Luận văn Nghiên cứu chế tạo đầu hàn ma sát khuấy để hàn giáp mối hợp kim nhôm A5052

i
MỤC LỤC  
 
ii  
iii  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan các kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn do tôi nghiên  
cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của tập thể cán bộ hướng dẫn, không có sự sao  
chép kết quả của người khác. Ngoài các số liệu, bảng biểu, đồ thị ....đã được trích dẫn  
trong các tài liệu tham khảo, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng  
được công bố trong các công trình nào khác.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.  
Nam Định, ngày tháng năm 2021  
Người cam đoan  
Vũ Trọng Nghĩa  
 
iv  
LỜI CẢM ƠN  
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của thầy TS.  
Nguyễn Thanh Tú và thầy TS. Vũ Văn Ba, Các Thầy cô trong Khoa Cơ khí, trường  
Đại học SPKT Nam Định; Các bạn đồng nghiệp tại trường Cao đẳng Cơ điện xây dựng  
Việt Xô đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Nghiên cứu chế tạo  
đầu hàn ma sát khuấy để hàn giáp mối hợp kim nhôm A5052”. Tác giả cũng xin  
trân trọng cảm ơn tất cả ban lãnh đạo Trường Đại học SPKT Nam Định và Trường Cao  
đẳng Cơ Điện Xây dựng Việt Xô đã tạo điều kiện cơ sở vật chất để tác giả thực hiện  
các thí nghiệm nhằm hoàn thành luận văn này.  
Do kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi  
rất mong nhận được ý kiến nhận xét, góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để  
luận văn của tôi được hoàn thiện hơn./.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Nam Định, ngày  
tháng  
năm 2021  
Học viên  
Vũ Trọng Nghĩa  
 
v
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
STT  
Ký hiệu/ viết tắt  
Ý nghĩa  
Quá trình hàn hồ quang bằng điện cực nóng  
chảy trong môi trường khí bảo vệ  
Quá trình hàn hồ quang bằng điện cực không  
nóng chảy trong môi trường khí bảo vệ  
Quá trình hàn sát khuấy  
Hiệp hội hàn Mỹ  
1
MIG/MAG  
TIG/GTAW  
2
3
FSW  
AWS  
SZ  
4
5
Vùng khuấy  
6
HAZ  
TMAZ  
Q
Vùng ảnh hưởng nhiệt  
Vùng ảnh hưởng cơ nhiệt  
Nhiệt ma sát  
7
8
9
Hệ số ma sát  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
N
Tốc độ quay của dụng cụ  
Lực dọc trục  
F’  
K
Hệ số công cụ  
F
Tốc độ hàn ma sát khuấy  
Chiều sâu khuấy  
Z
T
Thời gian dừng ban đầu  
Nhiệt tạo ra bởi đầu khuấy  
Nhiệt tạo ra bởi vai tì đầu khuấy  
Mô men  
Q1  
Q2  
Moment  
Vhan  
v/ph  
TWI  
FSW Tool  
Vận tốc hàn  
Vòng/phút  
Học Viện hàn của Vương Quốc Anh  
Đầu hàn ma sát khuấy  
 
vi  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
vii  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
 
viii  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ  
hàn được phát triển mạnh với sự ra đời của hàng loạt các phương pháp hàn khác  
nhau. Tuy nhiên vấn đề con người quan tâm là công nghệ phát triển phải gắn liền  
với các vấn đề như năng lượng, môi trường, vật liệu … và tiến tới hoàn thiện về  
nhiều mặt. Do đó tất cả các ngành cần nghiên cứu đổi mới công nghệ nhằm hạn chế  
tối đa mức năng lượng tiêu thụ, lượng khí thải khi sản xuất, vật liệu bền, nhẹ, đảm  
bảo tính công nghệ, phạm vi sử dụng ngày càng rộng hơn.  
Một số các quá trình hàn nóng chảy thông dụng như TIG, MIG/MAG, hàn tự  
động dưới lớp thuốc …chỉ phần nào đáp ứng được các yêu cầu trên. Hàn ma sát  
khuấy – Friction Stir Welding (FSW) là một lĩnh vực rất mới đang dần có những  
bước tiến trong thập kỷ qua, là một công nghệ hàn thân thiện với môi trường, hiệu  
quả năng lượng do không có quá trình nóng chảy không tạo khí độc khi hàn, không  
phát tia hồ quang và năng lượng bức xạ. Ngoài ra, FSW khắc phục được rất nhiều  
khó khăn mà những biện pháp hàn truyền thống mắc phải, không cần dùng kim loại  
phụ để điền đầy mối hàn, hầu như không biến dạng và không có nứt kết tinh.  
Nhôm và hợp kim của nó là một trong những vật liệu khó hàn khi hàn nóng  
chảy, tuy nhiên nó có khả năng thích nghi tốt khi hàn FSW. Xét về mặt ưu điểm nó  
là vật liệu nhẹ nên ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp hàng  
không, vận tải, đóng tàu và các thiết bị quân sự và dân dụng.  
Cho đến nay, ở trong nước việc nghiên cứu chưa được cập nhật đầy đủ các  
thông tin về công nghệ hàn FSW; cũng như có ít đề tài nghiên cứu ứng dụng công  
nghệ hàn FSW vào quá trình sản xuất thực tế, mới chỉ dừng ở nghiên cứu thử  
nghiệm trong phòng thí nghiệm. Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu này sẽ tập trung  
phân tích, nghiên cứu và hệ thống hóa các kiến thức công nghệ hàn FSW và chế tạo  
đầu hàn FSW ứng dụng trong hàn nhôm A5052 nhằm làm sáng tỏ kiến thức lý  
thuyết và các kiến thức thực nghiệm về công nghệ hàn FSW trong phạm vi đề tài  
nghiên cứu này; các kết quả đạt được sẽ làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo để  
ứng dụng công nghệ hàn này vào sản xuất.  
   
2
Tên của đề tài: “Nghiên cứu chế tạo đầu hàn ma sát khuấy để hàn giáp mối  
hợp kim nhôm A5052”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
- Nghiên cứu công nghệ, thiết bị, vật liệu hàn ma sát khuấythông số công nghệ của  
quá trình hàn khi hàn hợp kim nhôm;  
- Nghiên cứu chế tạo đầu hàn ma sát khuấy để hàn giáp mối hợp kim nhôm A5052;  
- Hàn thí nghiệm để đánh giá chất lượng đầu hàn và chất lượng mối hàn ma sát  
khuấy hợp kim nhôm A5052;  
- Xây dựng bộ thông số công nghệ hàn ma sát khuấy khi hàn hợp kim nhôm.  
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng: Công nghệ hàn ma sát khuấy nhôm và hợp kim nhôm; đặc điểm  
công nghệ đầu hàn ma sát khuấy;  
Phạm vi nghiên cứu:  
- Nghiên cứu cơ sở lý thiết về công nghệ, thiết bị, vật liệu hàn ma sát khuấy khi hàn  
hợp kim nhôm;  
- Nghiên cứu chế tạo đầu hàn ma sát khuấy để hàn giáp mối hợp kim nhôm A5052;  
4. Các phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu lý thuyết:  
Tìm hiểu về các công trình đã được công bố, tổng hợp và phân tích các tài  
liệu trước đó về phương pháp này, từ đó nắm vững được quá trình hàn.  
Đọc tài liệu về các vấn đề liên quan đến hàn ma sát khuấy, nhiệt hàn ma sát,  
đặc tính vật liệu nhôm…  
Nghiên cứu thực nghiệm:  
Sử dụng máy CNC để gia công đầu hàn ma sát khuấy,  
Hàn thử nghiệm hàn nhôm A5052 trên máy phay vạn năng 6P82 - 7,5 KW  
Đánh giá chất lượng liên kết hàn  
Tổng hợp kết quả, đánh giá chất lượng đầu khuấy, xác định được bộ thông số  
công nghệ hàn hợp lý nhất khi hàn giáp mối hợp kim nhôm A5052 có chiều dày 5  
mm đảm bảo chất lượng mối hàn  
     
3
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ HÀN MA SÁT KHUẤY  
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước  
Hàn ma sát khuấy được phát minh và thực nghiệm bởi John Wayne và các  
đồng sự vào năm 1991 bởi học Viện hàn của Vương Quốc Anh(The Welding  
Institude TWI)  
Kể từ khi TWI phát minh ra vào năm 1991, hàn ma sát khuấy (Friction Stir  
Welding - FSW) đã trở thành một lĩnh vực đóng góp lớn cho ngành hàng không,  
đường sắt và đóng tàu đặc biệt là trong việc chế tạo các kết cấu hợp kim nhôm. Quá  
trình sử dụng một đầu khuấy ít bị ăn mòn để tạo ra sức nóng ma sát trong phôi.  
Trên thế giới, có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình sau [2]:  
Năm 1998, Russell và Shercliff cũng đã dùng mô hình phân tích dựa trên  
phương trình tạo nhiệt của mình để dự đoán và xấp xỉ nhiệt độ tính toán. Dòng nhiệt  
qua dụng cụ được xác định là khoảng 17% tổng năng lượng hàn.  
Năm 2003, khi nghiên cứu mô hình số, Schmidt và Hayyel đã tính toán năng  
lượng sinh công vào dụng cụ bởi việc giảm lượng nhiệt vào dụng cụ và việc giảm  
lượng nhiệt vào phôi và khẳng định rằng 25% năng lượng cơ học cần thiết bởi tốc  
độ quay của trục chính sẽ đi vào dụng cụ, còn lại 75% tập trung vào phôi tại các  
mối hàn. Cùng với nghiên cứu trên hai ông cũng đã sử dụng mô hình số từ nguồn  
nhiệt do ma sát và nguồn nhiệt do biến dạng dẻo để tính nguồn nhiệt vào, trong đó  
10% năng lượng sẽ đi vào dụng cụ, phần lớn lượng nhiệt vào vai dụng cụ sẽ tương  
ứng với kích thước đường kính vai. Ngoài ra, Shi cũng đã tính toán nguồn nhiệt vào  
dụng cụ là khoảng 8% tổng năng lượng cơ học trong mô hình số của mình nhưng  
sau đó ông đã điều chỉnh cho đến khi tương đương với kết quả thực nghiệm.  
Một nghiên cứu khác của Langerman và Kvalvik đã dùng nguồn nhiệt hai  
chiều để xác định dòng vật liệu xung quanh đầu khuấy và dự đoán sự phân bố ứng  
suất dư trong phôi sau khi hàn. Nguồn nhiệt sinh ra trong khi hàn có quan hệ tuyến  
tính với đường kính vai của dụng cụ.  
Song và Kovacevic đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của tốc độ dụng cụ đến  
moment xoắn khi hàn bằng cách thực nghiệm thay đổi với nhiều tốc độ quay và tốc  
độ ăn dao của dụng cụ. Tang đã thay đổi tốc độ dụng cụ và chiều sâu dụng cụ khi  
   
4
tăng tốc độ xoay dụng cụ thì tăng nhiệt vào. Tất cả nghiên cứu trên nhằm nêu lên sự  
thay đổi nhiệt độ vùng hàn và thông số hàn nhưng không dự đoán chất lượng đường  
hàn.  
Midling và Rorvik đã tính toán lượng nhiệt và dựa vào chiều rộng HAZ. Họ  
đã thay đổi số vòng quay dụng cụ, tốc độ ăn dao,lực tác dụng vào dụng cụ và chứng  
minh lượng nhiệt vào (Heat input) giảm khi chiều sâu và số vòng quay của dụng cụ  
giảm, lượng gia nhiệt tăng khi giảm tốc độ hàn (Vh). Một số tác giả đã kết hợp việc  
đo nhiệt độ (bằng Thermocouples-TC) vùng hàn và vùng HAZ. Gould và Feng quan  
sát khi thay đổi hai thông số hàn. Frigaard quan sát ở ba tốc độ đi xuống của dụng  
cụ. Song nghiên cứu với ba tốc độ quay dụng cụ. Cả ba tác giả trên đã cho thấy một  
mối liên hệ mật thiết giữa nhiệt độ lớn nhất và chiều rộng vùng HAZ.  
Linder đã chứng minh những hạn chế của phương pháp đo nhiệt bằng  
Thermocouples. Trước hết là độ chênh lệnh nhiệt độ trong FSW là thường rất phức  
tạp, vật liệu biến dạng dẻo rất lớn nên kết quả đo khó chính xác và việc xác định  
vùng HAZ cần rất nhiều thời gian và công sức (mẫu thử nghiệm phải đánh bóng và  
đánh dấu kĩ lưỡng để tiện cho việc đo đạc)  
Zahedul và KhandKar đã tính toán moment xoắn của quá trình hàn, kết quả  
là nó không đổi với mọi thông số. Ngoài ra Schmidt và Leinart đã đo moment xoắn  
từ thực nghiệm và so sánh với kết quả tính toán, họ cũng khẳng định rằng moment  
xoắn không thay đổi với mọi thông số hàn.  
Một số tác giả đã chứng minh rằng năng lượng hàn là một hàm của các thông  
số hàn. Colegrove đã trình bày năng lượng hàn của mình có liên quan đến tốc độ  
hàn nhưng bỏ qua tốc độ quay dụng cụ. Ngược lại, tốc độ quay dụng cụ đã được  
chứng minh là có ảnh hưởng đáng kể đến lượng nhiệt vào bởi một số thực nghiệm  
có giá trị.  
Một phương pháp xác định lượng nhiệt vào nữa là bằng cách giảm số lượng  
những thông số và đã kết hợp tốc độ dụng cụ với tốc độ đi xuống với tên gọi là  
bước hàn (xác định bước tiến trên mỗi vòng quay dụng cụ). Họ chỉ nghiên cứu sơ  
bộ mối liên hệ giữa năng lượng hàn với bước hàn. Reynolds và Tang đã kiểm tra sự  
ảnh hưởng của bước hàn đến năng lượng hàn một cách rõ ràng hơn và cho thấy rằng  
5
bước hàn không thể là một thông số để xác định năng lượng hàn một cách chính  
xác. Họ đã giữ tốc độ ăn dao và chiều sâu đầu khuấy không đổi trong khi đó thay  
đổi tốc độ quay dụng cụ để xác định lực hàn và cả lượng nhiệt vào.  
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước  
Công nghệ hàn ma sát khuấy ở Việt Nam vẫn còn đang mới, đặc biệt tại các  
trung tâm nghiên cứu cũng như các trường đại học, cao đẳng, phương pháp này mới  
chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu khái niệm. Mặc dù đã có một số các nghiên cứu  
nhỏ, chủ yếu dưới dạng các bài báo nhưng chưa được biết đến rộng rãi. Đặc biệt, tại  
Việt Nam hầu như chưa có một cơ sở nào đưa phương pháp hàn này vào sản xuất.  
Trong đó có một số nghiên cứu điển hình về hàn ma sát khuấy như sau:  
Tạp chí khoa học và công nghệ thủy sản của tác giả Dương Đình Hảo, Trần  
Hưng Trà, tại trường Đại học Nha Trang nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thông số  
hàn đến sự phân bố nhiệt độ và cấu trúc mối hàn ma sát khuấy tấm hợp kim nhôm  
AA 7075 [5]. Bài báo đã khẳng định sự ảnh hưởng của tỉ số /v = 4-10 vòng/mm  
thì mối hàn đạt chất lượng mà mối hàn đạt biến dạng dẻo cao nhất lần lượt là 76%  
và 68% so với vật liệu nền. Trong tất cả các chế độ cho thấy, tất cả các mẫu thử kéo  
đều có vị trí phá hủy nằm ngoài vùng mối hàn, nơi có độ cứng thấp nhất. Và khi tỉ  
số /v tăng thì giới hạn bền kéo cũng tăng theo, tuy nhiên độ biến dạng giảm  
xuống.  
Báo cáo tại Hội nghị Khoa học và công nghệ toàn quốc về cơ khí - động lực  
2016, các tác giả Đỗ Thanh Tùng , Nguyễn Thúc Hà , Lê Đăng Thắng, Trần Văn  
Châu Đại học bách khoa Hà Nội [4] đã nghiên cứu chế tạo đầu hàn ma sát khuấy  
đối với hợp kim nhôm. Vật liệu đầu khuấy được lựa chọn là thép C45, tôi cải thiện  
và tôi cao tần đạt độ cứng cần thiết và ứng dụng vào hàn ma sát khuấy nhôm A5052  
dày 6mm. Nhưng đối với đầu hàn là thép C45 sau tôi để hàn khuấy hợp kim nhôm  
A5052 xảy ra hiện tượng mòn đầu hàn khi hàn với đường hàn dài và liên tục, do  
thép C45 sau tôi chỉ chịu được độ bền mòn ở giới hạn nhất định, kh nhiệt độ tăng  
lên khi hàn khuấy do ma sát làm cho độ bền mòn của đầu khuấy thép C45 tôi giảm  
nhanh.  
 
6
Nhóm nghiên cứu Mai Đăng Tuấn, Lê Bảo Phụng, TS. Lưu Phương Minh,  
TS. Trần Thiên Phúc trường ĐHBK TPHCM tại hội nghị khoa học công nghệ năm  
2012 đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng mối hàn ma sát  
khuấy trên tấm nhôm phẳng. Bài báo đã trình bày một phương pháp lựa chọn chế độ  
công nghệ cho hàn ma sát khuấy mối hàn giáp mối trên nền vật liệu hợp kim nhôm  
1050.  
Hay gần đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sỹ của Vũ Thị Thanh Ga nghiên  
cứu về công nghệ hàn ma sát khuấy trên nhôm A1100.  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1  
Trên cơ sở tìm hiểu tổng quan về nghiên cứu công nghệ hàn ma sát khuấy  
trong và ngoài nước tác giả nhận thấy các nghiên cứu đó tập trung chủ yếu vào các  
thông số của quy trình hàn nhôm và hợp kim nhôm, đồng thời cũng tìm ra và nghiên  
cứu ban đầu về một số loại đầu khuấy sử dụng thép C45 sau tôi. Từ đó, tác giả đã  
xác định được hướng nghiên cứu và mục tiêu của đề tài của luận văn, tập trung  
nghiên cứu chế tạo đầu khuấy và hàn giáp mối hợp kim nhôm để tìm ra các thông số  
phù hợp của đầu hàn và chế độ hàn đối với vật liệu nhôm hợp kim A5052.  
 
7
Chương 2. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG NGHỆ HÀN MA SÁT  
KHUẤY  
2.1. Tổng quan về công nghệ hàn ma sát khuấy  
2.1.1. Khái niệm  
Hàn ma sát khuấy là quá trình sử dụng đầu khuấy quay ở tốc độ nhất định,  
tạo ra nhiệt ma sát trong phôi. Bằng cách tác động của đầu khuấy trên một đường  
định trước trên phôi hàn, kim loại cơ bản nóng lên làm chúng chảy dẻo, khuếch tán  
vào nhau tao ra đường hàn sau khi đầu khuấy đi qua. [1]  
2.1.2. Nguyên lý  
Hệ thống hàn ma sát khuấy được thể hiện trên hình 1.1 [1]  
Hình 2.1. Nguyên lý hàn ma sát khuấy  
Bằng cách giữ cho đầu hàn xoay và di chuyển dọc theo đường hàn để thực  
hiện quá trình hàn, vật liệu mềm ra khuấy trộn với nhau tạo thành một mối hàn mà  
không nóng chảy. Những mối hàn này yêu cầu năng lượng đầu vào thấp, không cần  
sử dụng vật liệu phụ và hầu như không biến dạng.  
Phương pháp này ban đầu được ứng dụng cho vật liệu kim loại màu như  
nhôm, bằng cách sử dụng vật liệu đầu hàn thích hợp, sau đó đã được mở rộng đến  
các vật liệu có nhiệt độ nóng chảy cao hơn như thép, hợp kim titan và đồng. Từ  
         
8
quan niệm của mình vào năm 1991, TWI đã có đáng kể những tiến bộ trong công  
nghệ hàn như việc tìm ra vật liệu chế tạo đầu khuấy và chế tạo các loại đầu khuấy  
có hình dánh phức tạp, hiệu qua hơn phù hợp vói các kim loại được hàn, đồng thời  
quá trình hàn cũng được dần tự động hóa và kiểm soát tốt hơn nhờ công nghệ số  
phát triển.  
2.1.3. Khả năng ứng dụng  
Lĩnh vực hàng hải: Người ta tin rằng việc áp dụng thương mại đầu tiên của  
FSW là sự kết hợp của ép đùn hợp kim 6xxx để sử dụng trong các nhà máy chế tạo  
khoang đóng băng cá cho tàu cá. Đã có rất nhiều ứng dụng của quá trình gia công  
nhôm đúc 6xxx để kết hợp trong vách ngăn và sàn tàu trong các loại tàu nhôm tốc  
độ cao khác nhau và trong các tàu du lịch bằng thép lớn hiện nay thường có cấu trúc  
siêu nhẹ. Trong các ứng dụng như vậy, các tấm dùng hàn FSW rất phẳng do sự biến  
dạng thấp, chúng được cắt và hàn thành các tấm lớn hơn, mà trước đây thường là do  
hàn MIG. Máy khuấy bằng ma sát đã được sử dụng rộng rãi trong các thân nhôm  
của các tàu du lịch như 'Seven Seas Navigator' có chứa nhiều mối hàn ma sát khuấy,  
chủ yếu là các lớp ép đùn 6xxx. Tàu nhôm lớn nhất thế giới, phà 'Ogasawara' của  
Nhật đã ra mắt vào năm 2004, sử dụng rộng rãi FSW trong cấu trúc thượng tầng.  
Hình 2.2. Tàu nhôm lớn nhất thế giới của Nhật bản  
Lĩnh vực hàng không, vũ trụ: Boeing ở Mỹ là một trong số những công ty  
đầu tiên chế tạo thùng nhiên liệu tên lửa được sử dụng trong không gian của mình  
   
9
bằng FSW (hình 2.3). Bằng cách thay đổi từ phương pháp hàn TIG thông thường  
sang hàn FSW, công ty này đã giảm được 99% chi phí hàn – một điều đáng kinh  
ngạc. Rõ ràng, quá trình này có khả năng tuyệt vời và do đó nó được phát triển  
nhanh chóng, cải thiện các công cụ và tìm kiếm các vật liệu mới trong các ứng dụng  
của nó.  
Hình 2.3. Thùng nhiên liệu tên lửa chế tạo bằng FSW  
Các nhà sản xuất (Boeing) cũng đã báo cáo hầu như không có khuyết tật hàn  
và hầu như tất cả các nhà sản xuất khung máy bay lớn đều đang điều tra việc sử  
dụng FSW (cùng với các quy trình hàn khác như hàn laser) để thay thế cho nhiều  
đinh tán trong cấu trúc hiện tại. Máy bay đầu tiên sử dụng rộng rãi FSW trong  
khung máy bay, máy bay phản lực kinh doanh Eclipse 500, hơn 7300 ốc vít (khoảng  
60% tổng số) được thay thế bởi 263 mối hàn ma sát khuấy.  
Lĩnh vực đường sắt:  
Các loại xe lửa bằng nhôm  
tốc độ cao như Shinkansen  
Nhật Bản thường được chế  
tạo từ sự ép đùn hai lớp phức  
hợp trong các hợp kim 6xxx.  
Vì mối hàn này dài có thể lên  
đến 25m và thẳng, FSW là  
một quá trình lý tưởng, và  
biến dạng rất thấp được coi  
là một lợi ích lớn (hình 2.4)  
Hình 2.4. Các loại tàu tại Nhật bản được chế tạo bằng FSW  
   
10  
Lĩnh vực sản xuất ô tô: Có rất ít các mối hàn thẳng - dài trong xe ô tô, do  
đó việc áp dụng FSW chủ yếu dành cho các bộ phận như bộ phận treo, bánh xe, linh  
kiện chỗ ngồi, hộp giảm xóc ... ở đó một số công ty hàng đầu đã sử dụng quá trình  
sản xuất. Nhu cầu của ngành ô tô đã thúc đẩy sự phát triển của robot tự hành, để đối  
phó với những hình dạng phức, ví dụ trên chiếc xe thể thao Mazda Rx-8, nơi nó  
được sử dụng trên nắp đậy bằng nhôm và cửa sau. Hàn ma sát khuấy cũng đang  
được phát triển cho các xe bọc thép nhẹ với vật liệu có độ dày khoảng 25-40mm.  
2.2. Công nghệ hàn ma sát khuấy nhôm và hợp kim nhôm  
2.2.1. Đặc điểm công nghệ hàn ma sát khuấy nhôm  
Lớp oxit ban đầu trên các bề mặt tấm trong quá trình hàn ma sát (FSW) chỉ  
như một mô hình dây chằng yếu trên mặt cắt ngang trong khi với các phương pháp  
hàn nóng chảy, nó là vật cản rất lớn. Khi các lớp oxit còn sót lại thường ảnh hưởng  
bất lợi đến các tính chất cơ học trong mối hàn.  
Mối Hàn FSW thường bao gồm bốn vùng, khác với mối hàn "thông thường" chỉ  
gồm ba vùng (hình 2.5)  
Hình 2.5. Các vùng mối hàn ma sát khuấy  
Các vùng khác nhau như trong hình 2.5. a) Kim loại cơ bản không bị ảnh  
hưởng nhiệt; b) Vùng ảnh hưởng nhiệt (HAZ); c) Vùng ảnh hưởng cơ nhiệt  
(TMAZ) và (d) vùng khuấy bằng ma sát (FSP). Sự hình thành các vùng này bị ảnh  
hưởng bởi sự chuyển động của dòng chảy vật liệu dưới tác động của công cụ không  
     
11  
tiêu hao. Các chuyển động dòng chảy chịu ảnh hưởng lớn bởi các thông số hình học  
của công cụ FSW và các thông số quá trình hàn [8,10].  
Vùng trung tâm mối hàn (nugget - SZ): Vùng này kim loại kết tinh lại  
hoàn toàn, đôi khi còn gọi là vùng khuấy để chỉ vùng mà trước đó dụng cụ đã chiếm  
lĩnh, có cấu trúc dạng hạt mịn, đẳng hướng do sự biến dạng dẻo mãnh liệt và nhiệt  
sinh ra do quá trình ma sát giữa vai dụng cụ và bề mặt phôi [2]  
Vùng ảnh hưởng cơ nhiệt (TMAZ): Vùng này đã có sự biến dạng dẻo vật  
liệu mà chưa có sự kết tinh lại, nhiệt độ trong quá trình hàn cũng có ảnh hưởng đến  
vật liệu, ở đây có ranh giới rõ rệt giữa vùng kết tinh lại và vùng biến dạng [2]  
Vùng ảnh hưởng nhiệt (HAZ): Nằm gần trung tâm mối hàn, vật liệu đã trải  
qua chu trình nhiệt nên bị thay đổi cấu trúc mạng tinh thể và đặc tính cơ học đặc  
biệt là độ cứng, tuy nhiên trong vùng này chưa có sự biến dạng dẻo xảy ra [2]  
Vùng kim loại cơ bản (Base metal): Là vùng nằm xa tâm mối hàn nhất, tại  
vùng này có nhiệt độ thấp nên kim loại chưa có sự thay đổi cấu trúc mạng tinh thể  
và cũng không có biến dạng dẻo xảy ra.  
* Ưu nhược, điểm khi hàn FSW nhôm [3]  
- Ưu điểm:  
+ Là một quá trình hàn ở trạng thái rắn nên nó được áp dụng cho tất cả các  
hợp kim nhôm mà lại tránh được các vấn đề nứt nóng, rỗ khí, mất mát phần tử, vv  
phổ biến cho quá trình hàn nhiệt nhôm;  
+ Quá trình hàn như một quá trình cơ học, ít có sự can thiệp thủ công nên nó  
ít phụ thuộc vào tay nghề của người thợ hàn;  
+ Không cần sử dụng khí bảo vệ và kim loại phụ;  
+ Giảm thiểu sự co ngót kim loại so với hàn nóng chảy khi đông đặc và làm  
nguội, do đó giảm đáng kể biến dạng khi hàn;  
+ Linh hoạt trong việc có thể hàn nối cùng lúc với một, hai, ba chi tiết và có  
thể hàn ở mọi vị trí khác nhau;  
+ Đặc tính cơ học tuyệt vời khi so sánh với các phương pháp hàn khác;  
+ Thân thiện với môi trường: không có tia UV hoặc các mối nguy hại về bức  
xạ điện từ khi không có hồ quang; quy trình này không gây tiếng ồn hơn máy phay  
12  
có công suất tương tự, và không tạo ra khói và các chất ô nhiễm khác;  
+ Năng lượng yêu cầu tại mối hàn cho FSW nằm trong khoảng hàn laser (đòi  
hỏi ít năng lượng hơn) và hàn kim loại trong môi trường khí trơ (MIG);  
+ Tốc độ hàn cao: Trong các mối hàn đơn lẻ với vật liệu mỏng hơn (độ dày 0  
đến ≤ 5 mm), FSW có tốc độ hàn lớn hơn các phương pháp hàn nhiệt khác; Trong  
vật liệu dày hơn, FSW có thể được thực hiện trong một lần hàn (ví dụ đầu khuấy 50  
mm), trong khi các quy trình khác cần nhiều lần mới có thể hàn xong. Điều này dẫn  
đến FSW có tỷ lệ hoàn thành mối ghép cao hơn, mặc dù tốc độ hàn có thể thấp hơn.  
- Nhược điểm:  
Ngoài những ưu điểm vượt trội kể trên, FSW cũng có một số tồn tại sau:  
+ Do quá trình hàn được cơ giới hóa nên hạn chế ứng dụng trong những  
trường hợp mối hàn nhỏ lẻ khác;  
+ Tồn lại một vết lõm cuối đường hàn;  
+ Khó ngăn chặn một phần vật liệu theo dòng xoáy thoát lên trên bề mặt.  
Bảng 2.1. Các khuyết tật thường gặp khi hàn FSW nhôm [3]  
Kiểu khuyết tật  
Vị trí  
Phía cạnh tiến  
Nguyên nhân  
Lực dọc trục yếu. Tốc độ hàn quá cao.  
Tấm không được kẹp đủ chặt hoặc khe  
hở quá rộng  
1. Khoảng trống  
Dưới bề mặt đầu mối hàn  
Dọc đáy mối hàn  
Tốc độ hàn quá cao dẫn đến oxit trên  
bề mặt bị phá vỡ bởi đầu khuấy bị trộn  
lẫn vào theo dòng chảy vật liệu  
2. Vết dài trong  
mối hàn  
Đầu khuấy quá ngắn hoặc tính toán  
phần đầu khuấy ăn sâu vào vật liệu  
chưa đúng, giữ đầu khuấy yếu  
3. Lỗ hổng ở đáy  
mối hàn  
4. Còn lại vết  
đường liên kết  
chung  
Chưa loại bỏ oxit từ mép tấm hoặc  
dụng cụ phá vỡ và loại bỏ oxit chưa  
triệt để  
Danh giới giữa các tấm  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 68 trang myanh 20660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu chế tạo đầu hàn ma sát khuấy để hàn giáp mối hợp kim nhôm A5052", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_che_tao_dau_han_ma_sat_khuay_de_han_giap.pdf