Luận án Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae) đục bắp ngô tại Hà Nội, Việt Nam và Viêng Chăn, Lào

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
HATSADA VIRACHACK  
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI  
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SÂU XANH  
Helicoverpa armigera (Hübner)  
(Lepidoptera: Noctuidae) ĐỤC BẮP NGÔ  
TẠI HÀ NỘI, VIỆT NAM VÀ VIÊNG CHĂN, LÀO  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2020  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
HATSADA VIRACHACK  
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI  
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SÂU XANH  
Helicoverpa armigera (Hübner)  
(Lepidoptera: Noctuidae) ĐỤC BẮP NGÔ  
TẠI HÀ NỘI, VIỆT NAM VÀ VIÊNG CHĂN, LÀO  
Ngành: Bảo vệ thực vật  
Mã số : 9 62 01 12  
Người hướng dẫn khoa học 1. PGS.TS. Đặng Thị Dung  
2. PGS.TS. Hồ Thị Thu Giang  
HÀ NỘI - 2020  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng để bảo vệ ở bất  
kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám  
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày  
tháng năm 2020  
Tác giả luận án  
HATSADA VIRACHACK  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.  
Đặng Thị Dung, PGS.TS. Hồ Thị Thu Giang đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt, chỉ bảo tôi  
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Học viện, Ban Lãnh đạo Khoa Nông học; Ban  
Quản lý Đào tạo, các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Côn trùng cùng các thầy cô giáo trong  
khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện  
thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài. Trân trọng cảm ơn các nhà khoa học đã nhiệt tình giúp  
đỡ, trao đổi, gợi ý cho tôi những ý tưởng, giải pháp để vượt qua những trở ngại, khó  
khăn trong quá trình nghiên cứu, thực nghiệm.  
Xin trân trọng cảm ơn Chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam; Xin trân  
trọng cảm ơn Chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo Lào đã tài trợ học bổng vào tạo nhiều  
điều kiện thuân lợi để tôi được thực hiện tốt nhiệm vụ khoa học của mình.  
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Sở Nông nghiệp Tỉnh Salavane đã giúp  
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và  
hoàn thành luận án. Xin trân trọng cảm ơn các cán bộ kỹ thuật Cục trồng trọt Lào đã hỗ  
trợ cung cấp thông tin và số liệu.  
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và  à con nông  ân v ng sản xuất ngô huyện  
NaxayThong, Viêng Chăn, Lào đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện  
các thí nghiệm tại địa phương.  
Cuối cùng, xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thành viên trong gia đình  
(Cha, Mẹ, Vợ, Anh, Chị, Em và người thân) đã đồng hành, động viên giúp đỡ tôi cả tinh  
thần lẫn vật chất trong suốt quá trình làm đề tài nghiên cứu để có được thành quả hôm  
nay.  
Hà Nội, ngày  
tháng năm 2020  
Nghiên cứu sinh  
HATSADA VIRACHACK  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
4.1.2. Vị trí số lượng của sâu xanh H. armigera trong tập đoàn sâu hại bộ cánh  
vảy trên ngô tại NaxayThong, Viêng Chăn, Lào năm 2018-2019 .....................55  
iv  
5.2.  
Kiến nghị .......................................................................................................... 116  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
BNN & PTNT  
BVTV  
Nghĩa tiếng Việt  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Bảo vệ thực vật  
CHDCNDL  
CABI  
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào  
Cục nông nghiệp thịnh vượng quốc tế (Commonwealth  
Agricultural Bureau International)  
Công thức  
CT  
DT  
Thời gian nhân đôi quần thể (Double time)  
Tổ chức Bảo vệ thực vật châu Âu (European Plant Protection  
Organization)  
EPPO  
EU  
Liên minh châu Âu (European Union)  
Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (Food and Agriculture  
Organization)  
FAO  
FAOSTAT  
Ngân hàng dữ liệu trực tuyến của tổ chức nông lương thế giới  
Và cộng sự  
& cs.  
lx  
Tỷ lệ sống của cá thể qua tuổi x  
Sức sinh sản của cá thể ở tuổi x  
Quy chuẩn Việt Nam  
mx  
QCVN  
RH  
Độ ẩm tương đối (Relative Humidity)  
Tỷ lệ tăng tự nhiên  
rm  
Ro  
Hệ số nhân của một thế hệ  
SN  
Sâu non  
T, Tc  
Thời gian của thế hệ tính theo mẹ (T) và theo con (Tc)  
Trung bình  
TB  
to  
Nhiệt độ  
TT  
Trưởng thành  
TTBNNPTNT  
USDA  
Thông tư Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (United States Department of  
Agriculture)  
Λ
Giới hạn phát triển  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
TT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
độ 25 ± 1oC ......................................................................................................... 95  
kiện nhiệt độ 25±1oC .......................................................................................... 96  
kiện nhiệt độ 25 ± 1oC ........................................................................................ 97  
viii  
DANH MỤC HÌNH  
TT  
Tên hình  
Trang  
ix  
 
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Hatsada VIRACHACK  
Tên luận án: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống sâu  
xanh Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae) đục bắp ngô tại Hà Nội,  
Việt Nam và Viêng Chăn, Lào”.  
Ngành: Bảo vệ thực vật  
Mã số: 9. 62. 01. 12  
Tên Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu của luận án  
Trên cơ sở những số liệu nghiên cứu về thành phần sâu hại bộ cánh vảy trên ngô,  
vị trí số lượng và sự chu chuyển của sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner), kết quả  
nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và khảo nghiệm một số biện pháp  
phòng chống chúng trên ngô, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng biện pháp phòng  
chống sâu xanh đạt hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường.  
Các phƣơng pháp nghiên cứu chính đã sử dụng  
- Xác định thành phần sâu hại bộ cánh vảy trên ngô và mức độ phổ biến của chúng  
thực hiện theo QCVN 01-38: 2010 (BNNPTNT). Điều tra diễn biến mật độ của sâu xanh  
H. armigera trên ngô  ưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái thực hiện theo QCVN  
01-167: 2014 (BNNPTNT).  
- Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của sâu xanh H.  
armigera được thực hiện theo phương pháp thường quy trong nghiên cứu côn trùng (Amer  
and El-Sayed, 2014; Ratna & cs., 2014). Nghiên cứu sự phát triển và tỷ lệ tăng tự nhiên  
theo phương pháp nuôi cá thể trong điều kiện ổn định về nhiệt độ, ẩm độ. Thức ăn và  
không gian cho sâu là không giới hạn (Birch, 1948).  
- Sử dụng công thức A  ott, Hen erson Tilton để đánh giá hiệu lực của một số  
thuốc trừ sâu phòng chống sâu xanh trong phòng thí nghiệm và trên đồng ruộng.  
Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận  
1. Thành phần sâu hại bộ cánh vảy trên ngô tại Hà Nội, Việt Nam và Viêng  
Chăn, Lào năm 2017-2019 ghi nhận được 25 loài thuộc 4 họ. Trong đó, họ ngài đêm  
(Noctuidae) có số loài thu được nhiều nhất (10/25). Tại Viêng Chăn, Lào, sâu hại đa  
dạng hơn ở Hà Nội, Việt Nam (21/13). Hai loài có mức độ phổ biến cao là sâu đục thân  
ngô châu Á (O. furnacalis) và sâu xanh (H. armigera). Sâu keo mùa thu (S. frugiperda)  
là loài mới xuất hiện cho danh lục sâu hại ngô với mức độ phổ biến cao ở Lào. Vị trí số  
lượng của sâu xanh đứng thứ 2 sau nhóm sâu đục thân ngô trong tập đoàn sâu hại bộ  
cánh vảy trên ngô tại Viêng Chăn, Lào. Sự chu chuyển của chúng quanh năm trên 11  
loại cây trồng và cây dại có mặt ở Viêng Chăn, Lào.  
x
 
2. Trưởng thành sâu xanh H. armigera chủ yếu vũ hóa vào  uổi sáng (6-10 giờ  
với tỷ lệ 52,64%). Nhộng hóa trong đất ở độ sâu > 2 – 4cm (90%). Vòng đời sâu xanh ở  
điều kiện nhiệt - ẩm độ trung bình 30,1oC; 79,4% là 35,54 ngày; Trưởng thành sống  
trung  ình 8,9 ngày và đẻ được 427,55 quả/cái; Tỷ lệ trứng nở trung bình 67,3%; Tỷ lệ  
sống sót các pha trước trưởng thành ở điều kiện nhiệt-ẩm độ trung bình 25±1oC,  
70±10% đạt rất cao (>85,33%). Tỷ lệ giới tính tương đối cân đối. Sức ăn lá ngô trung  
bình 4,81g lá/con. Sâu non từ tuổi 3 có tính cạnh tranh trong loài. Sâu tuổi 4 trở lên có  
khả năng đục bắp cao.  
3. Tỷ lệ sống sót và khối lượng nhộng sâu xanh tăng tỷ lệ thuận với chiều tăng  
nhiệt độ. Các giá trị của tỷ lệ sống sót và khối lượng nhộng ở 3 mức nhiệt độ (20, 25 và  
30oC) tương ứng là 48,57; 64,29; 75,71% và 201,77; 222,44 và 236,23mg/nhộng. Tổng  
tích ôn hữu hiệu (K) và Ngưỡng khởi điểm phát dục (To) của vòng đời sâu xanh là 526,3  
và 10,2oC.  
Sâu non phát dục dài nhất khi ăn ngô tẻ địa phương (25,57 ngày). Sâu non ăn  
phấn hoa có thời gian phát dục ngắn nhất (16,67 ngày). Sâu non ăn lá ớt phát dục dài  
hơn ăn lá ngô và lá hướng  ương. Trưởng thành được ăn thêm  ung  ịch chua ngọt có  
sức đẻ trứng cao nhất (654,13 quả/cái) so với dung dịch mật ong 20, 10% và nước lã.  
Sâu non ăn lá ngô có khối lượng nhộng lớn hơn ăn lá ớt và lá hướng  ương. Trưởng  
thành sâu xanh chọn đẻ trứng trên cây cà chua nhiều nhất (39,3 quả/cái/đêm) so với cây  
ngô, cà pháo, ớt, đậu bắp ở mức xác suất P<0,5). Bắp ngô ngọt hấp dẫn sâu non đến ăn  
nhất (37,50%) so với bắp ngô Nếp (Lào), HN88 và VN6. Thức ăn giai đoạn sâu non có  
ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh học cơ  ản của sâu xanh. Với thức ăn là hạt ngô chín  
sữa, hệ số nhân một thế hệ (R0) cao hơn R0 thức ăn giá đỗ (654,10 và 424,11); nhưng  
Giới hạn tăng tự nhiên (λ) và Tỷ lệ tăng tự nhiên (rm) tương tự nhau. Côn trùng ký sinh  
bộ cánh màng (15 loài) có quan hệ mật thiết với sâu cánh vảy trên ngô lai ở Viêng  
Chăn, Lào năm 2018-2019. Trong đó 11 loài đã xác định được vật chủ là những loài sâu  
hại quan trọng ở điểm nghiên cứu.  
4. Ở mật độ gieo trồng 6,3 cây/m2; mật độ sâu xanh cao hơn (1,52 con/m2) so với  
các mật độ 5 cây và 4 cây/m2. Biện pháp sử dụng cây dẫn dụ bao quanh ruộng ngô làm  
giảm mật độ sâu xanh rõ rệt so với ngô trồng thuần. Biện pháp luân canh với cây trồng  
trước hầu như không ảnh hưởng tới mật độ sâu xanh. Trong phòng thí nghiệm, 3 loại  
thuốc hóa học (Senchez 5SC, Thensoo 35EC, Thaiger 40EC) có hiệu lực cao ở 72 giờ  
sau phun đối với sâu non tuổi 1-3 (84-96). Các thuốc sinh học (Tas'ieu 5WG và VBTusa  
WP 16000IU/mg) có hiệu lực thấp hơn (61,54-75%). Ngoài đồng, 3 loại thuốc hóa học  
đều đạt hiệu lực cao hơn 2 thuốc sinh học ở 10 ngày sau phun.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Hatsada VIRACHACK  
Thesis title: Study on biological and ecological characteristics and control methods of  
the corn earworm Helicoverpa armigera Hübner (Lepidoptera: Noctuidae) in Hanoi,  
Vietnam and Vientiane, Laos.  
Major: Plant protection  
Code: 9. 62. 01. 12  
Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
On the basic research data on morphological, biological and ecological  
characteristics of H. armigera on maize; Determine the number position and dispersion  
of corn earworm and the data of some preventive measures against corn earworm to  
achieve appropriate solutions for management and control this pest on maize economic  
efficiency and environmental friendly.  
Materials and Methods  
- The determination of lepidopterous insect pests composition and the density  
variation of the corn earworm H. armigera ware followed the method of the Plant  
Protection Research Institute (1997) and National technical regulation on Surveillance  
method of corn pests QCVN 01-168: 2014 (MARD, 2014).  
- Studies on the morphological, biological and ecological characteristics of the  
corn earworm H. armigera was conducted following the conventional method for  
researching insects (Amer and El-Sayed, 2014; Ratna & cs., 2014). The corn earworm  
H. armigera was reared individually under controlled condition (stable temperature,  
relative humidity, food source and space) for evaluating the intrinsic rate of natural  
increase (Birch, 1948).  
- Using Abbott and Henderson Tilton formular to evaluate the effectiveness of  
some insecticides in controlling corn earworm H. armigera in laboratory and on the  
field.  
Main findings and conclusions  
1. The composition of pests on maize in Hanoi, Vietnam and Vientiane, Laos in  
2017-2019 is about 25 species belonging to 4 families. Among them, Noctuidae has the  
highest number of species (10 species). In Vientiane, Laos, pests are more diverse than in  
Hanoi, Vietnam (21 versus 13 species). Two species with high frequency are Asian corn  
borer (O. furnacalis) and corn earworm (H. armigera). The fall armyworm (S. frugiperda)  
is a new species of maize pest list with high frequency. The number of corn earworm  
ranked second after corn stem borer species in the corn lepidopterous pest in Vientiane,  
xii  
 
Laos in 2018-2019. The year-round circular of corn earworm is on 11 types of plants  
present in Vientiane, Laos.  
2. Adult H. armigera mainly emerges in the morning (6-10 am at a rate of 52.64%).  
Pupae take place in soil at depth > 2-4cm (90%). The life cycle of corn earworm in the  
condition of temperature - humidity is on average 30.1oC; 79.4% is 35.54 days; Adults  
longevity average of 8.9 days and lay 427.55 eggs/female; The rate of egg hatching  
average is 67.3%; The survival rate of preadult in the average temperature-humidity  
condition of 25±1oC, 70±10% is very high (> 85.33%. The sex ratio is relatively  
balanced. Average eating capacity of corn leaves is 4.81g leaf/ind. Larva from 3rd instar  
are competition interspecific. Larva from 4th to 6th instar are strong interspecific  
competition.  
3. The values of survival rate and pupae weight at 3 temperature levels (20, 25 and  
30oC) were 48.57; 64.29; 75.71% and 201.77; 222.44 and 236.23mg/pupa respectively.  
The thermal constant (K) and the lower developmetal threshold (To) of the corn  
earworm life cycle are 526.3 and 10.2oC.  
The developmental time of larvae is longest when eating local maize (25.57 days).  
Larvae feeding pollen (flagging period) have the shortest time (16.67 days). Larvae  
feeding chili leaves have a longer development time than eating corn leaves and  
sunflower leaves. Adults fed sweet and sour solution has the highest egg laying capacity  
(654.13 eggs/female) compared to 20, 10% honey solution and water. The food feeding at  
larval stage affects the pupae weight. Thouse feeding corn leaves become biger pupae  
than thouse feeding chili leaves and sunflower leaves. The host plant influences the choice  
for laying eggs of corn earworm adults. Among 5 experimental plants, tomato was the  
most likely choosen (39.3 eggs/couple/night) compared to the maize, egg plant, chili and  
okra at significantly P< 0.05. Sweet corn is the most attractive (37.50%) compared to  
sticky variety (Laos), HN88 and VN6. Food in the larval stage affects the basic biological  
characteristics of corn earworms. With food of milky seed, the multiple coefficient of one  
generation (R0) is higher than R0 of bean sprout that larvae feeding (654.10 and 424.11);  
but the Natural increase limit (λ) and the Natural increase rate (Rm) are similar.  
4. At the planting density of 6.3 plants/m2, the highest density of corn earworm (1.52  
ind./m2) compared with 0.92 and 0.82 ind./m2 in the planting densities of 5 and 4  
plants/m2. The use of attractant plants (sunflower, crisanthemum) surrounding corn fields  
reduces the density of corn earworm significantly compared to pure maize. Crop rotation  
with previous crops has almost no effect on the density of corn earworm. In the  
laboratory, 3 chemical insecticides (Senchez 5SC, Thensoo 35EC, Thaiger 40EC) have  
high effectivines at 72 hours after spraying for larval instar 1-3 year old (84-96%). Bio-  
insecticides (TAS'IEU 5WG and VBTusa WP) had lower efficacy (61.54-75%) at 72  
hours after spraying. In the field, 3 chemical insecticides are more effective (82.19-  
85.77%), than 2 bio-insecticides (74.5 and 51.29%).  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Cây ngô (Zea mays L.) thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) là cây lương thực quan  
trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Ngô có nguồn gốc từ Mexico thuộc Trung Mỹ,  
sau đó được phát triển và trồng khắp châu Mỹ. Theo thời gian, từ khi người châu  
Âu tìm ra châu Mỹ thì cây ngô được lan tỏa ra khắp thế giới (Joses, 2009). Ngô  
cung cấp khoảng 72% tinh bột, 10% protein và 4% chất béo, cung cấp năng  
lượng 365 Kcal/100 g (Nuss & Tanumihardjo, 2010). Ngày nay, ngô đã trở thành  
thực phẩm chính ở nhiều nơi trên thế giới. Ở một số khu vực nghèo nhất thế giới  
như Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh, ngô đã trở thành nền tảng cho an  
ninh lương thực. Ngô là loại ngũ cốc có sản lượng cao nhất hàng năm, khoảng  
1041,7 triệu tấn vào năm 2017/2018 (so với lúa gạo là 486,3 triệu tấn và 758,5  
triệu tấn ở lúa mì) (USDA, 2018).  
Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai, sau cây lúa, nó cũng  
là loại lương thực chính đối với các đồng bào dân tộc ít người. Ngoài ra, ngành  
chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển, tạo ra nhu cầu sử dụng nhiều ngô hơn làm  
thức ăn chăn nuôi (Dang Thanh Ha & cs., 2004). Từ năm 2010 mức tăng về năng  
suất gấp 2,6 lần và sản lượng tăng 7 lần so với mốc năm 1990 (Trần Kim Định &  
cs., 2013). Theo Cục Xúc tiến thương mại Việt Nam (2016) diện tích thu hoạch  
năm 2016 đạt 1,3 triệu ha, năng suất ngô trung bình 4,6 tấn/ha, sản lượng đạt 5,98  
triệu tấn. Mục tiêu đến năm 2020,  iện tích ngô đạt 1,4 triệu ha, năng suất đạt 5,5-  
6,0 tấn/ha, sản lượng 8,4 triệu tấn (Đỗ Văn Ngọc, 2016). Trong những năm gần  
đây, năng suất và sản lượng ngô ở nhiều khu vực trên thế giới giảm đáng kể do ảnh  
hưởng của khô hạn (Huỳnh Thị Thu Huệ & cs., 2018).  
Ở nước CHDCND Lào, sản xuất ngô hàng năm được mở rộng về diện tích,  
năng suất và sản lượng ngày một nâng cao. Năm 2015, cả nước có diện tích ngô tẻ  
223.210 ha năng suất 5,53 tấn/ha, sản lượng 1.234,065 tấn và ngô ngọt cả nước có  
30,815 ha, năng suất 9,16 tấn/ha, sản lượng 282,185 tấn (Cục Trồng trọt Lào, 2015).  
Tuy nhiên, như  ao cây trồng khác, ngô bị nhiều loài sâu hại tấn công (...).  
Trong đó những loài gây hại nghiêm trọng phải kể đến nhóm sâu đục thân, đục  
bắp. Sâu xanh Helicoverpa armigera là đối tượng đục bắp quan trọng, ảnh hưởng  
tới chất lượng bắp ngô. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tình hình sâu hại trên  
1
   
ngô còn rất khiêm tốn và chưa có thông tin nghiên cứu về sâu xanh trên cây trồng  
nói chung, trên cây ngô nói riêng.  
Xuất phát từ tình hình thực tế, nghiên cứu sâu xanh và biện pháp phòng  
chống loài sâu này trên ngô đang là vấn đề cấp thiết cho sản xuất ngô ở Lào.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Trên cơ sở những số liệu nghiên cứu về thành phần sâu hại bộ cánh vảy trên  
ngô, vị trí số lượng và sự chu chuyển của sâu xanh Helicoverpa armigera  
(Hübner) trên ngô; đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu  
xanh, từ đó đề xuất biện pháp phòng chống sâu xanh đạt hiệu quả kinh tế và thân  
thiện với môi trường.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Xác định được thành phần loài sâu hại bộ cánh vảy (Lepidoptera) trên ngô  
tại Hà Nội, Việt Nam và Viêng Chăn, Lào năm 2017- 2019; Điều tra xác định vị  
trí số lượng và sự chu chuyển của sâu xanh tại vùng nghiên cứu;  
- Xác định được đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài sâu  
xanh H. armigera trên cây ngô;  
- Đề xuất một số biện pháp phòng chống sâu xanh hại ngô tại Viêng Chăn, Lào.  
1.3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu  
Sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner) hại ngô (Lepidoptera, Noctuidae).  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Đề tài tập trung nghiên cứu thành phần sâu hại thuộc bộ cánh vảy trên ngô  
tại Hà Nội, Việt Nam và Viêng Chăn, Lào trong 3 năm 2017-2019. Nghiên cứu  
đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu xanh H. armigera hại ngô và đánh  
giá một số biện pháp phòng chống sâu xanh tại Viêng Chăn, Lào.  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
- Ghi nhận được thành phần loài sâu hại bộ cánh vảy trên ngô tại Viêng  
Chăn, Lào gồm 21 loài và 13 loài tại Hà Nội, Việt Nam; sâu keo mùa thu  
Spodoptera frugiperda (Smith) là loài mới xuất hiện trên ngô. Điều tra thu được  
2
             
15 loài côn trùng ký sinh sâu cánh vảy trên ngô tại Viêng Chăn, Lào thuộc 3 họ  
(Braconidae, Ichneumonidae và Chalcididae) của bộ cánh màng, trong đó 10 loài  
đã xác định được vật chủ.  
- Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về tổng tích ôn hữu hiệu, ngưỡng khởi  
điểm phát dục, tỷ lệ tăng tự nhiên, hệ số nhân của một thế hệ và thời gian tăng  
đôi quần thể của sâu xanh H. armigera trên ngô.  
- Bổ sung dẫn liệu về hiệu quả của một số biện pháp phòng chống sâu xanh  
H. armigera hại ngô.  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
Kết quả nghiên cứu của luận án là một trong những công trình đầu tiên cung  
cấp cho khoa học danh lục thành phần sâu hại bộ cánh vảy trên ngô tại Viêng  
Chăn, Lào gồm 21 loài thuộc 4 họ. Trong đó có 11 loài mới so với danh lục sâu  
hại bộ cánh vảy trên ngô đã phát hiện ở Việt Nam đến năm 2013 (họ Ngài sáng 3  
loài, Ngài đêm 4 loài, Ngài độc 2 và Ngài đèn 2). Song có 14 loài ở Lào chưa thu  
được so với danh lục sâu hại bộ cánh vảy trên ngô ở Việt Nam của Phạm Văn  
Lầm (2013), đó là họ Bướm mắt rắn 4 loài, họ Bướm nhảy 2 loài, họ Ngài đêm 4  
loài, họ Ngài sáng 4 loài.  
Luận án đã  ổ sung những dẫn liệu khoa học cơ  ản về đặc điểm sinh vật  
học, sinh thái học của sâu xanh H. armigera trên cây ngô. Xác định được tổng  
tích ôn hữu hiệu, ngưỡng khởi điểm phát dục, tỷ lệ tăng tự nhiên... của sâu  
xanh trên ngô.  
Luận án còn cung cấp tình hình diễn biến mật độ của sâu xanh trên ngô tại  
Hà Nội, Việt Nam và Viêng Chăn, Lào  ưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh  
thái cũng như cung cấp những dẫn liệu mới về hiệu quả của một số biện pháp  
phòng chống sâu xanh hại ngô tại Naxaythong, Viêng Chăn, Lào.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Dựa trên các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của  
sâu xanh H. armigera trên cây ngô và thử nghiệm một số biện pháp phòng chống  
sâu xanh để đề xuất biện pháp phòng chống chúng một cách hợp lý, đem lại hiệu  
quả kinh tế và môi trường.  
3
     
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU  
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI  
Sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae) là loài  
đa thực phân  ố rộng khắp châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và Châu Đại  
Dương (Lammers & Macleod, 2007; EPPO, 2019). Và là loài dịch hại quan trọng  
nhất trên cây trồng nông nghiệp trên toàn thế giới (Leite & cs., 2016; Fábio &  
cs., 2017). Tại Ấn Độ, Devi & Singh (2001) cho biết một số lượng lớn sâu xanh  
đã được quan sát trên ruộng cây trồng vụ đông, như thuốc lá, cải bắp, súp lơ, đậu  
tương,… trong khoảng từ tháng 2 tới tháng 4. Sau khi cây trồng vụ đông được  
thu hoạch, sâu xanh chuyển sang cây trồng vụ hè như ngô, đậu bắp, đậu đũa và  
cà chua vụ muộn,… trong khoảng từ tháng 6 tới tháng 7. Sự gây hại của H.  
armigera nghiêm trọng nhất vào tháng 3 và tháng 4, những cây ký chủ như đậu  
gà, cà chua và hướng  ương  ị gây hại nặng.  
Theo Lammers & Macleod (2007), H. armigera có thể lây lan phát tán rất  
nhanh cùng với thực vật hoặc các sản phẩm từ thực vật qua việc thông thương từ  
những vùng nhiễm sâu bệnh tới v ng chưa nhiễm sâu bệnh. Từ năm 1998, các  
nước EU đã thông  áo cho Ủy ban 33 lần về sự có mặt của sâu xanh trong các lô  
hàng của EU, chủ yếu là các sản phẩm từ Tây Ban Nha. H. armigera cũng có thể  
di chuyển rất xa nhờ gió đẩy trong tự nhiên. Ngoài ra H. armigera còn có thể lây  
lan phát tán tới 1000 km để tới nước Anh và những vùng khác của Châu Âu từ  
phía nam Châu Âu và phía bắc Châu Phi. Những cá thể  i cư đã được quan sát  
thấy ở Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Estonia, Latvia, Slovenia, Cộng hòa Séc và  
Ba Lan (EPPO, 2006). Cho dù vậy, sự phân bố địa lý của H. armigera không tăng  
nhanh. Sâu xanh H. armigera được quan sát thấy lần đầu tiên tại Hungary  
vào năm 1951 nhưng tới tận năm 2003 mới xuất hiện tại nước láng giềng Áo  
(CABI, 2017).  
Những đặc tính là di chuyển nhanh, phổ ký chủ rộng, tốc độ sinh sản nhanh  
và có khả năng ngừng sinh sản đều giúp sâu xanh nhanh chóng thích nghi với môi  
trường mới. Hiện nay, việc quản lý sâu xanh H. armigera phần lớn vẫn phụ thuộc  
vào thuốc trừ sâu. Tính kháng thuốc đã làm giảm hiệu lực của thuốc, dẫn đến việc  
phải sử dụng nhiều loại thuốc với nồng độ cao hơn để quản lý chúng. Chi phí để  
đánh giá tính kháng thuốc của sâu xanh rất khó ước tính, và ít khi được đưa vào  
các phân tích kinh tế về chiến lược quản lý sinh vật hại (Plapp, 1987).  
4
   
Cho đến nay, những nghiên cứu về sâu xanh trên ngô một cách hệ thống ở  
Việt Nam và Lào hầu như chưa được đề cập đến. Thêm vào đó, tập tính gây hại  
của sâu xanh trên ngô khá nguy hiểm (đục vào bắp, cắn cụt râu bắp), gây ảnh  
hưởng đến năng suất và chất lượng bắp ngô; Đồng thời sâu xanh có tính kháng  
thuốc cao là cơ sở khoa học để nghiên cứu, nhằm đề xuất biện pháp phòng chống  
loài sâu hại này một cách hợp lý, góp phần làm giảm tác hại của chúng, bảo vệ  
sản xuất ngô, bảo vệ nguồn thiên địch có sẵn trong tự nhiên và quản lý sinh vật  
hại hiệu quả hơn.  
2.2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI, VIỆT NAM VÀ LÀO  
2.2.1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới  
2.2.1.1. Tình hình sản xuất ngô  
Xu hướng phát triển cây ngô trên thế giới có những thay đổi đáng chú ý,  
năm 2001,  iện tích là 140,20 triệu ha, năng suất trung bình 4,3 tấn/ha và tổng  
sản lượng 600 triệu tấn; năm 2010,  iện tích đạt 155,93 triệu ha; năng suất đạt  
5,35 tấn/ha; tổng sản lượng 835 triệu tấn. Trong đó, các nước đang phát triển  
có tổng sản lượng 383,6 triệu tấn (chiếm 45,9%) (FAOSTAT, 2012) và chiếm  
khoảng 73% tổng diện tích ngô thế giới (Prasanna, 2011). Theo USDA (2014),  
niên vụ 2013-2014 sản lượng ngô đạt 1.065,22 triệu tấn, tăng lên 89,18 triệu  
tấn so với 2011-2012, tăng 114,69 triệu tấn so với 2012-2013. Diện tích trồng  
ngô của thế giới có xu hướng giảm, nhưng sản lượng lại có xu hướng tăng.  
Tốc độ tăng trưởng của sản xuất ngô hàng năm trung  ình trên thế giới trong  
giai đoạn 2000 – 2008 là: 2,2% diện tích, 2,3% về sản lượng và 4,9% về năng  
suất. Dự báo từ năm 2011 đến năm 2050, nhu cầu về ngô ở các nước đang  
phát triển sẽ tăng gấp đôi, và đến năm 2025 ngô sẽ trở thành cây trồng có nhu  
cầu sản xuất lớn nhất trên toàn cầu và ở các nước đang phát triển (CIMMYT,  
2011). Số liệu USDA (2020a), diện tích, năng suất và sản lượng ngô niên vụ  
2018/2019 và 2019/2020 tương ứng là 191,90; 192,45 triệu ha; 5,85; 5,79  
tấn/ha và 1.123,28; 1.13,35 triệu tấn. USDA (2020b) dự kiến sản lượng ngô  
thế giới niên vụ 2020/2021 sẽ là 1.186,86 triệu tấn, tăng 6,47% so với niên vụ  
trước đó.  
Trong số các quốc gia trồng ngô, Hoa Kỳ (Mỹ) luôn chiếm vị trí về diện  
tích và sản lượng ngô, là một trong những quốc gia có năng suất ngô cao (>9,6  
tấn/ha), gần như gấp đôi so với trung bình thế giới (5,2 tấn/ha) (FAOSTAT,  
5
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 212 trang myanh 21680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae) đục bắp ngô tại Hà Nội, Việt Nam và Viêng Chăn, Lào", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_dac_diem_sinh_hoc_sinh_thai_va_bien_phap.pdf
  • pdfBVTV - TTLA - Hatsada.pdf
  • pdfTTT - Hatsada.pdf