Luận án Nghiên cứu dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển (Classical swine fever) ở lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014-2017

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGUYỄN PHỤC HƯNG  
NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH  
TẢ LỢN CỔ ĐIỂN (CLASSICAL SWINE FEVER) Ở LỢN  
TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 - 2017  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGUYỄN PHỤC HƢNG  
NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH  
TẢ LỢN CỔ ĐIỂN (CLASSICAL SWINE FEVER) Ở LỢN  
TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 - 2017  
Chuyên ngành: Dịch tễ học thú y  
Mã số:  
9 64 01 08  
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. Nguyễn Thị Lan  
2. PGS.TS. Lê Văn Phan  
HÀ NỘI, 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày  
tháng  
năm 2019  
Tác giả luận án  
Nguyễn Phục Hƣng  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được  
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,  
đồng nghiệp và gia đình.  
Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Nguyễn Thị Lan và  
PGS.TS. Lê Văn Phan đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều  
kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.  
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ  
môn Bệnh lý thú y, Bệnh viện thú y, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã  
tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn  
thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Phòng thí nghiệm trọng điểm  
công nghệ sinh học thú y và Phòng thí nghiệm bộ môn bệnh lý, khoa Thú y, Học viện  
Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực  
hiện đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi  
điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên tôi hoàn thành luận án./.  
Hà Nội, ngày  
tháng  
năm 2019  
Tác giả luận án  
Nguyễn Phục Hƣng  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
3’ NTR  
5’NTR  
aa  
Chữ viết đầy đủ  
3' nontranslated region  
5' nontranslated region  
Amino acid  
BD  
Boder disease  
BDV  
Border Disease Virus  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  
Base pair  
BNNPTNT  
Bp  
BVDV  
cDNA  
CI  
Bovine Viral Diarrhea Virus  
Complementary deoxyribonucleic acid  
Confidence Interval  
CPE  
Cytophathogenic Effect  
Cộng sự  
cs  
CSF  
Classical Swine fever  
Classical Swine Fever Virus  
Chỉ số mắc bệnh trung bình tháng  
Cộng tác viên  
CSFV  
CSMBTBT  
Ctv  
DNA  
dNTP  
EC  
Deoxyribonucleic Acide  
Deoxyribonucleoside triphosphate  
European Community  
Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay  
Food and Agriculture Organization  
Hệ số tháng dịch  
ELISA  
FAO  
HSTD  
HSND  
HT  
Hệ số năm dịch  
Huyết thanh  
IHC  
Immunohistochemistry  
Mắc bệnh  
MB  
M-MLV  
mRNA  
Moloney murine leukemia virus  
Messenger Ribonucleic acid  
vi  
 
Chữ viết tắt  
NPLA  
NS  
Chữ viết đầy đủ  
Neutralization Peroxidase Linked Assay  
Nonstructural  
nt  
Nucleotide  
NXB  
Nhà xuất bản  
OIE  
Office International des Epizooties  
Polymerase Chain Reaction  
Ribonucleic Acide  
PCR  
RNA  
RT- PCR  
RT-nPCR  
SNNC  
TC  
Reverse transcription-Polymerase Chain Reaction  
Reverse Transcription – nested Polymerase Chain Reaction  
Số năm nghiên cứu  
Tổ chức  
TCID  
TCVN  
TĐMM  
TLHM  
TLTV  
TT  
Tissue Culture Infective Dose  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Tốc độ mới mắc  
Tỷ lệ hiện mắc  
Tỷ lệ tử vong  
Thông tư  
USA  
United States of America  
United States dollar  
USD  
VNUA  
WTO  
Vietnam National University of Agriculture  
World Trade Organization  
vii  
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
viii  
 
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
ix  
 
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Nguyễn Phục Hưng  
Tên luận án: Nghiên cứu dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển (Classical swine fever) ở  
lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014 - 2017  
Chuyên ngành: Dịch tễ học thú y  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mã số: 9.64.01.18  
Bệnh dịch tả lợn nằm trong danh mục những bệnh truyền nhiễm cần phải công  
bố dịch ở Việt Nam và nằm trong danh mục bệnh thuộc bảng A theo Tổ chức Thú y  
thế giới. Bệnh gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều tỉnh thành. Bệnh  
có tốc độ lây lan nhanh, xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi và có thể gây chết đến 100% đối với  
lợn con.  
Do sự thay đổi về điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội, phương thức và tập quán  
chăn nuôi, bệnh dịch tả lợn có thể đã có những đặc điểm khác biệt về mặt dịch tễ học.  
Mặt khác, một hiện tượng có tên là “Dung nạp miễn dịch” ở bệnh dịch tả lợn khiến lợn  
con không đáp ứng với vaccine tiêm phòng và mẫn cảm cao với virus dịch tả lợn cường  
độc lưu hành dẫn đến bùng phát dịch.  
Mục tiêu của đề tài là: (1) Đánh giá được tình hình dịch bệnh ở miền Bắc Việt  
Nam, xác định được một số đặc điểm dịch tễ học (tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, năm dịch,  
hệ số mùa dịch, hệ số tháng dịch…) theo không gian và thời gian. (2) Xác định được sự  
mang trùng và hiện tượng dung nạp miễn dịch ở đàn lợn nuôi và (3) Xác định một số  
đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus dịch tả lợn ở miền Bắc Việt Nam  
Phƣơng pháp nghiên cứu  
Có ba nhóm phương pháp chính được dùng trong nghiên cứu này, bao gồm: (1)  
phương pháp nghiên cứu dịch tễ học; (2) Phương pháp ELISA xác định kháng nguyên  
và xác định kháng thể và (3) Phương pháp phân tích đặc điểm sinh học phân tử và đặc  
điểm dịch tễ học phân tử.  
Kết quả chính và kết luận  
(1) Bộ số liệu về đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn ở miền Bắc Việt Nam  
(được phân chia theo vùng địa lý gồm có 03 vùng lớn là Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ và  
Đồng Bằng Sông Hồng):  
Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn theo cấp xã tại các địa phương dao động từ 38,75 ±  
2,85% đến 42,50 ± 4,41%. Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn theo cấp độ đàn dao động từ  
x
 
29,72 ± 4,48% đến 58,33 ± 0,79%. Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn theo cá thể dao động từ  
1,42 ± 0,18% đến 3,82 ± 1,36%. Lợn ở giai đoạn từ 1 – 3 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh  
cao nhất (5,96 ± 1,05%). Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi theo phương thức  
chăn nuôi nông hộ là cao nhất (5,92 ± 0,37%) trong khi yếu tố về giống lợn nuôi không  
ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc dịch tả lợn. Tỷ lệ tử vong của bệnh dịch tả lợn trong quá trình  
điều tra dao động từ 92,13 ± 1,08% đến 94,01 ± 1,98%. Trong quá trình điều tra, hầu  
hết các tỉnh đều có hai năm dịch (hệ số năm dịch >1), chỉ có tỉnh Thái Bình là 3 năm và  
tại Sơn La, Nam Định là 1 năm có có HSND >1. Dịch tả lợn xảy ra tập trung vào thời  
điểm tháng 2 – 4 và 8-11 trong năm (hệ số tháng dịch >1). Tỷ lệ hiện mắc của dịch tả  
lợn là 2,26% đến 2,46% sau 3 năm điều tra trong khi tốc độ mắc bệnh dịch tả lợn là  
0,0434 – 0,0474 con/tuần.  
Như vậy, đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn trong giai đoạn hiện tại đã có  
những thay đổi so với các nghiên cứu trong giai đoạn trước đây.  
(2) Kết quả xác định hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch:  
Khi kiểm tra hiện tượng mang virus ở lợn nái nuôi tại địa phương: Tỷ lệ lợn nái  
mang virus là 16,5% - 17.0%. Tỷ lệ lợn con âm tính với kháng thể dịch tả lợn lúc 35  
ngày tuổi là 87,69% - 88,71%. Tỷ lệ lợn con âm tính ở 21 ngày sau tiêm phòng là  
77,27% - 79,82%.  
Khi thực hiện thí nghiệm với đàn nái âm tính virus dịch tả lợn (nhưng được tiêm  
phòng bằng vaccine nhược độc dịch tả lợn vào 25 ngày sau khi phối), đàn lợn con sinh  
ra có hiện tượng âm tính với kháng thể dịch tả lúc 35 ngày tuổi dao động từ 83,17% đến  
86,54% vào hai năm 2016, 2017. Tỷ lệ lợn con âm tính với kháng thể dịch tả lợn vào 21  
ngày sau tiêm phòng dao động từ 76,09% đến 80,43%.  
(3) Dịch tễ học phân tử của virus dịch tả lợn:  
Kết quả phân tích phả hệ của của các chủng virus dịch tả lợn dựa vào trình tự  
đoạn genE2 cho thấy các chủng thu được từ Nam Định và Hải Dương thuộc 2 phân  
nhóm 2.1 và 2.2.  
Chủng virus dịch tả lợn phân lập thuộc phân nhóm 2.1 rất gần với các chủng  
GDPY, GDHZ, HN, and HNLY-11 lưu hành tại Trung Quốc trong giai đoạn 2008 –  
2011. Trong khi chủng 2.2 có liên quan đến các chủng phân lập từ các nước Châu Âu  
(Đức, Áo, CH. Séc và Ý) và Châu Á (Đài Loan và Nepal).  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Nguyen Phuc Hung  
Thesis title: Epidemiological study of classical swine fever in northern Vietnam for the  
period 2014 - 2017.  
Major: Veterinary epidemiology  
Code: 9.64.01.18  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
Classical swine fever (CSF) is in the list of infectious diseases that require to be  
reported in Vietnam and the A list of diseases by the World Organisation for Animal  
Health. Disease has caused considerable damage to the pig industry in many provinces.  
The disease is rapidly spreading, occurring in pigs of all ages and can kill up to 100% of  
piglets.  
Due to changes in natural conditions and social conditions, animal husbandry  
practices, CSF outbreaks may have epidemiological alterations. On the other hand, a  
phenomenon known as "immunological tolerance" in CSF causes piglets not to respond  
to vaccines and are highly susceptible to virulent CSFV, leading to outbreaks.  
The objectives are: (1) To assess the epidemic situation in Northern Vietnam, to  
identify some epidemiological characteristics (incidence, mortality, epidemic year  
index, monthly epidemic index, etc.) by space and time. (2) Identification of carriage  
and immunological tolerance in pig herds and (3) Identification of some molecular  
epidemiological characteristics of CSFV in Northern Vietnam  
Materials and Methods  
There are three main methods used in this study, including: (1) Epidemiological  
method; (2) ELISA for antigen and antibody determination and (3) Molecular biology  
and molecular epidemiological characterization determination.  
Main findings and conclusions  
1) Data on epidemiological characteristics of CSF outbreak in Northern Viet Nam  
(divided by geographic region including three major regions: The Northwest, the  
Northeast and the Red River Delta): The incidence of CSF by commune level was from  
38,75 ± 2,85% to 42,50 ± 4,41%; by the pig farm ranged from 29,72 ± 4,48% to 58,33 ±  
0,79%; by individuals from 1,42 ± 0,18% to 3,82 ± 1,36%. Pigs from 1 to 3 months old  
xii  
 
had the highest incidence (5,96 ± 1,05%). The pigs which grew in backyard livestock  
were more susceptible to CSF, with the prevalence of 5,92 ± 0,37% while the breeding  
factor has no effect on the CSF incidence. The mortality rate of CSF during the survey  
ranged from 92,13 ± 1,08% to 94,01 ± 1,98%. Most provinces had epidemic index over  
one in two years whereas Thai Binh province was in 3 years and in Son La, Nam Dinh  
were in 1 year. CSF occurred from February to April and from August to November in  
the year. The prevalence of CSF was 2.26% to 2.46% after 3 years of investigation,  
while the rate of CSF was 0.0434 - 0.0474 pigs per week. Thus, the epidemiological  
characteristics of CSF in the current period have changed when compared with previous  
studies.  
2) Results of identification of carrier and immune tolerance: testing the virus  
carriers in local sows showed: The rate of sows carrying the virus was 16.5% - 17.0%.  
The percentage of piglets negative for CSF antibody test at 35 days of age was ranged  
of 87.69% - 88.71%. The pigs at 21 days after vaccination were from 77.27% to 79.82%  
negative for CSF antibody test.  
When the sows were tested negative for CSF (but were vaccinated at 25 days after  
mating), the percentage of piglets negative for CSF antibody test at 35 days of age  
ranged from 83.17% to 86.54% in 2016 and 2017, respectively. The percentage of  
piglets negative for CSF antibody at 21 days after vaccination ranged from 76.09% to  
80.43%.  
(3) Molecular epidemiology of CSFV: The results of phylogenetic analysis of  
CSFV in pigs based on E2 gene showed that the strains collected from Nam Dinh and  
Hai Duong belonged to 2 sub-groups 2.1 and 2.2. The isolates of subtype 2.1 were  
closely related to the GDPY, GDHZ, HN, and HNLY-11 strains circulating in China  
during 2008 to 2011 while strain 2.2 was associated with isolates from Europe  
(Germany, Austria, the Czech Republic, and Italy) and Asia (Taiwan and Nepal).  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Chăn nuôi lợn nước ta trong những năm gần đây đã phát triển nhanh  
chóng. Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO) trong những năm  
vừa qua Việt Nam được ghi nhận là nước chăn nuôi phát triển mạnh và cung cấp  
nhiều thịt lợn (từ 116 – 121 triệu tấn thịt lợn từ năm 2016-2018) (FAO, 2018).  
Tuy nhiên do tập quán chăn nuôi theo hướng truyền thống vẫn còn rất phổ biến,  
không có tính chuyên nghiệp nên dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.  
Trong công cuộc đổi mới của toàn Đảng, toàn dân, ngành chăn nuôi nước  
ta đang từng bước phát triển vững chắc, đạt nhiều thành tựu to lớn đáng khích lệ  
và dần trở thành một trong những ngành chính của nông nghiệp Việt Nam. Đặc  
biệt, khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế  
giới (WTO), nhà nước đã có những chính sách điều chỉnh phù hợp như kinh tế  
trang trại, vốn tín dụng, chính sách đất đai, chính sách đầu tư nước ngoài... Tất cả  
các chính sách đó đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp  
trong đó có chăn nuôi. Bước đầu đã có sự hình thành các khu vực, các cụm chăn  
nuôi mang tính hàng hóa phù hợp với phát triển của từng loại gia súc, gia cầm và  
đặc biệt có thể cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao.  
Nhưng do tập tục chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún mà ngành chăn nuôi ở  
nước ta còn mang tính tự cung tự cấp, chăn nuôi tập trung, chăn nuôi hàng hóa  
theo quy mô trang trại chưa nhiều. Chất lượng sản phẩm chăn nuôi chưa đủ sức  
hội nhập và cạnh tranh. Từ đó, dẫn đến những khó khăn nhất định cho ngành  
chăn nuôi, đặc biệt là vấn đề kiểm soát dịch bệnh.  
Thời gian vừa qua, do hội nhập kinh tế quốc tế, việc giao lưu buôn bán  
động vật, sản phẩm động vật giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng, tình  
hình dịch bệnh động vật cũng phát triển mạnh, trong đó có bệnh dịch tả lợn cổ  
điển (Classical Swine Fever) xảy ra tràn lan ở nhiều khu vực. Ở Việt Nam trong  
những năm gần đây, dịch tả lợn cổ điển liên tiếp nổ ra gây thiệt hại đáng kể cho  
ngành chăn nuôi lợn. Bệnh xuất hiện trong cả nước và xảy ra tương đối nghiêm  
trọng ở nhiều tỉnh thành. Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi,  
đặc biệt trên lợn con, tỷ lệ chết có thể lên tới 100%. Một trong những đặc điểm  
quan trọng là lợn nái tạo cảm nhiễm qua nhau thai, gây chết phôi, sảy thai... Những  
1
   
lợn con sống sót xuất hiện tình trạng dung nạp miễn dịch – không đáp ứng với  
vaccine tiêm phòng và mẫn cảm cao với virus dịch tả lợn cường độc lưu hành, dễ  
tạo ra sự bùng phát của dịch. Vì vậy, tổ chức dịch tễ thế giới xếp bệnh này thuộc  
bảng A, là bảng danh mục các bệnh nguy hiểm nhất.  
Bệnh dịch tả lợn do một loại Pestivirus, họ Flaviviridae gây ra, đó là bệnh  
truyền nhiễm gây tiêu chảy nặng, lây lan nhiều và không có thuốc đặc trị ở lợn  
mọi lứa tuổi với nhiều thể khác nhau, gây chết hoặc không. Lợn nhiễm bệnh duy  
trì mầm bệnh lâu dài gây thiệt hại trầm trọng về mặt kinh tế cho người chăn nuôi.  
Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương ở da  
và một phần qua hệ thống hô hấp. Theo các nghiên cứu cho thấy bệnh dịch tả lợn  
lây truyền cả theo chiều ngang và chiều dọc.  
Ở nước ta, do tính chất nguy hiểm của bệnh, ngành Thú y đã có những  
biện pháp tích cực nhằm khống chế bệnh. Tuy nhiên bệnh vẫn luôn xảy ra và gây  
thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Các nhà khoa học trong lĩnh vực Thú y cũng bỏ  
nhiều công sức và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu công bố về căn bệnh  
và các đặc điểm dịch tễ học của bệnh, tuy nhiên do sự thay đổi về điều kiện thời  
tiết, khí hậu, thay đổi về điều kiện xã hội, phương thức và tập quán chăn nuôi thì  
các đặc điểm về dịch tễ học của một số bệnh cũng sẽ thay đổi, tìm ra được sự  
thay đổi đó sẽ là một phương hướng để đưa ra những biện pháp hiệu quả hơn  
trong công tác phòng chống bệnh.  
Cho đến hiện tại, chưa có một nghiên cứu hệ thống đầy đủ về dịch tễ học  
của bệnh dịch tả lợn trên tổng đại diện đàn lợn nuôi tại miền Bắc Việt Nam. Vì  
vậy trước một diễn biến phức tạp của dịch bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu  
về dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển ở lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn  
2014-2017. Đây là việc cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay nhằm đưa  
ra những khuyến cáo và những giải pháp cấp thiết hỗ trợ cho công tác phòng  
chống dịch bệnh, giúp người chăn nuôi giảm thiểu thiệt hại trong quá trình chăn  
nuôi lợn.  
1.2. MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU  
- Cập nhật và phân tích một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn  
tại miền Bắc Việt Nam.  
- Xác định hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch của bệnh dịch tả  
lợn đối với lợn nuôi tại khu vực nghiên cứu.  
2
 
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử những chủng virus dịch  
tả lợn phân lập tại miền Bắc Việt Nam  
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Địa điểm nghiên cứu  
- Một số tỉnh phía Bắc Việt Nam gồm: Ba tỉnh Tây Bắc Bộ (Hòa Bình,  
Yên Bái, Sơn La), ba tỉnh Đông Bắc Bộ (Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên) và  
bốn tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng (Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương).  
- Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y và Phòng thí  
nghiệm của Bộ môn Bệnh lý học của Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  
1.3.2. Thời gian nghiên cứu  
- Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2017.  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
- Xác định được sự thay đổi và cập nhật thông tin khoa học về đặc điểm  
dịch tễ học của bệnh Dịch tả lợn trong tình hình hiện tại (2014-2017) ở miền Bắc  
Việt Nam: Theo vùng địa lý (Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng Bằng Sông  
Hồng); theo lứa tuổi, phương thức chăn nuôi, giống lợn nuôi; hệ số tháng dịch,  
hệ số năm dịch; tỷ lệ hiện mắc, tốc độ mắc bệnh.  
- Xác định được sự mang trùng và hiện tượng Dung nạp miễn dịch ở đàn  
lợn tại miền Bắc Việt Nam.  
- Nghiên cứu được đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus Dịch tả lợn ở  
miền Bắc Việt Nam  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
Đề tài cung cấp một số dữ liệu mới về đặc điểm dịch tễ của bệnh Dịch tả  
lợn và virus Dịch tả lợn trên địa bàn miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014-2017.  
Luận án là tài liệu tham khảo tốt, phục vụ cho những nghiên cứu khoa học  
về bệnh Dịch tả lợn và tài liệu phục vụ giảng dạy trong lĩnh vực thú y.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định rõ sự thay đổi về một số đặc  
điểm dịch tễ học của bệnh Dịch tả lợn lưu hành trên địa bàn miền Bắc Việt Nam:  
Tỷ lệ mắc bệnh theo vùng địa lý, theo lứa tuổi, phương thức chăn nuôi, giống lợn  
3
             
nuôi; hệ số tháng dịch, hệ số năm dịch; tỷ lệ hiện mắc, tốc độ mắc bệnh. Dựa vào  
những thông số dịch tễ học này, những nghiên cứu kế tiếp có thể ứng dụng để  
tính toán số lượng mẫu, so sánh tốc độ mắc bệnh góp phần đánh giá yếu tố nguy  
cơ của bệnh.  
Kết quả xác định về mang trùng tiềm ẩn và dung nạp miễn dịch là cơ sở  
để đưa ra những biện pháp phòng chống phù hợp như thay đổi lịch trình vaccine,  
đề xuất phương pháp kiểm soát bệnh thông qua xét nghiệm kháng thể dịch tả lợn.  
Việc nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus Dịch tả lợn  
đã chỉ ra được nguồn gốc sự lưu hành và sự phù hợp cho việc sử dụng vaccine  
phòng bệnh tại địa phương.  
4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC VỀ BỆNH DỊCH  
TẢ LỢN  
Dịch tả lợn là một bệnh quan trọng nằm trong danh sách loại A của OIE.  
Những bệnh thuộc trong danh sách A được định nghĩa như những bệnh truyền  
nhiễm có khả năng lây lan rất nguy hiểm và nhanh chóng, bất chấp biên giới  
quốc gia, trở thành hậu quả nghiêm trọng đối với kinh tế xã hội và sức khỏe cộng  
đồng (OIE, 1998).  
2.1.1. Trên thế giới  
Bệnh dịch tả lợn là bệnh lây lan rất nhanh, tỷ lệ chết cao (có thể từ 60 -  
90%). Bệnh thường ghép với phó thương hàn, tụ huyết trùng. Lợn mắc bệnh  
thường có triệu chứng bại huyết, xuất huyết ở nhiều cơ quan, bộ phận, hoại tử,  
loét niêm mạc đường tiêu hoá. Bệnh tiến triển ở nhiều thể khác nhau: quá cấp,  
cấp tính, mạn tính và thể tiềm ẩn (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2013). Cho đến nay  
nguồn gốc của bệnh dịch tả lợn chưa được xác minh chính xác, hiện vẫn còn hai  
quan điểm song song tồn tại:  
Năm 1810 bệnh dịch tả lợn được Hanson (1957) mô tả đầu tiên ở  
Tenessce. Đến năm 1833, bệnh dịch tả lợn được thông báo đầu tiên ở Ohio (Bắc  
Mỹ), sau đó bệnh lan ra cả nước Mỹ nhất là vùng Cornbert, vì đây là vùng chăn  
nuôi lợn nhiều nhất (Hanson, 1957).  
Theo Fuchs (1968), bệnh xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1862, sau đó  
lây lan sang các nước châu Âu khác là Đan Mạch, Thụy Điển vào năm 1887. Các  
nhà khoa học Mỹ cho rằng bệnh xuất phát từ châu Âu và lan sang khắp các nước  
trên thế giới, ở Nam Mỹ năm 1899, Nam Phi năm 1900.  
Hiện nay bệnh dịch tả lợn vẫn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, thiệt hại  
về kinh tế do dịch tả lợn gây ra vẫn rất lớn. Năm 1997, các nước: Đức, Hà Lan,  
Italia, Tây Ban Nha, Bỉ có hơn 10 triệu con lợn bị giết hủy (Rassow, 1997). Ở Hà  
Lan tính đến ngày 31 tháng 12 năm 1997 có 424 ổ dịch trong một năm. Cộng hòa  
liên bang Đức từ tháng 11 năm 1982 đến 9 năm 1984 có 1457 ổ dịch xảy ra ở  
248 đàn lợn giống, 777 đàn lợn thịt và 412 đàn hỗn hợp, với 395000 lợn bị xử lý  
(Oleksiewicz et al., 2003).  
5
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 139 trang myanh 25000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu dịch tễ học bệnh dịch tả lợn cổ điển (Classical swine fever) ở lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014-2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_dich_te_hoc_benh_dich_ta_lon_co_dien_clas.pdf
  • pdfDTHTY - TTLA - Nguyen Phuc Hung.pdf
  • pdfTTT - Nguyen Phuc Hung.pdf