Luận án Nghiên cứu chọn tạo dòng bất dục đực tế bào chất và dòng duy trì mới phục vụ cho chọn giống lúa lai ba dòng ở Việt Nam

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
BÙI VIẾT THƯ  
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO DÒNG BẤT DỤC ĐỰC  
TẾ BÀO CHẤT VÀ DÒNG DUY TRÌ MỚI PHỤC VỤ  
CHO CHỌN GIỐNG LÚA LAI BA DÒNG Ở VIỆT NAM  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
BÙI VIẾT THƢ  
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO DÒNG BẤT DỤC ĐỰC  
TẾ BÀO CHẤT VÀ DÒNG DUY TRÌ MỚI PHỤC VỤ  
CHO CHỌN GIỐNG LÚA LAI BA DÒNG Ở VIỆT NAM  
Chuyên ngành : Di truyền và chọn giống cây trồng  
Mã số  
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:  
PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm  
: 9620 111  
PGS.TS. Vũ Thị Thu Hiền  
HÀ NỘI - 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng để bảo  
vệ lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cám  
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày 19 tháng 03 năm 2018  
Tác giả luận án  
Bùi Viết Thƣ  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận đƣợc  
sự hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,  
đồng nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi đƣợc bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn  
sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm và PGS.TS. Vũ Thị Thu Hiền đã tận tình hƣớng  
dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập  
và thực hiện đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,  
Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng, Ban chủ nhiệm Khoa Nông học, Học viện  
Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài  
và hoàn thành luận án. Tôi cũng xin đƣợc cảm ơn nhà giáo Nguyễn Đình Hiền đã nhiệt  
tình giúp đỡ trong quá trình xử lý số liệu kết quả của luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên bộ phận R & D, cán bộ,  
công nhân Trung Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai thuộc Công ty TNHH Syngenta Việt  
Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn cha mẹ, vợ, các con trai, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ  
tôi trong nghiên cứu khoa học cũng nhƣ trong đời sống góp phần thúc đẩy việc hoàn  
thành luận án này./.  
Hà Nội, ngày 19 tháng 03 năm 2018  
Nghiên cứu sinh  
Bùi Viết Thƣ  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
25A  
Chữ viết đầy đủ/nghĩa tiếng Việt  
IR58025A  
25B  
IR58025B  
TGST  
CMS  
Thời gian sinh trƣởng  
Cytoplasm Male Sterility (Bất dục đực tế bào chất)  
Single Nucleotype Polymorphism (Đa hình nucleotit đơn)  
Marker Assisted Selection (Chọn lọc nhờ chỉ thị phân tử)  
Wide Abortion (bất dục dạng dại)  
Themosensitive Genetic Male Sterility  
(Bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm nhiệt độ)  
Gentic Male Sterility (Bất dục đực nhân)  
Indonesia Type (Dạng Indonesia)  
Quantitative Trait Loci (Locus tính trạng số lƣợng)  
International Rice Research Institute  
(Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế)  
Food and Agricultural Oganization  
(Tổ chức Nông nghiệp và Lƣơng thực Liên Hiệp Quốc)  
Nhiễm sắc thể  
SNP  
MAS  
WA  
TGMS  
GMS  
ID  
QTL  
IRRI  
FAO  
NST  
BC  
Back cross (Lai trở lại)  
D/R  
KL  
Tỷ lệ dài/rộng  
Khối lƣợng  
TGST  
NS  
Thời gian sinh trƣởng  
Năng suất  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
Kết quả quan sát con lai F1 triển vọng trong vụ Xuân 2017  
ix  
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Bùi Viết Thƣ  
Tên Luận án: “Nghiên cứu chọn tạo dòng bất dục đực tế bào chất và dòng duy trì mới  
phục vụ cho chọn giống lúa lai ba dòng ở Việt Nam”  
Chuyên ngành: Di truyền và chọn giống cây trồng  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mã số: 9620 111  
Nghiên cứu chọn tạo đƣợc căp dòng A/B bất dục ổn định, mới có kiểu cây cải tiến,  
thời gian sinh trƣởng ngắn, năng suất cao, chất lƣợng tốt, khả năng nhận phấn ngoài của dòng  
A đƣợc cải thiện, làm đa dạng nguồn vật liệu từ đó tạo tổ hợp lúa lai ba dòng mới tốt, ổn định  
và thích ứng với điều kiện sản xuất của Việt Nam.  
Phƣơng pháp nghiên cứu  
Thí nghiệm đánh giá các đặc điểm nông sinh học, bất dục đực, khả năng chống  
chịu sâu bệnh trên đồng ruộng và lây nhiễm nhân tạo bệnh bạc lá, khô vằn… của nguồn  
vật liệu và các thế hệ lai theo phƣơng pháp của IRRI, 2002.  
Vật liệu sử dụng là IR58025A/B, BoA/B, II-32A/B, 21 dòng R triển vọng, giống  
đối chứng là tổ hợp Nhị ƣu 838, Thái Xuyên 111.  
Lai tạo theo phƣơng pháp truyền thống: Lai hữu tính, lai đơn khử đực thủ công,  
lai giữa dòng bất dục đực với dòng duy trì và dòng phục hồi nhờ thụ phấn bằng tay,  
cách ly bằng bao cách ly chuyên dụng.  
Kết quả chính và kết luận  
Kết quả chính  
- Lai hữu tính 2 dòng duy trì (B) mới với nhau có thể kết hợp đƣợc những tính  
trạng mong muốn vào một dòng B mới (kể cả khả năng duy trì bất dục đực tế bào chất  
cho những dạng bất dục đực tế bào chất khác nhau).  
- Tế bào chất bất dục ảnh hƣởng rất lớn đến độ ổn định của tính bất dục nhƣng  
ít ảnh hƣởng đến mức độ biểu hiện của con lai về kiểu hình thân lá, dạng hình, dạng hạt  
và năng suất của con lai F1.  
- Tạo ra đƣợc 18 dòng B mới có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt trong đó 9 dòng B  
duy trì bất dục dạng WA và 9 dòng B duy trì cho cả hai dạng bất dục WA và ID.  
- Tạo ra đƣợc 8 dòng A có nhiều đặc điểm tốt nhƣ thời gian sinh trƣởng ngắn,  
khả năng đẻ nhánh tốt, độ thò vòi nhụy cao, độ bất dục ổn định.  
xi  
 
- Giới thiệu 05 tổ hợp lai có năng suất cao, chất lƣợng tốt, thời gian sinh trƣởng  
phù hợp với cơ cấu mùa vụ hiện nay.  
Kết luận  
1) Khi lai hai dòng B có cùng (hoặc khác) kiểu duy trì tế bào chất bất dục đực và  
có các tính trạng nông sinh học khác nhau rồi chọn lọc liên tục các thế hệ phân ly, có  
thể tìm ra các dòng B mới thuần vừa tích hợp đƣợc các tính trạng mong muốn từ các  
dòng khởi đầu, vừa giữ đƣợc khả năng duybất dục cho các dòng A tƣơng ứng. Từ tổ  
hợp lai IR58025B/BoB (duy trì cùng kiểu WA) chọn đƣợc đã chọn đƣợc 9 dòng B1 và  
từ tổ hợp lai IR58025B/II-32B (duy trì kiểu WA và ID) cũng chọn đƣợc 9 dòng B2. Các  
dòng B1, B2 này đã tích hợp đƣợc một số tính trạng mong muốn từ các dòng khởi đầu  
nhƣ TGST ngắn, kiểu cây đẹp, đẻ nhánh khỏe, bông to nhiều hạt, có hƣơng thơm, tỷ lệ  
thò vòi nhụy cao và có khả năng duy trì bất dục cho các dòng A tƣơng ứng.  
2) Khi lai các dòng B mới chọn tạo mang tính trạng ƣu việt với các dòng A khởi  
đầu đã thu đƣợc con lai bất dục, tiếp tục lai trở lại các cặp bất dục với các dòng B đến  
BC6F1 thu đƣợc các cặp A/B mới thuần với đầy đủ tính trạng đã chọn ở các dòng B  
mới. Đề tài đã thực hành lai 9 dòng B1 và 9 dòng B2 với 3 dòng A khởi đầu và chọn lọc  
thực nghiệm đƣợc 8 dòng A mới trong đó 4 dòng mang tế bào chất kiểu WA và 4 dòng  
mang tế bào chất kiểu (WA và ID) các dòng A mới có thời gian sinh trƣởng từ giep đến  
trỗ phù hợp cho sản xuất hạt lai (72-78 ngày) trong vụ Mùa, thân cây cứng thấp (54-79  
cm), lá đứng xanh đậm, đẻ khỏe (8-11 bông/khóm), bông to nhiều hạt (172-197  
hạt/bông) dạng hạt ton dài, một số dòng có hƣơng thơm, hàm lƣợng amylose thấp, tỷ lệ  
thò vòi nhụy cao (60-73%) nhận phấn ngoài tốt.  
3) Đánh giá 40 tổ hợp lai giữa 8 dòng A mới với 5 dòng R đã xác định đƣợc 4  
dòng A mới là A2-17, A3-4, A4-7 và A4-8 có khả năng kết hợp riêng cao ở các yếu tố  
cấu thành năng suất đặc biệt là năng suất cá thể, 4 dòng này cho con lai có ƣu thế vƣợt  
trội so với Nhị ƣu 838 và đã chọn ra đƣợc 2 tổ hợp lai ƣu tú là A2-17/R632 và A3-  
4/R1532. Đánh giá 19 tổ hợp lai trong tổng số 121 tổ hợp lai thử giữa 8 dòng A và 16  
dòng R mới đã chọn đƣợc 3 tổ hợp lai ƣu tú là A4-8/R2210, A3-4/R93 và A2-9/R2214  
có thời gian sinh trƣởng ngắn, năng suất cao hơn đối chứng Nhị ƣu 838 từ 11-35%,  
dạng hình cây và chất lƣợng đƣợc cải thiện có thể đƣa vào khảo nghiệm so sánh ở các  
vùng sinh thái và tiến tới đƣa vào hệ thống khảo nghiệm quốc gia.  
xii  
THESIS ABTRACT  
PhD candidate: Bui Viet Thu  
Thesis title: “Breeding new male sterility and maintainance lines to support for three  
lines hybrid breeding in Vietnam”  
Major: Genetics and plan breeding  
Code: 9620 111  
Educational organization: Vietnam National University of Agricultural (VNUA)  
Research Objectives  
Study and breeding new A and B lines with good characteristics, good plan type,  
short growth duration, good quality, high out crossing and using different cytoplasm types  
to use for three line hybrid breeding for stable and wide adaptation in Vitenam contidions.  
Materials and Methods  
Methods:  
- Experiments to evaluate agronomy characteristics, sterility, and pest, diseases  
tolerant in hot spot and artificial inoculate condition of source materials and newly  
developed materials follow IRRI standard, 2002  
- Materials: IR58025A/B, BoA/B, II-32A/B, 21 R promosing lines, Nhi uu 838,  
Thai Xuyen 111 combination.  
- Crossing method: Used conventional crossing method, emasculation crossing,  
crossing between CMS and maintenance lines by hand pollinated and cover by  
pollination bags.  
Main findings and conclusions  
Main findings  
+ The results showed that can be developed new B lines with combining good  
characteristics from different B lines even they can be maintain for different cytoplasm types.  
+ Cytoplasm can be effected to stable of sterility but not contribute to hybrid  
performance like plant type, grain shape, and yield.  
+ Developed 18 new B lines have good agronomy characteristics 9 of them can be  
maintain for WA type and other 9 lines can be maintain for both WA and ID type.  
+ Developed 8 new CMS have good characteristics like good tillering ability,  
short growth duration, high stigma exsersion etc.  
+ Introduced 5 combinations have high yield, good quality, suitable grow duration  
for Vietnam condition.  
xiii  
 
Conclusions  
1) Crossing two B lines maintain for same or different cytoplasm male sterility  
have diferent characteristics, after selection of some generations can be developed new  
B lines with desirable charateristics from their parents. From combination of  
IR58025B/BoB (maintainance for WA type) 9 B1 were developed and from  
combination of IR58025B/II-32B (maintainance for WA and ID respectively) 9 B2  
lines were developed. B1 and B2 lines have some desirable traits like short grow  
duration, good plant type, high tillering ability, big panicle and high number of  
spikelet/panilcle, high stigmar exsersion, some of them have aroma and can be  
maintained for their respectively A lines.  
2) When crossed new B lines developed with orginal A lines their F1 were  
sterile, contiuous backcross these F1 with B lines up to BC6 F1 were developed to new  
A/B pairs inherit all most desirable traits of new B lines. This study were corossed 9 B1  
and 9 B2 lines with 3 original A lines, results harvested 8 CMS (Alines) 4 of them have  
WA type of cytoplasm and other 4 lines have both WA and ID types of cytoplasm. The  
new developed A lines have suitable grow duration (72-78 days) from sowing to  
flowering in summer season, short and strong sterm (54-79 cm), strait leafs, high  
tillering ability (8-11 panicle/hill), big panicle (172-197 spikelets), slender grain type,  
some of them have aromar, low amylose, high stigmar exsersion (60-73%) high out  
crossing.  
3) Evaluated 40 combination of 8 new A lines with 5 R were identified 4 A  
lines are A2-17, A3-4, A4-7, A4-8 had specific combining ability of yield componences  
expecial plant yield. These F1 of 4 A lines gave higher yield compare to Nhiuu 838 and  
two promising combinations A2-17/R632 và A3-4/R1532 were selected. Evaluated 19  
combinations out of 121 combinations of 8 A lines with 16 R lines, 3 promissing  
combinations A4-8/R2210, A3-4/R93 and A2-9/R2214 were selected. Those hybrids  
have suitable growth duration, higher yield compare to check Nhiuu 838 from 11-35%,  
good plan type, improved grain quality and can be sent for evaluation in testing  
locations and after that for national registration trials.  
xiv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Lúa lai là một trong những thành tựu khoa học nông nghiệp lớn nhất thế  
giới trong nửa cuối của thế kỷ 20. Trong sản xuất, lúa lai có thể cho năng suất  
cao hơn lúa thuần 20-30% theo Yuan et al. (1988). Lúa lai đƣợc sử dụng lần  
đầu tiên vào năm 1976, đến năm 1996, diện tích gieo trồng đã chiếm 50% tổng  
diện tích trồng lúa của Trung Quốc, thành công này đã tạo tiền đề cho phát triển  
lúa lai ở nhiều nƣớc trồng lúa trong đó có Việt Nam.  
Ở Việt Nam, lúa lai bắt đầu đƣợc nghiên cứu từ những năm 1980 tại một  
số đơn vị nghiên cứu với các vật liệu chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc, Viện  
nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và Ấn Độ. Với phƣơng châm đi tắt, đón đầu, áp  
dụng những thành tựu khoa học về lúa lai trên thế giới, Việt Nam đã thu đƣợc  
những thành quả rất đáng khích lệ. Đến năm 2013, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã  
công nhận 71 giống lúa lai, trong đó nhập nội là 52 giống và chọn tạo trong nƣớc  
là 19 giống. Trong số các giống đã công nhận có 60 giống là giống lúa lai ba  
dòng, 11 giống là giống lúa lai hai dòng (Phạm Văn Thuyết và cs., 2015). Năm  
2016 diện tích trồng lúa lai đạt 650 ngàn ha chiếm 9% diện tích trồng lúa của cả  
nƣớc (Cục Trồng trọt, 2016). Tuy nhiên, trong số hơn 600 ngàn ha thì các giống  
lúa lai ba dòng chiếm trên 70% hơn nũa các giống lúa lai ba dòng chọn tạo trong  
nƣớc đƣợc công nhận thì vẫn phải sử dụng dòng mẹ nhập nội. Mặt khác đa số  
giống lúa lai đang đƣợc trồng ở Việt Nam hiện nay đƣợc nhập khẩu từ Trung  
Quốc (khoảng 70% lƣợng hạt giống lúa lai mỗi vụ). Việc phụ thuộc giống từ  
nƣớc ngoài khiến chúng ta không kiểm soát đƣợc kế hoạch sản xuất cũng nhƣ  
giá cả và chất lƣợng hạt giống.  
Góp phần giải quyết những tồn tại trên, các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp  
đã nhập nội một số dòng bố mẹ để nghiên cứu thử nghiệm sản xuất hạt lai F1 trong  
nƣớc. Dòng bất dục IR58025A (từ IRRI) đƣợc dùng để tạo ra một số giống lúa lai 3  
dòng nhƣng sau nhiều vụ triển khai sản xuất, diện tích không thể mở rộng đƣợc do  
năng suất hạt lai thấp, dẫn đến giá thành hạt giống cao. Theo các nhà nghiên cứu thì  
nguyên nhân chính dẫn đến năng suất F1 thấp là do dòng mẹ IR58025A có khả năng  
nhận phấn ngoài rất kém. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhập dòng bất dục II-32A từ  
1
   
Trung Quốc để sản xuất một số giống lúa lai ba dòng nhƣ Nhị ƣu 63, Nhị ƣu 838,  
CT16, Nam ƣu 604…. Các giống này mở rộng diện tích trong sản xuất khá nhanh  
do năng suất hạt lai F1 cao, có thể đạt 4-5 tấn/ha (Cục Trồng trọt, 2012) vì dòng mẹ  
nhận phấn ngoài tốt hơn nên trong điều kiện tự nhiên của Việt Nam, sản xuất F1  
đảm bảo đƣợc sự ổn định về năng suất cũng nhƣ chất lƣợng. Tuy nhiên, việc duy trì  
dòng mẹ II-32 A rất khó khăn và chƣa thành công tại Việt Nam. Dòng bất dục II-  
32A (nguồn gốc đột biến) là dòng đƣợc chọn từ quần thể đột biến Inđonexia-6 nên  
tính bất dục không ổn định khi nhân dòng mẹ.  
Từ những năm 90, các tổ hợp dùng dòng BoA làm mẹ cũng đƣợc sử dụng  
rộng rãi trong sản xuất tại Việt Nam nhƣ Bắc ƣu 64, Bắc ƣu 903, Bắc ƣu 253…vì  
có ƣu điểm là cho năng suất cao và sản xuất hạt lai F1 dễ vì dòng mẹ có nhiều  
đặc điểm sinh học tốt nhƣ tỷ lệ thò vòi nhụy và sức sống vòi nhụy cao, góc mở  
vỏ trấu lớn và thời gian mở vỏ trấu dài… nhƣng hạt lai bị hở vỏ trấu nhiều dẫn  
đến nẩy mầm ngay trên bông trƣớc khi thu hoạch hoặc dễ bị mọt, mốc gây hại  
trong kho bảo quản giống, mặt khác con lai F1 có phản ứng nhẹ với ánh sáng  
ngày ngắn nên chỉ phát triển đƣợc trong vụ Mùa trên đất 2 vụ lúa/ năm.  
Một cản trở nữa trong sử dụng những dòng mẹ II-32A và BoA là chúng  
đều cho con lai có chất lƣợng gạo từ trung bình đến kém. Một dòng mẹ khả quan  
hơn là IR58025A cho con lai có chất lƣợng gạo rất tốt nhƣng sản xuất hạt lai lại  
cho năng suất thấp hơn so với II-32A và BoA.  
Việc nghiên cứu và chọn tạo các dòng bố mẹ, đặc biệt là tạo các dòng A, B  
mới để phát triển sản xuất lúa ba dòng ở Việt Nam đến nay vẫn chƣa có nhiều kết  
quả khả quan đƣợc công bố và ứng dụng trong sản suất. Chúng ta chƣa tạo đƣợc  
dòng CMS mới nào thực sự phù hợp với điều kiện Việt Nam để sử dụng cho chọn  
tạo giống lúa lai ba dòng có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu đƣợc một số  
sâu bệnh đồng ruộng chính (bạc lá, rầy nâu) và thích ứng với điều kiện Việt Nam.  
Và nhƣ Yuan et al. (1988) đã tổng kết thì việc duy trì duy nhất nền di truyền tế bào  
chất dạng hoang dại “WA” đơn điệu của một số ít dòng mẹ s  tiềm ẩn rất nhiều rủi  
ro trong sản xuất lúa lai do các yếu tố bất thuận về đất đai, thời tiết hay sâu bệnh hại  
gây ra.  
Song song với lúa lai ba dòng, từ năm 1989, Việt Nam cũng đã nhập nội  
một số tổ hợp lúa lai hai dòng của Trung Quốc. Các tổ hợp này đều cho năng  
2
suất cao, khả năng chống chịu với sâu bệnh hại đồng ruộng tƣơng đối khá. Tuy  
nhiên giá hạt giống cao và công nghệ nhân dòng bất dục đực cũng nhƣ sản xuất  
hạt lai F1 còn gặp rất nhiều khó khăn (Cục Trồng trọt, 2015).  
Các nhà chọn giống Việt Nam đã chọn tạo thành công nhiều dòng mẹ hai  
dòng tốt nhƣ T29S, T47S, TGMS-VN01... có khả năng cho ƣu thế lai cao và là  
mẹ của các giống lúa hai dòng tốt nhƣ TH3-3, TH3-4, Việt lai 20... là những  
giống có thời gian sinh trƣởng ngắn, năng suất cao, chất lƣợng khá... nên diện  
tích ngày càng đƣợc mở rộng (Cục Trồng trọt, 2016).  
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng  
khốc liệt gây ảnh hƣởng rất xấu đến đời sống và sản xuất nông nghiệp nói chung  
cũng nhƣ sản xuất lúa lai nói riêng, đặc biệt là lúa lai hai dòng vì dòng mẹ có  
phản ứng rất chặt với điều kiện ngoại ảnh. Chỉ một thay đổi nhỏ của điều kiện  
thời tiết khí hậu trong quá trình sinh trƣởng phát triển của dòng mẹ ở giai đoạn  
quan trọng cũng ảnh hƣởng tiêu cực đến chất lƣợng của cả lô giống. Vì vậy mà  
mặc dù có rất nhiều ƣu điểm nhƣng lúa lai hai dòng cũng chƣa thể chiếm ƣu thế  
hoàn toàn trong sản xuất lúa gạo ở Việt Nam mà chúng ta vẫn phải duy trì song  
song cả lúa lai hai dòng và ba dòng.  
Để giải quyết đƣợc nhu cầu rất cấp thiết của thực tế sản xuất nhƣ đã nêu  
trên, việc tạo ra các dòng CMS mới là rất cần thiết. Khi có dòng CMS mới tốt s  
tạo tiền đề quan trọng cho việc tạo ra tổ hợp lúa lai nội địa tốt phục vụ sản xuất  
lúa trong nƣớc. Nhằm mục đích trên, chúng tôi đã tiến hành lai các dòng duy trì  
của một số dòng CMS thuộc các kiểu bất dục đực giống nhau hoặc khác nhau để  
tập hợp các tính trạng cần thiết vào một dòng duy trì mới trung gian. Dòng duy  
trì mới này sau một số lần lai trở lại với dòng CMS truyền thống có thể tạo ra  
dòng CMS mới mang nhiều đặc điểm mới tốt, khắc phục đƣợc những tồn tại vốn  
có của chúng và làm phong phú thêm nguồn CMS đang bị đơn điệu. Không  
những thế, những dòng CMS mới này cho lai với các dòng R có thể tạo ra con lai  
có khả năng thích ứng rộng, tăng hiệu ứng dị hợp thể và ƣu thế lai, trên cơ sở đó  
tạo ra những tổ hợp lúa lai ba dòng mới tốt hơn.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu chọn tạo đƣợc căp dòng A/B bất dục ổn định, mới có kiểu cây  
cải tiến, thời gian sinh trƣởng ngắn, năng suất cao, chất lƣợng tốt, khả năng nhận  
phấn ngoài của dòng A đƣợc cải thiện, làm đa dạng nguồn vật liệu phục vụ chọn tạo  
giống lúa lai ba dòng mới ổn định và thích ứng với điều kiện sản xuất của Việt Nam.  
3
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 196 trang myanh 23180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu chọn tạo dòng bất dục đực tế bào chất và dòng duy trì mới phục vụ cho chọn giống lúa lai ba dòng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_chon_tao_dong_bat_duc_duc_te_bao_chat_va.pdf
  • pdfTom tat luan an Bui Viet Thu.pdf
  • pdfTrang thong tin luan an Viet - Anh.pdf