Luận án Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn (PED) tại miền Bắc Việt Nam

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGUYỄN TRUNG TIẾN  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA  
BỆNH TIÊU CHẢY THÀNH DỊCH Ở LỢN (PED)  
TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGUYỄN TRUNG TIẾN  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA  
BỆNH TIÊU CHẢY THÀNH DỊCH Ở LỢN (PED)  
TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Dịch tễ học thú y  
Mã số:  
9.64.01.08  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Bá Hiên  
HÀ NỘI - 2018  
̀
LƠI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của bản thân. Các kết quả  
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng  
bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn  
và các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2018  
Tác giả luận án  
Nguyễn Trung Tiến  
i
 
̀
̉
LƠI CAM ƠN  
Để hoàn thành luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của rất  
nhiều người, sau đây là lời cảm ơn chân thành của tác giả:  
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Bá  
Hiên, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành  
luận án. Nhờ có sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu của thầy mà  
luận án của tôi đã được hoàn thành.  
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban  
Quản lý đào tạo, Ban Chủ nhiệm khoa Thú y, Bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm,  
Phòng Thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học Thú y, cùng toàn thể các thầy, cô  
giáo và cán bộ Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã trang bị cho tôi  
những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.  
Trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, toàn thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Kiểm  
nghiệm thuốc Thú y TW1, các bạn bè và đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện về thời gian,  
động viên, chia sẻ vật chất, tinh thần, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và  
hoàn thành luận án.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2018  
Nghiên cứu sinh  
Nguyễn Trung Tiến  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt Chữ viết đầy đủ  
CPE  
Cytopathogenic effect  
cs.  
Cộng sự  
DMEM  
DMSO  
E
Dulbecco's Modified Eagle’s Medium  
Dimethyl Sulfoxide  
Envelope  
EDTA  
ELISA  
FAO  
FBS  
Ethylene Diamine Tetraacetic acid  
Enzyme Linked Immuno-sorbent Assay  
Food and Agriculture Organization  
Fetal Bovine Serum  
M
Membrane  
MOI  
N
Multiplicity of Infection  
Nucleocapsid  
ORF  
ORF3  
PBS  
Open Reading Frame  
Open Reading Frame 3  
Phosphate Buffer Saline  
Porcine deltacoronavirus  
Porcine Epidemic Diarrhea  
Porcine Epidemic Diarrhea Virus  
Ribonucleic Acid  
PDCoV  
PED  
PEDV  
RNA  
RT-PCR  
S
Reverse Transcription- Polymerase Chain Reaction  
Spike protein  
TCID50  
TGE  
TGEV  
TPB  
50% Tissue Culture Infective Dose  
Transmissible Gastroenteritis  
Transmissible Gastroenteritis Virus  
Tryptose Phosphate Broth  
vi  
 
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
viii  
 
ix  
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Nguyễn Trung Tiến  
Tên Luận án: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh tiêu chảy thành dịch ở  
lợn (PED) tại miền Bắc Việt Nam  
Chuyên ngành: Dịch tễ học thú y  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mã số: 9.64.01.08  
Trong nghiên cứu này trước tiên làm rõ tình hình dịch PED ở 10 tỉnh miền Bắc,  
bao gồm vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trung du- miền núi. Trên cơ sở xác định  
được sự lưu hành của PEDV, đặc điểm dịch tễ học được phân tích đa chiều, đi sâu tìm  
hiểu những biến đổi có liên quan đến đáp ứng miễn dịch trung hòa virus. Đặc biệt, phân  
tích mối liên hệ về gen được thực hiện trên cơ sở dữ liệu lớn nhằm làm rõ nhiều đặc  
điểm dịch tễ học phân tử chưa được đề cập trong nhiều nghiên cứu trước đây.  
Phương pháp nghiên cứu  
Có hai nhóm phương pháp chính được dùng trong nghiên cứu này, bao gồm: (i)  
phương pháp RT-PCR dùng trong phát hiện PEDV trong mẫu bệnh phẩm và giải trình  
tự gen virus. (ii) Phương pháp phân tích đặc điểm sinh học phân tử và đặc điểm dịch tễ  
học phân tử dựa vào các phần mềm như BioEdit, MEGA, MAFFT, BEAST, v.v...  
Kết quả chính và kết luận  
Có 5 nhóm kết quả nghiên cứu chính đã đạt được trong nghiên cứu này, bao gồm:  
(i) Bằng phản ứng RT-PCR, đã xác định được dịch PED đã xuất hiện ở một không  
gian trải rộng ở 10/10 tỉnh miền Bắc với tỷ lệ trung bình là 41,98% và liên tục theo thời  
gian (trong các năm thu thập mẫu từ 2013-2015). Các trang trại ở vùng đồng bằng có tỷ  
lệ trang trại dương tính PEDV cao hơn rõ rệt so với các trang trại ở các tỉnh trung du-  
miền núi (68,42% so với 35,29%).  
(ii) Lợn mắc PED có triệu chứng và bệnh tích điển hình của bệnh: phân tanh và  
có mùi gây đặc trưng (64%), phân có sữa không tiêu (38%); ruột non trong (60%) và có  
cục sữa không tiêu ở các đoạn ruột (20%).  
(iii) Tính đa dạng di truyền của gen S và gen ORF3 của 38 chủng PEDV của Việt  
Nam được phân tích đa chiều về tỷ lệ % tương đồng, phân loại theo nhóm di truyền và  
khoảng cách di truyền giữa các chủng virus. Qua đó đã xác định được PEDV lưu hành ở  
x
 
Việt Nam không có nguồn gốc từ các chủng virus vacxin và có tính đa dạng di truyền  
với mức tương đồng trình tự gen S là 63,7% - 87,9% và gen ORF3 là 93% - 99%. Các  
chủng virus mang đột biến thêm- xóa và đột biến điểm ở vùng quyết định kháng nguyên  
của gen S được dự đoán không dẫn tới dẫn tới khả năng lẩn tránh kháng thể trung hòa.  
(iv) Phân tích cây phả hệ của PEDV dựa vào trình tự gen S và gen ORF3 được  
thực hiện với dung lượng mẫu lớn (n = 911 trình tự gen S, n = 886 trình tự gen ORF3)  
được tạo ra trong nghiên cứu này và thu thập từ ngân hàng gen. Nghiên cứu này đã  
khẳng định sự lưu hành của 2 genogroup PEDV ở Việt Nam. Trong đó genogroup 2 bao  
gồm nhóm châu Á và nhóm Bắc Mỹ. Một số chủng là kết quả của quá trình tái tổ hợp ở  
gen S giữa 2 chủng virus thuộc genogroup 1 và genogroup 2  
(v) Đặc điểm dịch tễ học phân tử của PEDV lưu hành ở Việt Nam được cho từng  
genogroup virus, với hai kết luận quan trọng được rút ra. Thứ nhất, PEDV lưu hành ở  
Việt Nam có nguồn gốc đa dạng: virus thuộc genogroup 1 và nhánh châu Á của  
genogroup 2 có nguồn gốc trực tiếp từ Trung Quốc. Trong khi đó virus thuộc nhánh Bắc  
Mỹ có nguồn gốc từ Mỹ. Thứ hai, chủng virus tổ tiên của PEDV hiện lưu hành được dự  
đoán tồn tại trước thời điểm xảy ra dịch PED khoảng 6-9 năm. Sau khi xâm nhập, các  
chủng PEDV của Việt Nam bắt đầu tạo thành những nhánh di truyền riêng biệt và lây  
lan ra các địa phương khác.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Nguyen Trung Tien  
Thesis title: Epidemiological study of porcine epidemic diarrhea in pig populations in  
the north of Vietnam  
Major: Veterinary epidemiology  
Code: 9.64.01.08  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
This study firstly investigated the prevalence of PED in northern provinces which  
were divided in to the river delta and the mountainous areas. Based on the identification  
of PEDV in each region, the molecular epidemiology of PEDV was analyzed under  
different aspects. For example, genetic substitutions which are related to neutralizing  
epitopes were focused. Especially, based on a large data for phylogenetic inferences,  
this study revealed several important aspect of molecular epidemiology which was  
missed in several publications.  
Materials and Methods  
This study used two major methods, which were: (i) RT-PCR based method for  
viral detection and Sanger sequencing. (ii) Method for molecular epidemiological  
analyses was relied on several state-of-the-art tools, such as: BioEdit, MEGA, MAFFT,  
BEAST, etc.  
Main findings and conclusions  
Five main results were drawn from this study, as the follows.  
(i) The result of RT-PCR screening confirmed the emergence of PED in all  
10/10 investigated provinces. The outbreaks were found consecutively from 2013-2015,  
and the average rate of prevalence was 41.98%. Farms located in the river delta region  
tended to have a higher PEDV positive rate (68.42%) in compare to those located in the  
mountainous area (35.29%).  
(ii) PEDV infected piglets displayed typical clinical symptoms as well as gross  
lesions of PED, such as: typical odor (64%), un-digested milk in feces (38%); thin-wall  
small intestine (60%) and milk curved in the intestinal lumen (20%).  
(iii) The genetic diversities of S and ORF3 genes of 38 field strains were analyzed  
under different aspects. It was concluded that field strains of PEDV in Vietnam were  
xii  
 
not related to vaccine strain. The sequence similarities between field viruses were  
63.7% - 87.9% for the S gene and were 93% - 99% for the ORF3 gene. Genetic  
insertion- deletions as well as point mutations in important epitopes of the spike protein  
were predicted not resulting escape mutants.  
(iv) Phylogenetic analyses were done on the large data of both S and ORF3 gene.  
The results confirmed the prevalence both genogroup 1 and genogroup 2 of PEDV in  
pig population in Vietnam. Of the genogroup 2, PEDVs in Vietnam were separated into  
the emerging Asian and North American clades. Several strains were determined to be  
the result of recombination on the S gene between genogroup 1 and genogroup 2.  
(v) The molecular epidemiology was inferred for each genogroup. Firstly,  
Vietnamese PEDVs were predicted originating from the viruses circulating in China  
(for genogroup 1 and Asian clade of genogroup 2). Meanwhile, the North American  
clade was predicted to derive from USA. Secondly, the most recent common ancestor of  
Vietnamese PEDV was predicted to emerge in Vietnam 6-9 years prior to the first PED  
outbreak. After the introduction, the viruses diversified locally to form Vietnamese  
clade and started to diffuse spatial-temporally into different locations.  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Bênh tiêu chảy thành dịch trên lợn (Porcine Epidemic Diarrhea- PED) là  
̣
một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do một loại virus thuộc họ  
Coronaviridae. Về mặt lâm sàng, biểu hiện của bệnh PED rất giống với bệnh  
viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) mặc dù chúng là hai virus hoàn toàn khác  
nhau cùng họ Cornonaviridae. Bệnh gây ra trên lợn ở tất cả các lứa tuổi với triệu  
chứng lâm sàng là nôn và tiêu chảy. Tỷ lệ lây lan và tử vong ở lợn con dưới 5  
̣
ngày tuổi có thể tới 100% bởi tiêu chảy và mất nước nặng. Bênh PED xảy ra  
quanh năm nhưng thường phổ biến hơn vào mùa đông và trên 90% ca bệnh xảy  
ra ở lợn con dưới 7 ngày tuổi. Dịch PED xuất hiện lần đầu tiên ở châu Âu vào  
năm 1971 (Wood, 1977), sau đó bệnh lây lan ra nhiều quốc gia khác ở châu Á  
như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc và Thái Lan.  
Trong thời gian gần đây, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích  
đặc điểm di truyền của các chủng virus gây bệnh PED, so sánh sự khác nhau về  
mặt di truyền, đặc điểm phát sinh loài của các chủng phân lập ở những địa điểm  
khác nhau, từ đó đưa ra các dự đoán, khuyến cáo và biện pháp đối phó hiệu quả  
trước sự biến đổi của virus. Park et al. (2007) đã phân tích sự phát triển di truyền  
của gen S (spike glycoprotein gene) và gen M trên các mẫu virus PED thực địa  
phân lập tại Hàn Quốc và chia các chủng virus thành 3 nhóm G1, G2, G3, (G1 có  
3dưới nhóm: G1-1, G1-2 và G1-3), các chủng đó rất khác biệt với các chủng từ  
Châu Âu. Khi phân tích trình tự gen mã hóa cho màng virus (gen M) từ các mẫu  
phân lập tại Trung Quốc, Chen et al. (2008) đã phát hiện có một nhóm mới  
(genotype) của virus PED đang lưu hành.  
̣
Ở Việt Nam, bênh tiêu chảy thành dịch ở lợn lần đầu tiên được phát hiện  
vào năm 2008, đầu năm 2009 (Do Tien Duy et al., 2011; Nguyễn Tất Toàn và  
cs., 2012). Theo các nghiên cứu đã công bố bệnh tiêu chảy thành dịch xảy ra  
trên lợn mọi lứa tuổi, lần đầu tiên được xác định là do Porcine Epidemic  
Diarrhea Virus (PEDV) tại Việt Nam. Bệnh lan rộng nhanh chóng ở các tỉnh  
miền Đông Nam bộ, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế chăn nuôi heo do làm tăng  
1
   
tỷ lệ bệnh, tỷ lệ chết cao đặc biệt trên lợn con theo mẹ từ 50 - 100%. Cho đến  
nay có rất ít công trình trong nước tiến hành nghiên cứu về loại virus này. Do  
Tien Duy et al. (2011) ở Thái Lan đã phân lập và giải trình một số chủng virus  
PED trên các mẫu được lấy ở miền Nam Việt Nam trong thời gian từ 2009 đến  
2010. Ở miền Bắc, theo báo cáo không chính thức từ các công ty, trang trại,  
dịch tiêu chảy do PEDV đã xảy ra nghiêm trọng từ đầu năm 2010. Việc phòng  
chống bệnh tiêu chảy do PEDV gây ra chủ yếu dựa vào sử dụng vacxin. Trong  
khi các chủng virus thực địa thường xuyên có những biến đổi phức tạp về mặt  
di truyền, do đó việc nắm bắt và cập nhật được các đặc tính phân tử của các  
chủng PEDV đóng vai trò quan trọng, giúp cho việc lựa chọn được vacxin thích  
hợp và hiệu quả phục vụ cho công tác tiêm phòng. Trong khi đó, việc đánh giá  
và phân tích đặc điểm di truyền của các chủng PEDV lưu hành ở Việt Nam còn  
hạn chế, đã gây khó khăn trong việc định hướng sử dụng vacxin trong công tác  
phòng bệnh. Do đó, nghiên cứu về dịch tễ học phân tử, xác định các type virus  
đang lưu hành trong nước cũng như tìm hiểu nguồn gốc phát sinh phân loại,  
biến đổi di truyền của các type virus này là rất cần thiết cho việc phòng chống  
dịch PED cũng như định hướng cho việc nhập khẩu và triển khai sử dụng  
vacxin một cách hiệu quả, đồng thời cũng là một nền tảng quan trọng trong việc  
định hướng sản xuất vacxin trong nước nhằm đạt hiệu quả miễn dịch cao hơn  
cũng như chủ động được nguồn vacxin và tiết kiệm chi phí cho việc nhập khẩu.  
Để hạn chế dịch PED, việc nghiên cứu xác định được các chủng virus  
gây bệnh, đồng thời giải mã, phân tích hệ gen, xác định được nguồn gốc tiến  
hóa và sự biến đổi di truyền của các chủng PEDV là vô cùng quan trọng và là  
công việc nghiên cứu hết sức cần thiết mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn to  
lớn để từ đó góp phần quan trọng trong định hướng chiến lược cho việc sản  
xuất vacxin phòng bệnh trong tương lai.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh PED tại 10 tỉnh/  
thành phố khu vực phía Bắc;  
- Làm rõ được đặc điểm di truyền, đặc điểm dịch tễ học phân tử của các  
genotype PEDV đang lưu hành ở miền Bắc.  
2
 
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
Trang trại nuôi lợn tại 10 tỉnh miền Bắc có lợn mắc tiêu chảy nghi do  
PEDV giai đoạn 2013 - 2015. Các tỉnh/ thành phố thuộc đồng bằng châu thổ sông  
Hồng (Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình và Vĩnh Phúc) và  
Trung du - Miền núi (Hòa Bình, Bắc Giang, Thái Nguyên và Lào Cai).  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
- Đây là một nghiên cứu có hệ thống về PED và PEDV ở Việt Nam.  
- Đã làm rõ đặc điểm dịch tễ học bệnh PED trên địa bàn 10 tỉnh/ thành  
phố của miền Bắc Việt Nam. Trên cơ sở xác định những biểu hiện bệnh lý của  
bệnh, đặc điểm dịch tễ học phân tử của căn bệnh, đã khẳng định sự lưu hành phổ  
biến của PED trong các trang trại chăn nuôi.  
- Nghiên cứu này đã giải mã được 15 trình tự gen S hoàn chỉnh và 8 trình  
tự gen ORF3, so sánh và chứng minh được những chủng PEDV đang lưu hành  
tại thực địa không có cùng nguồn gốc với các chủng vacxin đang sử dụng.  
- Xác định được một số đặc điểm dịch tễ học phân tử, từ đó chứng minh  
được nguồn gốc đa dạng của các chủng PEDV đang lưu hành tại Việt nam.  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
- Luận án đã phân tích và chỉ ra một số đặc điểm dịch tễ học của PED tại  
10 tỉnh/ thành phố thuộc miền Bắc Việt Nam và mức độ lưu hành của bệnh,  
chứng minh được nguồn gốc của các chủng PEDV đang lưu hành tại thực địa.  
- Là tài liệu tham khảo tốt phục vụ cho nghiên cứu về PED và PEDV; là  
tư liệu tham khảo cho giảng dạy của chuyên ngành Thú y và Chăn nuôi-Thú y.  
- Từ kết quả phân tích dịch tễ học phân tử của PEDV đã chỉ rõ mức tương  
đồng trình tự gen giữa những chủng PEDV phân lập từ thực địa và những chủng  
vacxin đang sử dụng, từ đó giúp cho việc hoạch định các biện pháp phòng chống  
bệnh, trong đó có lựa chọn vacxin phòng bệnh phù hợp.  
3
     
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG  
Dịch tiêu chảy cấp ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea, PED) là một bệnh  
truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do một loại virus thuộc giống  
Alphacoronavirus, họ Coronaviridae gây ra. Dịch PED thường xảy ra ở lợn con  
dưới 7 ngày tuổi với tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết có thể lên đến 100%. Dịch PED đã và  
đang gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc  
gia trên thế giới (Laude et al., 1993; Lee, 2015). Dịch PED lần đầu tiên được  
phát hiện ở Anh vào năm 1971, sau đó các ổ dịch liên tục được phát hiện và xảy  
ra phổ biến ở các quốc gia châu Âu khác như Bỉ, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Sỹ,  
và ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan (Chen et al., 2010;  
Chen et al., 2008; Song and Park, 2012; Puranaveja et al., 2009). Ở Việt Nam,  
dịch PED lần đầu tiên được phát hiện vào năm 2008 và từ đó đến nay dịch bệnh  
thường xuyên xảy ra và gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi lợn  
trong cả nước (Do Tien Duy et al., 2011).  
2.2. LỊCH SỬ BỆNH TIÊU CHẢY THÀNH DỊCH Ở LỢN  
Bệnh tiêu chảy thành dịch trên lợn được phát hiện đầu tiên tại nước Anh  
vào năm 1971 (Oldham, 1972). Bệnh xảy ra trên lợn vỗ béo với các biểu hiện  
lâm sàng giống với bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE), chỉ khác một đặc  
điểm quan trọng đó là lợn con đang bú mẹ không mắc bệnh. TGEV và các tác  
nhân gây bệnh đường tiêu hóa khác đã được xác định không phải là nguyên nhân  
gây ra bệnh trên. Sau đó căn bệnh này đã lây lan sang các nước châu Âu và được  
gọi là bệnh “tiêu chảy thành dịch do virus” (Epidemic viral diarrhea - EVD).  
Năm 1976 căn bệnh tiêu chảy giống TGE lại xuất hiện nhưng xảy ra trên tất cả  
lợn ở mọi lứa tuổi, gồm cả lợn con đang trong giai đoạn bú sữa mẹ (Wood,  
1977), khả năng nguyên nhân gây bệnh là TGEV và các tác nhân gây bệnh  
đường tiêu hóa khác cũng đã được loại trừ. Khi đó, tên EVD loại 2 được đưa ra  
để phân biệt với EVD loại 1 là bệnh bùng phát năm 1971 với sự khác nhau đó là  
lợn con đang bú mẹ chỉ mắc EDV loại 2 mà không mắc EDV loại 1.  
4
     
Năm 1978, Coronavirus đã được chứng minh là nguyên nhân gây ra các đợt  
bùng phát EVD loại 2 (Chasey and Cartwright, 1978). Kết quả gây bệnh nghiệm  
thực cho lợn bằng một chủng virus phân lập được (CV777) cho thấy bệnh tích  
đường tiêu hoá biểu hiện điển hình trên cả lợn con và lợn vỗ béo. Rõ ràng là  
Coronavirus này liên quan tới sự bùng phát EVD loại 1 và loại 2, từ đó tên bệnh đã  
được đổi thành “tiêu chảy thành dịch trên lợn” (Porcine Epidemic Diarrhea, PED).  
2.3. TÌNH HÌNH DỊCH PED TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM  
2.3.1. Tình hình dịch PED trên thế giới  
Từ đầu những năm 2000 trở lại đây, những trận dịch bùng phát cấp tính đã  
trở nên hiếm có ở những vùng mà virus trước kia đã từng lan rộng. Hiện nay, các  
ổ dịch PED ít được ghi nhận ở châu Âu và ngày càng có ít nghiên cứu về bệnh  
này. Hơn nữa, bệnh thường được thấy nhất ở lợn choai, lợn trưởng thành và lợn  
mới sinh sản, trong khi lợn con bú mẹ lại ít khi nhiễm bệnh.  
Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, dịch PED lưu hành rộng rãi ở  
châu Âu, gây bệnh ở lợn mọi lứa tuổi. Trong khoảng thời gian từ cuối thập niên  
80 đến thập niên 90, dịch có xu hướng giảm đáng kể, với rất ít ổ dịch rời rạc  
được ghi nhận ở một số nước như Tây Ba Nha, Hungary, Anh và cộng hòa Séc  
(Carvajal et al., 2015). Trong năm 2005- 2006, dịch PED xảy ra nghiêm trọng ở  
Ý, với tỷ lệ chết ở lợn con theo mẹ từ 8,3% đến 11,9% (Martelli et al., 2008).  
Từ năm 2014 đến nay, PED được mô tả xuất hiện trở lại ở một số nước như  
Đức (Hanke et al., 2015), Ý (Boniotti et al., 2016), Bỉ, Pháp (Grasland et al.,  
2014) v.v...  
Hiện nay, PED ngày càng xuất hiện phổ biến ở các quốc gia châu Á, đặc  
biệt PED ngày càng trở nên cấp tính và nghiêm trọng hơn (Song and Park, 2012).  
Ở Trung Quốc, trường hợp nhiễm PEDV đầu tiên được phát hiện năm 1973, sau  
hơn hai thập kỷ sử dụng vaccine vô hoạt nhũ dầu, sự xuất hiện trở lại của PEDV  
tương đối ít. Tuy nhiên đến năm 2010, bệnh đã xuất hiện trở lại và bùng phát  
ngày càng trầm trọng ở các tỉnh có sự phát triển ngành chăn nuôi lợn. Từ tháng 2  
năm 2010 đến tháng 11 năm 2011, tỷ lệ lợn chết từ 90 tới 100% (tương ứng  
50.000 con), chủ yếu là lợn dưới 7 ngày tuổi (Chen et al., 2012). Ở Nhật, dịch  
PED xuất hiện lần đầu tiên năm 1993, gây chết 14.000 con, tỉ lệ chết từ 30 tới  
5
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 128 trang myanh 29500 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn (PED) tại miền Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_mot_so_dac_diem_dich_te_hoc_cua_benh_tieu.pdf
  • pdfDTHTY - TTLA - Nguyen Trung Tien.pdf
  • pdfTTT - Nguyen Trung Tien.pdf