Luận án Nghiên cứu sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển tỉnh Nam Định

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
ĐẶNG THỊ HOA  
NGHIÊN CỨU SỰ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI DÂN  
VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
ĐẶNG THỊ HOA  
NGHIÊN CỨU SỰ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGƢỜI DÂN  
VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH  
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP  
MÃ SỐ: 62 62 01 15  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. QUYỀN ĐÌNH HÀ  
HÀ NỘI, NĂM 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng bảo vệ ở bất kỳ  
học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cám ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2017  
Tác giả luận án  
Đặng Thị Hoa  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận đƣợc  
sự hƣớng dẫn, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng  
nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Quyền Đình Hà - ngƣời  
hƣớng dẫn khoa học đã giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành luận án.  
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới quý thầy cô giáo Bộ môn Phát triển nông thôn, các  
thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý đào tạo, Học viện  
Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian  
học tập và thực hiện luận án.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến UBND tỉnh Nam Định, Sở Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn tỉnh Nam Định, Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Nam Định, Trạm quan trắc khí  
tƣợng thủy văn tỉnh Nam Định, Hội chữ thập đỏ tỉnh Nam Định, Cục thống kê tỉnh Nam  
Định, UBND các huyện Nghĩa Hƣng, Hải Hậu, Giao Thủy, Phòng Nông nghiệp các huyện  
Nghĩa Hƣng, Hải Hậu, Giao Thủy, UBND các xã Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc, Nam Điền, Hải  
Đông, Hải Chính, Hải Triều, Giao Thiện, Giao An, Giao Xuân, TT Quất Lâm, các cán bộ và  
ngƣời dân tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án.  
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các nhà khoa học, thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và  
gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này.  
Xin chân thành cảm ơn.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2017  
Nghiên cứu sinh  
Đặng Thị Hoa  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
ADB  
Asian Development Bank (Ngân hàng phát triển châu Á)  
Biến đổi khí hậu  
BĐKH  
BVTV  
ĐBSH  
ĐBSCL  
GDP  
Bảo vệ thực vật  
Đồng bằng sông Hồng  
Đồng bằng sông Cửu Long  
Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)  
Giá trị gia tăng  
GTGT  
IPCC  
Intergovernmental Panel on Climate Change  
(Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu)  
Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
Tài nguyên và môi trƣờng  
NN&PTNT  
TN&MT  
NTTS  
Nuôi trồng thủy sản  
PRA  
Participatory Rural Appraisal  
(Đánh giá nông thôn có sự tham gia)  
Rapid Rural Appraisal  
RRA  
(Đánh giá nhanh nông thôn)  
SXNN  
TN&MT  
USA  
Sản xuất nông nghiệp  
Tài nguyên và Môi trƣờng  
United States of America (nước Mỹ)  
United States Agency for International Development  
(Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ)  
USAID  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
TT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Đặng Thị Hoa  
Tên Luận án: Nghiên cứu sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp  
của ngƣời dân ven biển tỉnh Nam Định  
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mã số: 62 62 01 15  
* Mục tiêu chung  
Đánh giá sự thích ứng với BĐKH trong SXNN của ngƣời dân ven biển tỉnh Nam  
Định, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao sự thích ứng với BĐKH cho ngƣời dân ven  
biển trong SXNN những năm tới.  
* Mục tiêu cụ thể  
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự thích ứng với BĐKH  
trong SXNN của ngƣời dân ven biển;  
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự thích ứng với  
BĐKH trong SXNN của ngƣời dân ven biển tỉnh Nam Định;  
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thích ứng với BĐKH trong SXNN của  
ngƣời dân ven biển tỉnh Nam Định những năm tới.  
Phƣơng pháp nghiên cứu  
- Phương pháp tiếp cận: tiếp cận theo ngành; tiếp cận theo hộ; tiếp cận có sự tham  
gia; tiếp cận phát triển bền vững.  
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: để khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã  
hội, hiện trạng các biểu hiện về BĐKH, ảnh hƣởng của BĐKH đến SXNN của ngƣời dân  
vùng ven biển tỉnh Nam Định. Số liệu đƣợc thu thập ở các cơ quan nghiên cứu, các cơ  
quan quản lý trong tỉnh Nam Định.  
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại 3 huyện thuộc vùng  
ven biển tỉnh Nam Định (Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hƣng), trong đó các điểm nghiên  
cứu chuyên sâu đƣợc thực hiện tại 10 xã, thị trấn đại diện cho vùng ven biển để điều tra  
số liệu sơ cấp: xã Giao An, Giao Xuân, Giao Thiện, thị trấn Quất Lâm (huyện Giao  
Thủy); xã Hải Đông, Hải Chính, Hải Triều (huyện Hải Hậu); xã Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc,  
Nam Điền (huyện Nghĩa Hƣng).  
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Các số liệu đƣợc thu thập thông qua điều  
tra, phỏng vấn trực tiếp; phƣơng pháp đánh giá có sự tham gia của ngƣời dân (PRA).  
- Phương pháp lấy mẫu: Tổng mẫu điều tra là 609, trong đó: 140 hộ là cán bộ  
và 469 hộ là ngƣời nông dân (126 hộ trồng lúa, 45 hộ chăn nuôi, 85 hộ NTTS nƣớc ngọt, 79  
x
 
hộ NTTS nƣớc mặn lợ, 99 hộ làm muối và 35 hộ làm lâm nghiệp).  
Kết quả chính và kết luận  
i) Các biểu hiện của BĐKH đã thể hiện rất rõ ở vùng ven biển tỉnh Nam Định. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy trong 25 năm qua (từ 1990-2015): nhiệt độ trung bình tăng  
0,60C, độ ẩm giảm trung bình 3,04%, mực nƣớc biển đã dâng lên 2,15 mm/năm, bình  
quân mỗi năm vùng ven biển Nam Định chịu ảnh hƣởng từ 3-4 cơn bão, cƣờng độ bão  
mạnh hơn, xu hƣớng nhiều hơn và muộn hơn những năm về trƣớc, các hiện tƣợng thời  
tiết cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều.  
ii) Biến đổi khí hậu đã ảnh hƣởng rất rõ ràng tới SXNN của ngƣời dân: diện tích  
đất nông nghiệp bị nhiễm mặn tăng, mƣa bão gây thiệt hại lớn đến sản lƣợng và năng suất  
cây trồng/vật nuôi, thiên tai làm hƣ hại cơ sở hạ tầng khu chăn nuôi và trồng trọt của  
ngƣời dân. Thủy sản bị giảm năng suất, chết hàng loạt do thiên tai. Nguồn lợi hải sản suy  
giảm, rạt ra xa bờ... Thiên tai diễn biến phức tạp gây khó khăn cho các hộ SXNN.  
iii) Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy ngƣời dân ven biển Nam Định đã có  
những biện pháp thích ứng với BĐKH trong SXNN: 1- Thay đổi giống cây trồng, vật  
nuôi; 2- Thay đổi kỹ thuật canh tác; 3- Thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; 4- Chuyển  
mục đích sử dụng đất; 5- Chấp nhận tổn thất.  
iv) Xây dựng kế hoạch phòng tránh, thích ứng với BĐKH của ngƣời dân chịu ảnh  
hƣởng mạnh mẽ bởi chính sách của nhà nƣớc, giải pháp phát triển kinh tế xã hội của địa  
phƣơng; điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, công nghệ và khoa học kỹ thuật, nhận thức của  
ngƣời dân có ảnh hƣởng chủ yếu đến việc đƣa giống cây trồng/vật nuôi và kỹ thuật mới vào  
canh tác; chuyển dịch cơ cấu cây trồng/vật nuôi và chuyển mục đích sử dụng đất chịu ảnh  
hƣởng khá lớn bởi vốn, lao động, thị trƣờng, giới tính, kinh nghiệm SXNN của ngƣời dân.  
v) Dựa vào kết quả theo dõi và đánh giá hiệu quả kinh tế của 4 mô hình thích ứng,  
luận án đã chỉ ra đƣợc những mô hình thích ứng đạt hiệu quả kinh tế và cần đƣợc nhân  
rộng, đó là: mô hình thay đổi giống lúa cũ kém chịu mặn, kém chịu úng sang giống lúa  
mới có khả năng chịu mặn, chịu úng tốt hơn (Nhị ƣu 838, Nhị ƣu 69, TH3-3, RVT, QR1,  
QR2, Thiên trƣờng 750...); mô hình chuyển đất bị ngập úng nặng sang nuôi Baba, cá Diêu  
hồng...; mô hình chuyển đất bị nhiễm mặn nặng hoặc đất làm muối kém hiệu quả sang  
nuôi tôm, ngao...; chuyển từ mô hình 2 lúa sang mô hình luân canh 2 lúa kết hợp đậu  
tƣơng, bí xanh; mô hình thay đổi kỹ thuật làm muối từ vôi tro sang bạt nhựa đen.  
vi) Để giảm thiểu thiệt hại do BĐKH gây ra, góp phần nâng cao hiệu quả trong  
SXNN, đồng thời giúp ngƣời dân nâng cao sự thích ứng với BĐKH, cần phải kết hợp các  
giải pháp đồng bộ nhƣ: phát triển cơ sở hạ tầng bảo vệ sản xuất; đƣa khoa học công nghệ  
vào sản xuất; chuyển đổi mục đích sử dụng đất; duy trì và tìm kiếm thị trƣờng tiêu thụ sản  
phẩm; nâng cao nhận thức, tăng cƣờng đào tạo nghề, đẩy mạnh khuyến nông đối với  
ngƣời dân… Ngoài ra, cần phải có sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trung ƣơng, các  
cơ quan khoa học, kỹ thuật, chính quyền địa phƣơng và ngƣời dân để giúp ngƣời dân  
vùng ven biển nâng cao đƣợc sự thích ứng của mình với BĐKH trong SXNN.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Dang Thi Hoa  
Thesis title: Research on adaptation to climate change in the agricultural production of  
coastal residents of Nam Dinh province  
Major: Agricultural Economics  
Code: 62 62 01 15  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture  
Research Objectives  
* Overall objectives:  
Determine adaptation to climate change in agricultural production of coastal  
people in Nam Dinh province, based on that propose solutions to strengthen adaptive  
capacity to climate change of people in study area.  
* Specific objectives:  
- Systematize and clarify theory and reality on adaptation to climate change in  
agricultural production of coastal people;  
- Evaluate status and analyze factors affecting adaptation to climate change in  
agricultural production of coastal people in Nam Dinh province;  
- Propose solutions to strengthen adaptive capacity of coastal people in  
agricultural production in Nam Dinh province.  
Materials and Methods  
- Approach methodology: sectoral approach; household approach; participatory  
approach; sustainable development approach.  
- Secondary data collection: to generalize natural, socioeconomic conditions,  
climate change status, effects of climate change on agricultural production of coastal  
people in Nam Dinh province. Secondary data was collected from research institutions,  
government offices in Nam Dinh province.  
- Study site selection: Study was conducted in 3 coastal districts including Hai  
Hau, Giao Thuy, and Nghia Hung, in which specific study sites are selected in 10  
commune and town. The specific study areas consist of 3 communes and 1 town Giao  
Thuy district (Giao An, Giao Xuan, Giao Thien, and Quat Lam); 3 communes of Hai Hau  
district (Hai Dong, Hai Chinh, Hai Trieu); and 3 communes of Nghia Hung district  
(Nghia Son, Nghia Phuc, Nam Dien).  
- Primary data collection: Primary data was gathered through direct interview; and  
PRA. Total sample size is 609, including 140 officials and 469 farmers (126 rice farmers,  
45 livestock farmers, 85 fresh aquaculture farmers, 79 salt water aquaculture farmers, 99  
xii  
 
salt farmers and 35 forestry households).  
Main findings and conclusions  
i) Climate change signals were clearly showed in coastal zone of Nam Dinh  
province. Study result indicated that in 25 years (1990-2015) average temperature has  
increased 0,60C, humidity decreased averagely 3,04%, sea level rose 2,15 mm/year.  
Annualy, costal area of Nam Dinh province is affected by 3-4 typhoons which have  
stronger intensity, more appearance frequency. In addition, extreme weather events have  
increasingly occurred.  
ii) Climate change has significantly affected agricultural production of farmers,  
specifically salinity area increase, storm damages highly yield and productivity of crop  
and livestock, natural disasters also damage infrasture of crop and husbandary production  
of farmers. Yield of aquaculture production and fish source have decreased. Natural  
disasters happen complicatedly and cause difficulties for farmers in the region.  
iii) Result of the study showed that coastal people in Nam Dinh province have  
adaptive strategies to climate change in agricultural production such as (1) changing  
variety of cultivar and animal; (2) shifting cultivated technique; (3) changing structure of  
crop and animal; (4) conversing land use purpose; and (5) accepting damages.  
iv) Develop plans to prevent, adapt to climate change of farming have strong  
affected by government policies, solutions to social and economic development of  
province; natural condition, infrastructure, science and technology status, awareness of  
local people have primarily affected the introduction of plant varieties/ pets and new  
techniques in farming; plant restructuring/pets and change the purpose of land use have  
strong affected by capital, labor, market, gender, farming experience of people.  
v) Based on economic efficiency determinant of 4 adaptive models, the study  
indicated the effective models that should be widely applied, including: changing paddy  
variety from old variety to salt-resistant and flood-resistant varieties (Nhi Uu 838, Nhi Uu  
69, TH3-3, RVT, QR1, QR2, Thien Truong 750...); conversing flooded areas to aquaculture  
production (turtle feeding, red tilapia, etc.); conversing highly saline area and salt  
production area to shrimp and scallop feeding mô; transfering 2 rice seasons area to  
intercropping model (2 rice season and soybean); changing salt production technique from  
using lime and ash to applying black plastic.  
vi) To reduce damages caused by climate change, contribute to improve efficiency  
in agricultural production, and strengthen adaptive capacity of farmers to climate change,  
there is need for synchronous solutions such as: infrastructure development; applying  
science and technology into agricultural production; conversing land use purpose;  
maintaining and searching market for agricultural products; improving awareness of  
farmers; increasing training on occupation; promoting agricultural extension activities…  
Furthermore, there is need for co-orperation among organizations and institutions at  
different levels, science and tenical institutions, local government and local people to help  
coastal people improve apdaptation to climate change in agricultural production.  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
Biến đổi khí hậu là một hiện tƣợng đã và đang diễn biến trong quá khứ cũng  
nhƣ hiện tại và đƣợc phỏng đoán là có thể biến động nhanh hơn trong tƣơng lai (Lê  
Anh Tuấn, 2011). Theo Dasgupta et al. (2007), Nguyễn Mậu Dũng (2010), Việt  
Nam là một trong 5 quốc gia dễ bị tổn thƣơng nhất trên thế giới do sự biến đổi của  
khí hậu, trong 50 năm qua (1958-2007), nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng  
0,50C – 0,70C, mực nƣớc biển dâng khoảng 20cm.  
Theo nghiên cứu của World Bank (2010), trong những năm gần đây, tác  
động của BĐKH đến môi trƣờng cũng nhƣ kinh tế, xã hội của Việt Nam nói chung  
và SXNN của các vùng ven biển nói riêng là vô cùng to lớn. Các hiện tƣợng thời tiết  
cực đoan gia tăng về cả tính biến động và tính dị thƣờng nhƣ nắng, nóng, rét, bão,  
lũ, mƣa lớn, hạn hán, giông tố, lốc..., đặc biệt là trong những trƣờng hợp liên quan  
đến hoạt động của El-Nino, La-Nina. Xuất hiện các trận mƣa lớn làm nguy cơ lũ lụt  
gia tăng, trong khi đó ở một số khu vực khác vẫn phải chịu hạn hán kéo dài vào mùa  
khô. Trong một vài thập kỷ tới, nhiệt độ trung bình toàn cầu dự kiến sẽ tăng 0,2-  
0,30C mỗi thập kỷ. BĐKH đã làm cho mực nƣớc biển dâng, nhiệt độ và độ mặn thay  
đổi cùng với những thay đổi về dòng chảy, sóng, biên độ thủy triều, xâm nhập  
mặn, xói lở bờ biển… Những biến động diễn ra mạnh mẽ của khí hậu thời tiết đã  
ảnh hƣởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ đời sống của  
ngƣời dân, đặc biệt là đối với những hoạt động canh tác ở vùng ven biển.  
Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2003) thì ở  
Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 0,7oC,  
mực nƣớc biển đã dâng khoảng 0,2 m. Hiện tƣợng El-Nino, La-Nina càng tác động  
mạnh mẽ đến Việt Nam. Biến đổi khí hậu thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt  
là bão, lũ, hạn hán, nƣớc biển dâng ngày càng ác liệt.  
Tìm cách để giảm bớt các tác động tiêu cực của BĐKH là một trong những  
vấn đề hiện nay đang đƣợc Nhà nƣớc, Chính phủ và các bộ ngành địa phƣơng hết  
sức quan tâm. Nghiên cứu của IUCN, SEI và IISD (2003) “Sinh kế và biến đổi khí  
hậu” cho thấy cách tiếp cận tổng hợp trong việc giải quyết sinh kế bền vững với  
BĐKH nhằm làm giảm khả năng bị tổn thƣơng do BĐKH gây ra. Nghiên cứu của  
Selvaraju et al. (2006) về “Thích ứng với sự thay đổi và biến đổi khí hậu trong  
những khu vực bị hạn hán ở Bangladesh” đã sử dụng phƣơng pháp thảo luận nhóm  
1
   
và phỏng vấn sâu để phân tích những thay đổi của khí hậu trong quá khứ, hiện tại  
và dự báo cho tƣơng lai, phân loại các đối tƣợng bị tổn thƣơng trƣớc tác động của  
BĐKH và đề xuất các giải pháp thích ứng với hạn hán trong SXNN ở Bangladesh.  
Bài viết về “Mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu cấp cộng đồng tại vùng trũng  
thấp ở tỉnh Thừa Thiên Huế” của Lê Văn Thăng và cs. (2011) đã đƣa ra một số mô  
hình thích ứng với BĐKH. Nghiên cứu của Đinh Vũ Thanh và Nguyễn Văn Viết  
(2012) về “Tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực nông nghiệp và giải  
pháp ứng phó” cho thấy BĐKH đã có những tác động nhất định đến trồng trọt, lâm  
nghiệp, thủy sản, tài nguyên nƣớc và thủy lợi. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ  
sở của Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013) về “Giải pháp nâng cao khả năng  
thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời dân ven biển huyện  
Giao Thủy, tỉnh Nam Định” đã nghiên cứu sự thích ứng của ngƣời dân ven biển  
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nhƣ vậy, cho đến nay đã có một số nghiên cứu  
liên quan tới BĐKH, tới sự thích ứng với BĐKH cho các vùng khác nhau ở trên  
thế giới và trong nƣớc, tuy nhiên một đề tài nghiên cứu về sự thích ứng với BĐKH  
trong SXNN của ngƣời dân ven biển tỉnh Nam Định thì chƣa có nghiên cứu nào  
thực hiện.  
Nam Định là một trong những tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam  
cũng không nằm ngoài sự biến đổi của khí hậu, thời tiết. Thông thƣờng mỗi năm,  
Nam Định chịu tác động trực tiếp của 2-3 cơn bão và chịu ảnh hƣởng của 3-4 cơn  
bão khác, nƣớc biển dâng do bão khoảng 1,5-2,8m; nhiệt độ trung bình tăng  
khoảng 0,5-0,70C; mực nƣớc biển dâng cao khoảng 20cm; hiện tƣợng xâm nhập  
mặn cực đại với độ muối 10/00 trên sông Đáy là 30km; sông Ninh Cơ là 32km; trên  
sông Hồng (Ba Lạt) là 14km; hiện tƣợng ngọt hóa đã làm giảm lƣợng muối trong  
các đầm nuôi trồng thủy sản (NTTS) từ trên 10% xuống mức 0,02-0,30/00… gây  
thiệt hại đáng kể đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp và  
NTTS của ngƣời dân (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2015).  
Theo Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2010) thì Nam Định là một tỉnh lớn với  
hơn 2 triệu dân nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ. Theo quy hoạch năm 2008 thì  
Nam Định thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Địa hình của Nam Định có thể chia  
thành ba vùng, đó là: vùng đồng bằng thấp trũng, vùng đồng bằng ven biển (huyện  
Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hƣng) có bờ biển dài 72 km và 4 cửa sông (cửa Ba  
Lạt sông Hồng, cửa Đáy sông Đáy, cửa Lạch Giang sông Ninh Cơ và cửa Hà Lạn  
sông Sò) và vùng trung tâm công nghiệp – dịch vụ thành phố Nam Định.  
Hiện nay, SXNN của ngƣời dân ở vùng ven biển tỉnh Nam Định phát triển ở  
mức thấp với những hoạt động chủ yếu nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, quản lý bảo vệ  
2
rừng ngập mặn, NTTS… Hàng năm, những hoạt động này của vùng phải chịu  
nhiều đợt tàn phá do khí hậu, thời tiết thay đổi bất thƣờng mang đến, từ đó dẫn đến  
những biến động về diện tích canh tác, suy giảm sản lƣợng, năng suất, chất  
lƣợng… nên đã làm cho SXNN của ngƣời dân, đặc biệt là những ngƣời dân nghèo,  
ngày càng trở lên khó khăn hơn (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2015b).  
Trƣớc thực trạng đó, vùng ven biển Nam Định đã triển khai áp dụng một số  
mô hình thích ứng nhƣ mô hình đồng quản lý rừng, mô hình cộng đồng NTTS bền  
vững, mô hình sinh thái dựa vào cộng đồng, mô hình nuôi ngao bền vững, mô hình  
du lịch sinh thái cộng đồng, mô hình kinh doanh và đa dạng hóa sinh kế… Mục  
tiêu của các mô hình là nhằm giúp ngƣời dân có thêm hiểu biết về những kỹ năng,  
khai thác nguồn lợi biển một cách hợp lý và bền vững để có cuộc sống ổn định, có  
khả năng chống chọi với những diễn biến của thiên nhiên và xã hội, đồng thời gìn  
giữ đƣợc môi trƣờng biển, không còn những hoạt động đánh bắt hủy diệt hải sản,  
duy trì và phát triển bền vững diện tích rừng ngập mặn… (Sở NN&PTNT tỉnh  
Nam Định, 2015).  
Tuy nhiên, cũng theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định giai đoạn  
2001-2015, hiện nay diện tích canh tác của vùng ven biển Nam Định vẫn bị thu hẹp,  
năng suất và sản lƣợng sản xuất giảm sút, nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt,  
cuộc sống của ngƣời dân không đảm bảo và SXNN phát triển không bền vững. Vấn  
đề đặt ra ở đây là: Biểu hiện của BĐKH ở vùng ven biển Nam Định được thể hiện  
như thế nào? Biến đổi khí hậu ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động SXNN của  
người dân? Trong SXNN, người dân có những hành động gì để thích ứng với diễn  
biến bất thường của khí hậu, thời tiết? Những giải pháp nào giúp người dân giảm  
thiểu thiệt hại do BĐKH gây ra để phát triển SXNN cho gia đình và địa phương?  
Những vấn đề này vẫn chƣa đƣợc đề cập đến trong hầu hết các công trình nghiên  
cứu, do vậy cần có thêm những nghiên cứu trong lĩnh vực này.  
Trƣớc nguy cơ ảnh hƣởng và cảnh báo về BĐKH, Nam Định nói chung và  
vùng ven biển Nam Định nói riêng cần phải có các giải pháp thích ứng với BĐKH  
nhằm ứng phó với hiểm họa này. Vấn đề BĐKH vừa có tính trƣớc mắt, vừa có tính  
lâu dài, phức tạp và liên quan đến nhiều ngành, nhiều khu vực và toàn cầu. Vì thế,  
để thực hiện đƣợc mục tiêu ứng phó và giảm nhẹ BĐKH của tỉnh, việc tìm ra các  
giải pháp thích ứng cho vùng ven biển Nam Định cần đƣợc nghiên cứu, trao đổi.  
Các giải pháp thích ứng với BĐKH có ý nghĩa thiết thực và quan trọng đối  
với sự phát triển SXNN của vùng ven biển Nam Định nói riêng và của tỉnh Nam  
Định nói chung, nó sẽ là tiền đề để bảo vệ cộng đồng nông nghiệp, đặc biệt là các  
đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng (trồng trọt, chăn nuôi, NTTS…) thông qua đảm bảo các  
3
điều kiện sản xuất, cung cấp giống phù hợp, đảm bảo vệ sinh môi trƣờng… đặc  
biệt là ở vùng ven bờ biển.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Đánh giá sự thích ứng với BĐKH trong SXNN của ngƣời dân ven biển tỉnh  
Nam Định, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao thích ứng với BĐKH cho ngƣời  
dân ven biển trong SXNN những năm tới.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự thích ứng với  
BĐKH trong SXNN của ngƣời dân ven biển;  
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự thích ứng  
với BĐKH trong SXNN của ngƣời dân ven biển tỉnh Nam Định;  
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thích ứng với BĐKH trong SXNN  
của ngƣời dân ven biển tỉnh Nam Định những năm tới.  
1.3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu  
Để đạt đƣợc mục tiêu và những nội dung nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu  
của đề tài bao gồm khách thể nghiên cứu và chủ thể nghiên cứu. Khách thể nghiên  
cứu chính là những vấn đề lý luận và thực tiễn về thích ứng với BĐKH trong  
SXNN của ngƣời dân (từng hộ dân) ven biển tỉnh Nam Định; các điều kiện tự  
nhiên – kinh tế - xã hội, các tác nhân có liên quan đến sự thích ứng với BĐKH  
trong SXNN của từng ngƣời dân địa phƣơng. Chủ thể nghiên cứu của luận án là  
các hộ nông dân đang sinh sống ở vùng ven biển có hoạt động sản xuất nông  
nghiệp: trồng trọt, chăn nuôi, NTTS, diêm nghiệp và lâm nghiệp.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Về không gian:  
+ Đề tài nghiên cứu SXNN ở Việt Nam theo nghĩa rộng, bao gồm: trồng  
trọt, chăn nuôi, NTTS, diêm nghiệp, lâm nghiệp và chỉ trong lĩnh vực sản xuất,  
không nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kỹ thuật và thị trƣờng tiêu thụ sản  
phẩm nông nghiệp.  
+ Đề tài nghiên cứu trên phạm vi các huyện vùng ven biển tỉnh Nam Định,  
trong đó tập trung nghiên cứu sâu tại các xã ven biển có SXNN chịu tác động trực  
tiếp của BĐKH. Các xã đƣợc khảo sát chuyên sâu đó là: xã Giao Xuân, Giao An,  
Giao Thiện, TT Quất Lâm (huyện Giao Thủy); xã Hải Đông, Hải Chính, Hải Triều  
(huyện Hải Hậu); xã Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc, Nam Điền (huyện Nghĩa Hƣng).  
4
   
- Về thời gian: (1) Các thông tin phục vụ cho nghiên cứu này đƣợc thu thập  
từ năm 2015 trở về trƣớc; (2) Các giải pháp đề xuất có thể áp dụng cho giai đoạn  
2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.  
- Về nội dung: (1) Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các  
biểu hiện của BĐKH ở vùng ven biển tỉnh Nam Định; (2) Nghiên cứu sự ảnh  
hƣởng của BĐKH đến SXNN của ngƣời dân ven biển tỉnh Nam Định; (3) Đề tài  
tập trung nghiên cứu và phân tích sâu các biện pháp thích ứng với BĐKH trong  
SXNN đang đƣợc ngƣời dân áp dụng tại địa phƣơng; (4) Phân tích các yếu tố ảnh  
hƣởng đến sự thích ứng với BĐKH trong SXNN của ngƣời dân ven biển Nam Định.  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN  
- Luận án đã chỉ ra đƣợc những biểu hiện của BĐKH (bão, xâm nhập mặn,  
nhiệt độ, lƣợng mƣa, số giờ nắng, độ ẩm, hạn hán, nắng nóng và rét thay đổi bất  
thƣờng....) và ảnh hƣởng của BĐKH đến SXNN ở vùng ven biển Nam Định.  
- Luận án đã chỉ ra đƣợc các biện pháp thích ứng ngƣời dân ven biển Nam  
Định đã và đang áp dụng trong SXNN (thay đổi giống cây trồng/vật nuôi, thay đổi  
kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng/vật nuôi, chuyển mục đích sử dụng  
đất, nâng cấp/gia cố khu nuôi trồng, chấp nhận tổn thất...) và đề xuất đƣợc các giải  
pháp nâng cao sự thích ứng với BĐKH cho ngƣời dân trong thời gian tới (phát  
triển cơ sở hạ tầng, chuyển mục đích sử dụng đất, lồng ghép SXNN với các kế  
hoạch phát triển khác của vùng ven biển tỉnh Nam Định...).  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN  
- Luận án đã góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận, cơ sở  
thực tiễn và khung lý thuyết, khung phân tích phù hợp về sự thích ứng với BĐKH  
trong SXNN của ngƣời dân ven biển.  
- Luận án đã làm rõ đƣợc thực trạng và các yếu tố ảnh hƣởng tới sự thích  
ứng với BĐKH trong SXNN theo các nhóm hộ giàu, trung bình, nghèo ở từng  
ngành sản xuất: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, nghề muối, đồng thời  
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự thích ứng với BĐKH trong SXNN cho  
ngƣời dân vùng ven biển Nam Định.  
- Luận án làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý xây dựng phƣơng án ứng  
phó với BĐKH của tỉnh Nam Định giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn 2030. Từ đó,  
hoạch định chính sách hỗ trợ ngƣời dân SXNN ở vùng ven biển từ tổ chức thực hiện  
đến tiêu thụ sản phẩm nông sản và chiến lƣợc phát triển SXNN trong thời gian tới.  
5
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 243 trang myanh 19800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển tỉnh Nam Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_su_thich_ung_voi_bien_doi_khi_hau_trong_s.pdf
  • pdfKTNN - TTLA - Dang Thi Hoa.pdf
  • pdfTTT - Dang Thi Hoa.pdf