Luận án Nghiên cứu sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông thôn tỉnh Hưng Yên

HỌC VIỆN NÔ NG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGÔ THẾ TUYỂN  
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NGUỒN NĂNG LƯỢNG ĐIỆN  
Ở KHU VỰC NÔ NG THÔ N TỈNH HƯNG YÊN  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔ NG NGHIỆP - 2019  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGÔ THẾ TUYỂN  
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NGUỒN NĂNG LƯỢNG ĐIỆN  
Ở KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH HƯNG YÊN  
Ngành  
: Kinh tế phát triển  
Mã số  
: 9.31.01.05  
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS. NGÔ THỊ THUẬN  
PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH LONG  
HÀ NỘI - 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả  
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng  
dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được  
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2019  
Tác giả luận án  
Ngô Thế Tuyển  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận  
được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên  
của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và  
biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Ngô Thị Thuận; PGS.TS. Nguyễn Đình Long. Những  
người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho  
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận án.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào  
tạo, Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện  
Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ tôi trong quá  
trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên Công ty Điện  
lực Hưng Yên, Điện lực các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Sở  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, UBND các huyện, các xã,  
các cơ quan ban ngành liên quan và các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã  
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận án.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi  
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn  
thành luận án./.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2019  
Nghiên cứu sinh  
Ngô Thế Tuyển  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Nghĩa tiếng Việt  
Bình quân  
BQ  
CN & XD  
CNH  
Công nghiệp và xây dựng  
Công nghiệp hóa  
Công ty  
CT  
ĐVT  
Đơn vị tính  
EVN  
Tập đoàn điện lực Việt Nam  
Tổng sản phẩm quốc nội  
Hành chính sự nghiệp  
Hiện đại hóa  
GDP  
HCSN  
HĐH  
K.hàng  
LĐHANT  
PTBQ  
SL  
Khách hàng  
Lưới điện hạ áp nông thôn  
Phát triển bình quân  
Số lượng  
TBA  
Trạm biến áp  
TĐPTBQ  
TM & DV  
TP  
Tốc độ phát triển bình quân  
Thương mại và dịch vụ  
Thành phố  
Tr  
Triệu  
Tr.đ  
Triệu đồng  
TTCN  
Tỷ.đ  
Tiểu thủ công nghiệp  
Tỷ đồng  
UBND  
UBND  
USD  
Ủy ban nhân dân  
Ủy ban nhân dan  
Đô la mỹ  
WB  
Ngân hàng thế giới  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
ix  
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Ngô Thế Tuyển  
Tên Luận án: Nghiên cứu sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông thôn tỉnh  
Hưng Yên  
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển  
Mã số: 9.31.01.05  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, đề xuất các giải pháp sử  
dụng nguồn năng lượng điện nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện và tăng cường sử  
dụng nguồn năng lượng điện hợp lý ở khu vực nông thôn tỉnh Hưng Yên.  
Phương pháp nghiên cứu  
- Sử dụng tiếp cận kỹ thuật, tiếp cận hệ thống, tiếp cận có sự tham gia, tiếp cận  
xã hội học và tiếp cận chính sách trong suốt quá trình nghiên cứu.  
- Chọn 3 huyện đại diện là huyện Văn Lâm, thành phố Hưng Yên và huyện Ân  
Thi đại diện cho điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh. Mỗi huyện và thành phố đại  
diện chọn 3 xã đại diện để khảo sát hộ gia đình sử dụng điện theo các ngành nghề khác  
nhau.  
- Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu gồm các văn bản pháp lý, các quy  
định của các cơ quan từ trung ương đến địa phương về sử dụng nguồn năng lượng điện,  
các công trình nghiên cứu có liên quan, các kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới và trong  
nước về sử dụng nguồn năng lượng điện và các thông tin về đặc điểm địa bàn nghiên cứu,  
được thu thập từ văn phòng các Bộ, Ngành, Sở, phòng, ban, các thư viện các trường đại  
học, viện nghiên cứu và các trang Website, có trích dẫn đầy đủ.  
- Các dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng: (i) điều tra chọn mẫu 447 hộ gia đình  
thuộc 9 xã của 3 huyện đã chọn; (ii) Phỏng vấn sâu 30 cán bộ lãnh đạo các huyện, xã đại  
diện và 20 cán bộ quản lý ngành điện; (iii) Thảo luận nhóm và quan sát thực địa; (iv) tham  
gia các hội nghị giao ban của các sở, ban ngành trong tỉnh.  
- Các số liệu thông tin sau khi thu thập xong, được xử lý và tổng hợp số liệu bằng  
phần mềm thống kê SPSS và STATA. Phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh,  
phân tích nhân tố khám phá với thang đo Likert, phân tích hồi quy tương quan và đánh  
giá sự sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng được sử dụng để phân tích thông tin trong đề  
tài.  
Kết quả chính và kết luận  
(1). Sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông thôn là khai thác và đưa vào  
sử dụng các nguồn năng lượng điện cho các mục đích sản xuất nông nghiệp, hoạt động dịch  
vụ và tiêu dùng của hộ gia đình, các hoạt động của các dự án đầu tư, đơn vị sử dụng ngân  
sách Nhà nước. Với yêu cầu sử dụng nguồn năng lượng điện là tiết kiệm và hiệu quả theo  
xii  
 
3 nguyên tắc, nội dung nghiên cứu sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông thôn  
trên địa bàn tỉnh gồm: Khai thác các nguồn năng lượng điện; Quản lý cung cấp và sử dụng  
nguồn năng lượng điện; Sử dụng nguồn năng lượng điện; Đánh giá kết quả, hạn chế và tác  
động của việc sử dụng nguồn năng lượng điện.  
(2). Các nguồn năng lượng điện được khai thác và sử dụng ở khu vực nông thôn  
tỉnh Hưng Yên gồm: Điện lưới quốc gia; Năng lượng mặt trời; Điện Biogas; Máy phát điện  
và các thiết bị điện khác, trong đó chủ yếu là điện lưới quốc gia. Quản lý nguồn năng lượng  
điện ở khu vực nông thôn, thực tế mới quản lý nguồn điện lưới quốc gia do công ty điện  
lực Hưng Yên đảm nhận. Hiện tại công ty đang quản lý 9 điện lực các huyện và thành phố  
Hưng Yên với 135 tổ dịch vụ điện tại xã, phường. Công ty có nhiệm vụ tổ chức nhận điện  
đầu nguồn, phân phối và truyền tải điện thương phẩm cho người sử dụng theo hợp đồng  
mua bán điện; Quản lý giá bán; Thay thế và hiện đại hóa các phương tiện truyền tải, phân  
phối, đo đếm điện và Giảm tổn thất điện năng. Sản lượng điện thương phẩm năm 2017  
của công ty là 3485,82 triệu kWh, bình quân tăng 15,25%/năm từ 2013 đên 2017. Số  
lượng khách hàng sử dụng điện năm 2017 là 421510 hợp đồng, tăng 6,12%/năm, trong  
đó khách hàng là hộ dân nông thôn chiếm trên 80%. Sử dụng nguồn năng lượng điện cho  
sản xuất nông nghiệp còn thấp, mới chiếm hơn 1% trong tổng sản lượng điện cung cấp  
hàng năm. Bình quân 1 hộ dân nông thôn tiêu dùng 1 tháng 203,65 kWh, với chi phí bình  
quân là 323,60 ngàn đồng. Hầu hết các cơ quan quản lý hành chính ở khu vực nông thôn  
của tỉnh đều có kế hoạch, nội quy và giám sát sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả. Sử dụng  
nguồn năng lượng điện đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ  
cấu kinh tế; xây dựng nông thôn mới, và thay đổi thói quen lạc hậu cho người dân.  
Các hạn chế trong sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông thôn tỉnh Hưng  
Yên là: (i) Sản lượng điện từ nguồn năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng nhỏ; (ii) Hệ thống  
tổ chức quản lý nguồn năng lượng điện chưa hoàn thiện; (iii) Hệ thống truyền tải, phân  
phối điện chưa đổi mới và hiện đại hóa đồng bộ; (iv) Sử dụng điện cho sản xuất nông  
nghiệp theo hướng hiện đại hóa chưa đảm bảo; (v) Còn thất thoát điện do kỹ thuật và do  
các hoạt động thương mại.  
(3) Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông  
thôn tỉnh Hưng Yên gồm: (i) Các yếu tố thuộc cơ quan cung cấp và quản lý nguồn năng  
lượng điện (Năng lực cán bộ; Thiết bị máy móc; Cơ chế hoạt động; Sự bàn giao quản  
lý…); (ii) các yếu tố thuộc đối tượng sử dụng nguồn năng lượng điện (Đặc điểm bản thân  
người sử dụng: Giới tính, tuổi, trình độ, thói quen, thu nhập...); (iii) các yếu tố thuộc về  
cơ chế chính sách (thể chế triển khai, cơ chế hỗ trợ, sự phối hợp các sở, ban, ngành…);  
(iv) yếu tố tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nông thôn.  
(4) Để sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông thôn tỉnh Hưng Yên trong  
các năm tới theo yêu cầu của Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, cần áp dụng  
3 nhóm giải pháp sau: (i) Nhóm giải pháp cho công ty điện lực Hưng Yên; (ii) Nhóm giải  
pháp cho người sử dụng nguồn năng lượng điện (iii) Nhóm giải pháp về cơ chế chính  
sách của Nhà nước.  
xiii  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Ngo The Tuyen  
Thesis title: Study on use of electrical energy sources in rural area of Hung Yen province  
Major: Development Economics Code: 9.31.01.05  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture  
Research Objective  
The study aims to evaluate the situation, analyze factors affecting and propose  
measures to use efficiently electrical energy to meet demand for electricity and enhance  
use of suitable electrical energy in rural areas of Hung Yen province.  
Materials and Methods  
- The study employed technical and system approach, participatory approach,  
sociological approach and policy and institutional approach.  
- The study selected 3 representative districts and one city: Van Lam, Yen Thi  
district and Hung Yen city which have common natural, social economic characteristics  
of the province. In each district and city, 3 communes and towns were selected then  
household surveyed were carried out at these communes.  
- Secondary data includes legal document, regulation from central to local level  
on the use of electrical energy, related research, the world’s and domestic practical  
experience on the use of electrical energy and information about the research sites. This  
data is gathered from offices at different management levels, department, and libraries of  
universities, research institutes and online website with full citation of sources.  
- Primary data were gathered by: (i) The survey with the sampling of 447  
households in 9 communes of 3 selected districts; (ii) In-depth interviews with 30 leaders  
of selected districts, communes, and 20 staff of electricity management sectors; (iii) Focus  
group discussion and field observation; and (iv) Information from inter-department  
meetings in the province and selected districts.  
- Gathered data were processed and analyzed by SPSS và STATA. Descriptive  
statistics, comparative statistics, exploratory factor analysis using Likert scale, regression  
and willingness to pay of consumers were used in this study.  
Main findings and conclusions  
(1) Using electrical energy in rural areas is the use of electrical energy sources  
for agricultural production and business purposes, services and living of households,  
operation of investment projects, and organizations and offices with State budgets. For  
using economically and efficiently electrical energy sources according to three rules,  
research contents on using electrical energy in rural areas in the province include:  
Exploitation of electrical energy sources, Management and use of electrical energy sources;  
Use of electrical energy sources; Evaluation of achievements, Limitations, and Impacts of  
the use of electrical energy sources.  
xiv  
 
(2) Sources of electrical energy in rural areas of Hung Yen province include:  
National electricity network, solar energy, Biogas; electricity generators and other  
electricity appliances, mainly from National electricity network. Management of electrical  
energy sources in rural areas of Hung Yen province is in fact being done for only national  
electricity transmission networks and undertaken by Hung Yen Electricity Company. The  
company is currently managing 9 Electricity companies at district level with 135 electricity  
service groups at communes and towns. The company is in charge of receiving electricity  
from sources and transmit commercial electricity to users according to contracts for  
electricity selling and buying electricity; selling price management; replacing and  
modernizing facilities for electricity transmission, distribution of electricity and reducing  
electricity losses. The total commercial electricity production of the company in 2017 is  
3485.82 million kWh, with an average increase of 15.25%/year between 2013 and 2017.  
The number of electricity customers in 2017 are 421,510 contracts, increased by  
6.12%/year, of which farmer households accounts for more than 80%. The use of  
electrical energy for agricultural production is still low, only accounting for more than  
1% in the total of annual electricity supply amount. One average one farmer household  
uses 203,65 kWh/month, with average cost of 323.60 thousand VND. Most administrative  
offices in rural areas of the province has the plan, regulations and supervision for  
economical and efficient use of electricity. Use of electrical energy source has contributed  
to push up social-economic growth, transform economic structure, build new rural areas,  
and change old habits of people in using electricity.  
Some limitations in the use of electrical energy source in rural areas of Hung Yen  
province are (i) Low productivity of renewable energy source (ii) Systems for  
management and organization of electrical energy is still incomplete; (iii) Systems for the  
transmission and distribution of electricity has not been innovated and fully modernized;  
(iv) Use of electrical energy for agricultural production in modernization schemes has not  
been ensured; (v) Losses of electricity due to technical and commercial problems are still  
existed.  
(3) The factors effecting the use of electrical energy sources in rural areas of Hung  
Yen province include: (i) Factors belonging electrical energy supply and management  
units (capacity of staff, equipment, operational mechanism, management  
decentralization…); (ii) factors belonging users of electrical energies (characteristics of  
users of electrical energy: gender, age, educational level, habits, income...); (iii) factors  
affecting policy mechanism (institutions, support mechanism, collaboration and  
coordination of provincial department and sectors …); (iv) Natural and social economic  
factors of rural areas.  
(4) In order to use economically electrical energy in rural areas of Hung Yen  
province in coming years in accordance with Law on the economical and efficient use of  
energy, the following measures should be taken: (i) Measure for Hung Yen Electricity  
Company; (ii) Measure for users of electrical energy; (iii) Measure for policy mechanism  
of State Government.  
xv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Nguồn năng lượng điện có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển nông  
nghiệp, nông thôn nước ta. Điện là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất nông  
nghiệp theo hướng bền vững; là tiền đề để phát triển và ứng dụng khoa học - công  
nghệ, phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội trong nông thôn; là phương tiện để  
thay đổi điều kiện sống của người dân nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại.  
Vì vậy, trong 19 tiêu chí nông thôn mới ở nước ta, tiêu chí số 4 về phát triển và sử  
dụng điện năng là một tiêu chí phải đi trước một bước.  
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính đến hết năm 2012, cả nước  
đã có 100% số huyện có điện, tỷ lệ hộ sử dụng điện trong cả nước đạt 97,5%; số  
hộ dân nông thôn có điện đạt 96,8%; đến năm 2018 cả nước đã có 100% số huyện  
có điện, tỷ lệ số xã có điện lưới nông thôn đạt 99,83% và số hộ dân nông thôn có  
điện đạt 98,83% (EVN, 2018). Việt Nam đang nằm trong nhóm đầu của châu Á về  
điện khí hóa nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Đánh giá của Bộ Công  
thương (2014) và Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2013 cho thấy, quá trình điện khí  
hóa nông thôn ở Việt Nam đã đóng góp khoảng 30 đến 40% vào việc phát triển  
kinh tế cho khu vực này. Hiện tại, tỷ lệ người dân khu vực nông thôn đồng bằng  
sông Hồng 100% có điện, khu vực miền núi phía Bắc 94% có điện (Tổng cục  
Thống kê, 2016). Cũng nhờ sử dụng nguồn năng lượng điện nông dân các huyện  
Văn Giang, Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đã áp dụng vào sản xuất nông nghiệp công  
nghệ cao, như thắp đèn để “kích” hoa, đậu quả tạo thu nhập lớn (Sở Nông nghiệp  
và Phát triển nông thôn Hưng Yên, 2016). Nhiều địa phương đã sử dụng điện chiếu  
sáng cho khu vực trung tâm xã, trạm y tế, trường học. Đây là những yếu tố đầu  
tiên và quan trọng để tiến đến xây dựng nông thôn mới.  
Kết quả khảo sát của các chuyên gia cho thấy, quá trình điện khí hoá đã  
đóng góp 30 - 40% vào việc phát triển kinh tế tại khu vực nông thôn, góp phần tích  
cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các hộ đồng bào dân tộc, tạo điều kiện  
thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, góp phần phát triển mạnh các ngành, nghề  
thủ công (Vĩnh Phong, 2014).  
Song song với việc tăng trưởng kinh tế - xã hội, vấn đề sử dụng điện hợp lý  
ngày càng trở lên cấp thiết bởi các lý do (i) Ngành điện đã phát triển thành ngành  
1
   
công nghiệp cung cấp và cạnh tranh. Việc nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất,  
truyền tải điện cũng như sử dụng hợp lý nguồn điện năng là một trong những nội  
dung quan trọng nhằm đẩy mạnh sự phát triển ngành điện. Tuy nhiên, ở Việt Nam  
thị trường điện năng chưa phát triển, mà mang nặng tính độc quyền của tổng công  
ty điện lực khiến cho quản lý và sử dụng nguồn năng lượng điện thiếu tính cạnh  
tranh, hạn chế đến sự lựa chọn tiêu dùng điện của người dân (ii) Sự tăng trưởng rất  
nhanh về nhu cầu sử dụng điện năng. Theo Bộ Công thương (2014), tăng trưởng  
điện năng sản xuất của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 là gần 9%/năm, trong khi  
đó tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn này là 6%/năm, nghĩa là hệ số tăng trưởng  
điện năng/tăng trưởng GDP là 1,5. Điều này cho thấy chúng ta đang sử dụng năng  
lượng không hiệu quả; (iii) Sự tổn thất điện năng thường xuyên xảy ra do lạc hậu  
về kỹ thuật và ý thức người sử dụng điện. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng  
thế giới công bố năm 2013, tổn thất điện năng trên toàn thế giới giảm từ 8,9% năm  
2004 xuống còn 8,1% năm 2011. Trong đó các nước phát triển dường như đã kiểm  
soát được tỷ lệ tổn thất điện năng và duy trì ở mức ổn định như Đức (4 – 5%), Phần  
Lan (3 – 4%), Ai Len (3 – 4%). Trong khu vực châu Á, các nước phát triển như  
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore tỷ lệ tổn thất điện năng giai đoạn 2009 – 2013 ỏ  
mức thấp trong khoảng 4 – 5% (Nhật Bản), 3 – 4% (Hàn Quốc và 5 – 6%  
(Singapore). Tuy nhiên, với hầu hết các nước đang phát triển tỷ lệ tổn thất điện  
năng còn khá cao, ở mức 2 con số (2011 ở Cambodia là 28,1%; Myanmar là 21,2%;  
Philippines là 11,1%). Ở Việt Nam, tỷ lệ tổn thất điện năng năm 2011 là 10,1%,  
2014 vẫn còn ở mức 8,6% (EVN, 2014); (iv) Nguồn nguyên liệu không tái tạo sử  
dụng cho sản xuất điện như than đá, nước, dầu khí có xu hướng giảm, trong khi  
các nguồn nguyên liệu tái tạo chưa biết khai thác, sử dụng và có thể gây ra ô nhiễm  
Đến nay, công ty Điện lực Hưng Yên trực tiếp bán điện đến 151/161 xã,  
phường, thị trấn và quản lý trên 400 nghìn khách hàng, đã giúp người dân trong  
tỉnh được sử dụng điện an toàn, ổn định với giá bán điện theo quy định của Chính  
phủ, góp phần không nhỏ vào đảm bảo an sinh xã hội và trật tự an ninh khu vực  
nông thôn. Chất lượng phục vụ nâng cao và giảm tỷ lệ tổn thất điện năng. Năm  
2017, tỷ lệ tổn thất điện năng hạ áp là 6,59% trong khi năm 1997 là 15,45% (Công  
ty Điện lực Hưng Yên, 2017). Trong những năm qua Công ty Điện lực Hưng Yên  
tiếp tục đầu tư, cải tạo sửa chữa lưới điện; thực hiện nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm  
vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định, tăng cường độ tin cậy cung cấp điện, cung  
2
ứng điện đầy đủ, kịp thời cho mọi nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội  
trên địa bàn tỉnh.  
Tuy nhiên, thực hiện Luật Năng lượng năm 2010, về sử dụng hợp lý nguồn  
năng lượng điện nói chung, ở khu vực nông thôn nói riêng, sử dụng nguồn năng  
lượng điện ở khu vực nông thôn tỉnh Hưng Yên đang đối mặt những thách thức  
lớn. Đó là, (i) Nguồn năng lượng điện sử dụng chủ yếu là điện lưới quốc gia,  
nhưng lưới điện nông thôn cũ nát, chắp vá, bán kính cung cấp xa, chưa đáp ứng  
nhu cầu sử dụng điện của khu vực nông thôn, đặc biệt yêu cầu của xây dựng nông  
thôn mới; (ii) Tổn thất lưới điện hạ thế vẫn ở mức cao; do quy hoạch lộn xộn,  
đầu tư dàn trải; (iii) Sử dụng nguồn năng lượng điện trong sản xuất nông nghiệp  
còn ít chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH; (iv) Công tác tuyên truyền sử dụng điện  
an toàn, tiết kiệm và hiệu quả còn chưa tốt; (v) Ý thức và sự tuân thủ chính sách  
của người dân nông thôn trong sử dụng nguồn năng lượng điện thấp, còn lãng  
phí và thất thoát; (vi) Tỷ lệ người dân sử dụng các nguồn năng lượng điện thay  
thế điện lưới như năng lượng mặt trời, gió trời, các chất thải trong nông nghiệp,…  
còn rất ít.  
Hiện nay, tỉnh Hưng Yên đã có nhiều chủ trương trong khai thác, sử dụng  
tiết kiệm và hợp lý nguồn năng lượng điện cho khu vực nông thôn thông qua hướng  
dẫn, đôn đốc, tư vấn, hỗ trợ, tập huấn, thanh tra, kiểm tra, giám sát,... các doanh  
nghiệp, hộ gia đình, hộ kinh doanh- dịch vụ, hộ chế biến, Hợp tác xã nông nghiệp  
chấp hành các quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu  
quả; sử dụng quy trình, thiết bị và công nghệ có hiệu suất năng lượng cao, hỗ trợ  
các hộ sản xuất nông nghiệp xây dựng hầm biogas để tận dụng các phụ phẩm từ  
sản xuất nông nghiệp để sản sinh ra các nguồn năng lượng sử dụng thay thế điện  
năng… Tuy nhiên, việc nghiên cứu để tận dụng các nguồn thay thế điện năng,  
giảm tổn thất tiêu thụ điện và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng điện còn chưa  
thực sự được quan tâm nghiên cứu.  
Các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến sử dụng nguồn năng  
lượng điện ở Việt Nam đã có như Đặng Phan Tường (2003) với đề tài “Giải pháp  
nâng cao hiệu quả kinh tế trong truyền tải và phân phối điện của Tổng công ty  
điện lực Việt Nam (EVN)”; Cao Đạt Khoa (2010) về “Mô hình tổ chức và cơ chế  
quản lý khâu truyền tải điện ở Việt Nam”; Lê Quang Hải (2013) với đề tài “Quản  
lý lưới điện truyền tải trong thị trường điện Việt Nam”;,… Các nghiên cứu này  
thường tập trung nhiều về kỹ thuật truyền tải điện lưới và thực hiện trên phạm vi  
3
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 213 trang myanh 25600 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu sử dụng nguồn năng lượng điện ở khu vực nông thôn tỉnh Hưng Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_su_dung_nguon_nang_luong_dien_o_khu_vuc_n.pdf
  • pdfKTPT - TTLA - Ngo The Tuyen.pdf
  • pdfTTT - Ngo The Tuyen.pdf