regulating the  
climate to help coffee grow better.  
- Results of SWOT analysis are identified as follows: LUTs of coffee growing  
have strengths and opportunities thanks to favorable natural conditions, production  
experiences of farmers, internationally and domestically known coffee brand, durian  
and avocado sold well in the domestic market. However, weaknesses and challenges  
remain due to the lack of irrigation water in the dry season, lack of capital, inadequate  
knowledge of cultivation techniques for some LUTs of intercropped coffee, nematode  
and fungi present in soil affect to the re-farming of coffee.  
- The proposed coffee land area of Cu M'gar district is 32,947.50 hectares, of  
which coffee intercropped with avocado has the largest area of 15,916.44 hectares,  
coffee intercropped with durian has 11,140.93 hectares and coffee intercropped with  
pepper has 5,890.13 ha. Of the total land area planted coffee in orientation, there is  
25,918.39 hectares of coffee land for re-farming and 7,029.11 hectares for new  
farming. Solutions to improve the efficiency of using land for replanting coffee in Cu  
M'gar district focus on the coffee land management and utilization, some policies  
related to re-farming coffee, capital, techniques, and market.  
- The research results of the thesis have clarified the scientific and practical basis  
to determine LUTs of coffee, contributing to the successful implementation of coffee re-  
cultivation.  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
Trong những năm gần đây, sản lượng cà phê Việt Nam luôn đạt mức trung  
bình trên 1 triệu tấn/năm, với kim ngạch xuất khẩu hơn 2 tỷ USD/năm. Cà phê là  
một trong những cây trồng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, theo số liệu thống kê  
của Tổng cục Hải Quan (2016), kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt  
1.341.839 tấn, trị giá 2.674.238.962 USD, đứng thứ hai giá trị xuất khẩu cây trồng,  
chỉ sau lúa gạo (2.803.649.815 USD). Đến năm 2016, tổng diện tích cà phê của cả  
nước là 645.400 ha. Cà phê chủ yếu được trồng tập trung tại các tỉnh của Tây  
Nguyên với tổng diện tích là 582.100 ha, chiếm 90,19% tổng diện tích cà phê của  
cả nước (Tổng cục Thống kê, 2017). Tuy nhiên, hiện cả nước có đến 274.000 ha  
cà phê có độ tuổi từ 10-15 năm, gần 149.000 ha có độ tuổi từ 15-20 năm, 86.000  
ha đến nay đã trên 20 năm tuổi. Nếu không có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt  
chương trình tái canh, đến năm 2020 ước tính có tới 50% diện tích cà phê Việt  
Nam sẽ bước sang giai đoạn già cỗi, hết thời kỳ cho sản lượng và chất lượng tốt,  
cần phải cưa đốn phục hồi hoặc phải trồng lại (Cục Trồng trọt, 2014a).  
Tỉnh Đắk Lắk có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.312.345 ha, trong đó diện  
tích đất nông nghiệp là 1.160.092 ha, chiếm 88,40% so với tổng diện tích đất tự  
nhiên của tỉnh. Năm 2016, khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm 44,81% GDP của tỉnh  
(Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, 2017). Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh đã  
có những bước phát triển khá rõ nét, phần lớn nhờ sự đóng góp đáng kể của  
ngành nông nghiệp, đặc biệt là cây cà phê. Đắk Lắk là tỉnh có diện tích cà phê  
lớn nhất của khu vực Tây Nguyên cũng như cả nước. Hiện nay, tỉnh Đắk Lắk có  
201.200 ha cà phê, chiếm 31,17% tổng diện tích cà phê của cả nước.  
Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy đất đai của tỉnh Đắk Lắk rất  
thích hợp đối với cây cà phê. Tuy nhiên, thực tế sử dụng đất trồng cà phê của  
tỉnh Đắk Lắk đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết. Theo  
thống kê của Cục Trồng trọt (2014a), tỉnh Đắk Lắk có đến 66.783 ha cà phê già  
cỗi, trong đó có 28.603 ha độ tuổi từ 15 năm đến 20 năm chiếm 42,83% và  
38.180 ha trên 20 năm chiếm 57,17%. Ngoài diện tích cà phê già cỗi, còn một  
số diện tích có cây giống xấu, bị nhiễm bệnh dẫn đến sinh trưởng kém và cho  
năng suất dưới 2 tấn nhân/ha, nếu không kịp thời tái canh thì trong thời gian tới  
1
   
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng cà phê của tỉnh Đắk Lắk nói  
riêng và của Việt Nam nói chung. Trước thực trạng đó, tỉnh Đắk Lắk đã tiến  
hành tái canh cà phê tại nhiều địa phương trên địa bàn. Từ năm 2011, tỉnh Đắk  
Lắk bắt đầu có chủ trương thực hiện tái canh cà phê. Đến năm 2016, toàn tỉnh  
đã đầu tư trồng tái canh được 16.535 ha cà phê (Sở Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn tỉnh Đắk Lắk, 2017). Mặc dù công tác tái canh cà phê của tỉnh đã đạt  
được một số kết quả ban đầu, tuy nhiên cũng đang gặp nhiều khó khăn.  
Huyện Cư M’gar nằm trong vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột, cách trung  
tâm thành phố Buôn Ma Thuột 18 km. Huyện có tổng diện tích tự nhiên là  
82.450,13 ha (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cư M’gar, 2017), chiếm  
6,28% diện tích đất tự nhiên tỉnh Đắk Lắk. Huyện Cư M’gar có diện tích đất  
trồng cà phê lớn nhất so với các địa phương khác trong tỉnh, với diện tích hiện có  
là 35.754 ha và được phân bố ở tất cả các xã. Cà phê là cây trồng quan trọng đối  
với phát triển kinh tế, xã hội của huyện Cư M’gar. Tuy nhiên, cũng giống thực  
trạng chung của tỉnh Đắk Lắk, hiện nay huyện Cư M’gar đang tiến hành thực  
hiện tái canh cà phê. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk  
(2013), đến năm 2020, huyện Cư M’gar cần phải thực hiện tái canh 11.894 ha cà  
phê do già cỗi, năng suất thấp hoặc bị bệnh, chiếm đến 33,27% diện tích đất  
trồng cà phê của huyện. Trong thực tế những năm gần đây thời tiết thay đổi do  
biến đổi khí hậu đã làm cho cà phê liên tục bị mất mùa và giá cà phê không ổn  
định nên tại huyện Cư M’gar đang có xu hướng chuyển từ loại sử dụng đất  
(LUT) cà phê trồng thuần sang LUT cà phê trồng xen. Hiện nay trên địa bàn  
huyện đang có nhiều mô hình cà phê trồng xen với một số loại cây lâu năm như  
tiêu, sầu riêng, bơ,.. vừa đa dạng hóa sản phẩm cây trồng giúp tăng hiệu quả kinh  
tế cho nông hộ, vừa có tác dụng bảo vệ cho cây cà phê. Vấn đề đặt ra là tỉnh Đắk  
Lắk và huyện Cư M’gar đang tiến hành thực hiện tái canh cà phê, vậy muốn sử  
dụng hiệu quả đất trồng cà phê thì nên chọn LUT cà phê nào để thực hiện tái  
canh ? đất đai ở đây thích hợp với những LUT cà phê nào ? Mặc dù những năm  
qua, cà phê trồng thuần và cà phê trồng xen với một số cây lâu năm đã được  
nhiều nông hộ lựa chọn khi tái canh, tuy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và  
huyện Cư M’gar nói riêng chưa có nghiên cứu nào làm rõ cơ sở khoa học cho  
việc định hướng sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê khi tái canh. Vì vậy nghiên  
cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar  
nhằm phục vụ tái canh cà phê là rất cần thiết và cấp bách góp phần thực hiện  
thành công tái canh cà phê tỉnh Đắk Lắk.  
2
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
- Đánh giá thực trạng và hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê (trồng  
thuần, trồng xen), đánh giá thích hợp đất đai đối với một số loại sử dụng đất  
trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.  
- Đề xuất định hướng sử dụng đất trồng cà phê khi thực hiện tái canh và các  
giải pháp sử dụng hiệu quả đất tái canh cà phê huyện Cư M’gar trong thời gian tới.  
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Các LUT cà phê (trồng thuần, trồng xen tiêu, xen sầu riêng, xen bơ).  
- Các loại đất đang trồng cà phê và có khả năng trồng cà phê.  
- Các hộ gia đình, cá nhân trồng cà phê và tái canh cà phê.  
- Các chính sách liên quan đến phát triển cây cà phê tại Việt Nam.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Về nội dung: Công tác tái canh cà phê phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất  
trồng; đầu tư vốn; kỹ thuật canh tác, xử lý đất, chọn giống, cách trồng, chăm  
sóc, phòng trừ dịch bệnh hại,... Trong phạm vi giới hạn của đề tài này chúng tôi  
chỉ đi sâu nghiên cứu khả năng thích hợp đất đai và hiệu quả của các loại sử  
dụng đất trồng cà phê để phục vụ cho việc tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar,  
tỉnh Đắk Lắk.  
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn toàn huyện Cư M’gar, trong đó  
tập trung nghiên cứu điểm tại 5 xã có diện tích trồng cà phê và tái canh cà phê  
tương đối lớn, đó là xã Quảng Tiến, Cư Suê, Ea Kpam, Quảng Hiệp, Ea Kiết.  
- Về thời gian:  
+ Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2005-2016.  
+ Số liệu sơ cấp như điều tra tình hình sản xuất của các vườn cà phê đang  
cho thu hoạch và theo dõi các mô hình trồng cà phê trong 3 năm liên tiếp là 2014,  
2015 và 2016.  
1.4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN  
Xác định được hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê, đánh giá được  
mức độ thích hợp đất đai đối với các loại sử dụng đất cà phê trồng thuần, cà phê  
3
     
trồng xen với cây công nghiệp, cây ăn quả và định hướng sử dụng đất trồng cà  
phê phục vụ tái canh cà phê huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
Luận án đã góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận khoa học về đánh giá  
thích hợp đất đai trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar và  
các địa phương khác có điều kiện tương tự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm các căn cứ để các nhà quản  
lý tham khảo trong quá trình chỉ đạo thực hiện tái canh cây cà phê trên địa bàn  
huyện Cư M’gar và tỉnh Đắk Lắk; đồng thời là căn cứ để người sử dụng đất trồng  
cà phê thực hiện tái canh.  
4
     
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ  
2.1.1. Sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất  
Sử dụng đất nông nghiệp là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa  
mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và  
môi trường, vốn để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích. Tùy vào mức độ phát  
triển kinh tế, xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng  
cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh  
hoạt, sinh thái (Nguyễn Đình Bồng, 2012). Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sử  
dụng đất nông nghiệp phải luôn bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa các vấn đề:  
hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu  
của phát triển bền vững.  
- Hiệu quả kinh tế  
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế - xã hội, phản ánh mặt chất  
lượng của hoạt động sản xuất, là đặc trưng của mọi nền sản xuất xã hội. Quan  
niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau là không giống nhau.  
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của một nước,  
vùng, một ngành sản xuất cụ thể mà đánh giá theo những góc độ khác nhau phù  
hợp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009).  
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất có thể dùng nhiều chỉ tiêu khác  
nhau và cách xác định các chỉ tiêu tùy thuộc vào mục đích và phạm vi nghiên  
cứu. Dựa trên cơ sở khoa học của hiệu quả kinh tế và các đặc điểm, yêu cầu  
nghiên cứu hiệu quả kinh tế sử dụng đất có thể xácđịnh hệ thống các chỉ tiêu như  
giá trị sản xuất, đầu tư cơ bản, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn  
hợp, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận,... Để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế  
trong sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện trên cơ sở các số liệu thu thập  
được và các kết quả điều tra phỏng vấn nông hộ ở địa điểm nghiên cứu, đánh giá.  
Các chỉ tiêu cần tính toán để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thường  
quy về đơn vị 1 ha cho từng LUT nông nghiệp (Đỗ Nguyên Hải, 2016).  
- Hiệu quả xã hội  
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau,  
chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ  
5
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 216 trang myanh 20240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar phục vụ tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_thuc_trang_va_de_xuat_su_dung_hieu_qua_da.pdf
  • pdfTrang thong tin LA - Dang Thi Thuy Kieu.pdf
  • pdfTTLA - QLDD - Dang Thi Thuy Kieu.pdf