Luận án Nghiên cứu rủi ro trong chăn nuôi lợn của hộ nông dân tỉnh Hưng Yên

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN  
NGHIÊN CỨU RỦI RO TRONG CHĂN NUÔI LỢN  
CỦA HỘ NÔNG DÂN TỈNH HƯNG YÊN  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN  
NGHIÊN CỨU RỦI RO TRONG CHĂN NUÔI LỢN  
CỦA HỘ NÔNG DÂN TỈNH HƯNG YÊN  
Chuyên ngành  
: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP  
Mã số  
: 62 62 01 15  
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS. PHẠM VĂN HÙNG  
HÀ NỘI, 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2017  
Tác giả luận án  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự  
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,  
đồng nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết  
ơn sâu sắc thầy PGS.TS Phạm Văn Hùng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức,  
thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,  
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn  
thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ và các hộ nông dân, nhất là  
các hộ nông dân tại ba huyện Văn Giang, Tiên Lữ và Khoái Châu tỉnh Hưng Yên đã  
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Tôi xin trân trọng cảm ơn Viện Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), đơn vị quản lý dự án  
“Giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh và nâng cao an toàn thực phẩm trong chuỗi giá trị thịt  
lợn đối với các tác nhân quy mô nhỏ tại Việt Nam (LPS/2010/047)”, Trung tâm Nghiên  
cứu Nông nghiệp thế giới Úc (ACIAR), đơn vị tài trợ của dự án và Tập thể cán bộ  
nghiên cứu của dự án thuộc Bộ môn Phân tích định lượng đã giúp đỡ và tạo điều kiện  
cho tôi được sử dụng dữ liệu của dự án trong quá trình thực hiện đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi  
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành  
luận án./.  
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2017  
Nghiên cứu sinh  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt  
BQ  
Bình quân  
ĐVT  
Ex  
Đơn vị tính  
Xuất khẩu (Export)  
GDP  
Im  
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product)  
Nhập khẩu (Import)  
LMLM  
NSCN  
P
Lở mồm long móng  
Năng suất chăn nuôi  
Giá (Price)  
PRA  
QM  
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory rural appraisal)  
Quy mô  
R_PU  
R_R  
Nông thôn - Ven đô (Rural-Periurban)  
Nông thôn - Nông thôn (Rural-Rural)  
Thức ăn  
T.A  
VSATTP  
VietGAHP  
Vệ sinh an toàn thực phẩm  
Thực hành chăn nuôi tốt (Vietnamese Good animal husbandary practice)  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
DANH MỤC SƠ ĐỒ  
STT  
Tên sơ đồ  
Trang  
DANH MỤC ĐỒ THỊ  
STT  
Tên đồ thị  
Trang  
DANH MỤC HỘP  
STT  
Tên hộp  
Trang  
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
ix  
       
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: NGUYỄN THỊ THU HUYỀN  
Tên Luận án: Nghiên cứu rủi ro trong chăn nuôi lợn của hộ nông dân tỉnh Hưng Yên  
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 62 62 01 15  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng rủi ro và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi  
ro trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân tỉnh Hưng Yên. Trên cơ sở kết quả nghiên  
cứu, đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro và thiệt hại kinh tế do rủi ro gây ra trong  
chăn nuôi lợn ở Hưng Yên trong thời gian tới.  
Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp tiếp cận: (i) Tiếp cận hệ thống; (ii) Tiếp cận đa mục tiêu; (iii) Tiếp  
cận theo vùng; (iv) Tiếp cận chuỗi giá trị; (v) Tiếp cận liên ngành.  
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Các huyện nghiên cứu, khảo sát được  
chọn dựa vào tiêu chí là các kiểu chuỗi giá trị khác nhau gồm huyện Tiên Lữ, Khoái  
Châu và Văn Giang. Trên cơ sở các huyện đã chọn, các xã được chọn dựa vào mức độ  
chăn nuôi. Huyện Khoái Châu, các xã được chọn để nghiên cứu bao gồm xã Nhuế  
Dương, xã Đại Hưng và xã Bình Kiều. Huyện Tiên Lữ chọn các xã Minh Phượng, xã  
Đức Thắng và xã Thủ Sỹ. Huyện Văn Giang có các xã được chọn là xã Tân Tiến, xã  
Nghĩa Trụ và xã Thắng Lợi.  
- Phương pháp thu thập thông tin  
̣
Thu thập dư liêu thư cấp: Các thông tin thứ cấp bao gồm các văn bản của Chính  
́
̃
phủ, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tỉnh Hưng Yên về phát triển nông  
nghiệp, nông thôn, về các chính sách về chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng  
và những văn bản có liên quan; Các bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài.  
Thu thập dư liêu  
̣
sơ cấp: (i) Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia; (ii)  
̃
Phương pháp điều tra theo câu hỏi bán cấu trúc; (iii) Phương pháp ghi sổ.  
- Phương phap phân tích dữ liệu:  
́
Công cụ xử lý: Dữ liệu được tổng hợp trên Excel và phần mềm SPSS  
x
 
Phương pháp phân tích: (i) Phương pháp thống kê mô tả; (ii) Phương pháp so  
sánh kết hợp với kiểm định thống kê; (iii) Phương pháp mô hình kinh tế lượng.  
Kết quả chính và kết luận  
Trong đề tài, lý luận và thực tiễn về rủi ro trong chăn nuôi lợn đã được luân  
̣
giai  
̉
va lam sang to, từ đó khung phân tich rủi ro trong chăn nuôi lợn đã được phát triển để  
̉
̀
̀
́
́
lam cơ sơ nghiên cứu đề tài.  
̉
̀
Trong đề tài, các loại rủi ro trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân tỉnh Hưng  
Yên đã được nhân dang và ước tính thiệt hại kinh tế do rui ro gây ra gồm rủi ro dịch  
̣
̣
̉
bệnh và rủi ro về giá. Trong đó, rủi ro dịch bệnh là lớn nhất và gây thiệt hại nhiều nhất.  
Trong giai đoạn 2013-2015, bình quân trong một năm, mỗi hộ chăn nuôi thiệt hại  
khoảng 3,3 triệu đồng, chiếm khoảng 13,6% tổng thu nhập từ chăn nuôi lợn của hộ. Đề  
tài đã phân tích những ứng xử của hộ chăn nuôi để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và rủi ro  
về giá. Ngoài ra, đề tài cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới rủi ro dịch bệnh như  
quy mô chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi và lắp đặt sử dụng một số  
dụng cụ chăn nuôi như vòi nước… và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro về giá như sự  
phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn công nghiệp nhập khẩu, cấu trúc thị  
trường đầu ra, đầu vào và truyền thông.  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, các nhóm giải pháp được đề xuất để  
giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi lợn gồm: (1) Giải pháp sản xuất sản phẩm chăn nuôi  
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; (2) Giải pháp tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật  
và nhận thức của người dân về giữ vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi; (3) Giải  
pháp tư vấn kỹ thuật về việc thiết kế chuồng trại chăn nuôi hợp lý; (4) Giải pháp nâng  
cao chất lượng dịch vụ thú y công và tư; (5) Giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết trong  
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi; (6) Giải pháp khuyến khích phát triển sản xuất  
thức ăn chăn nuôi; (7) Đa dạng sản xuất và linh hoạt trong bán sản phẩm chăn nuôi; (8)  
Giải pháp kiểm soát truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm và sử dụng chất cấm  
trong chăn nuôi lợn.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: NGUYEN THI THU HUYEN  
Thesis title: Risk in pig production of farm households in Hung Yen province  
Major: Agricultural Economics Code: 62 62 01 15  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture  
Research objectives  
To identify production and market risk in pig production and explore driven  
factors contributing to production and market risk of pig producers in Hung Yen  
province. In addition, a set of implications are drawn to mitigate risks and reduce  
economic loss due to risk of pig production.  
Materials and Methods  
- The research approaches include: (i) System approach; (ii) Multi-objective  
approach; (iii) Regional approach; (iv) Value chain approach; (v) Trans-discipline  
approach.  
- Research sites: Based on criteria of different value chain gradient, the research  
districts selected are Tien Lu, Khoai Chau and Van Giang. Thereafter, communes were  
chosen based on pig density. In Khoai Chau district, Nhue Duong, Dai Hung and Binh  
Kieu were selected. In Tien Lu district, Minh Phuong, Duc Thang and Thu Sy were  
selected while in Van Giang district, Tan Tien, Nghia Tru and Thang Loi were chosen  
for survey.  
- Data collection  
Secondary data: Reports and documents related to the topic were collected from  
Vietnamese government, Ministry of Agriculture and Rural Development and Hung  
Yen province. Articles associated with risk in agriculture also utilized for the research.  
Primary data are collected based on: (i) Participatory Rural Affraisal; (ii) Semi-  
structured survey; (iii) Book-keeping.  
- Processing data  
Processing tools: The data was synthesized on Excel and SPSS software.  
Analysis methods used in this study are: (i) Descriptive statistics;  
(ii) Comparison method and hypothesis testing; (iii) Econometric models.  
xii  
 
Main findings and conclusions  
In the study there are overviews and clarification of theoretical and practical  
issues related to risks in pig production. Based on that an analytical framework has been  
developed for the study.  
In the thesis, risk profile including disease and market risks has been identified in  
pig production in Hung Yen province. In which, disease risk has been considered as a  
serious consequence. On average, in period from 2013-2015, mortality cost per  
household is about 3.3 million VND annually, accounting for 13.6 percent of household  
income from pig production. Moreover, risk factors and practices influencing on disease  
and market risks have also been analyzed.  
Based on the findings of the study, a set of policy implications to mitigate risks  
and reduce economic loss due to the risks has been drawn. They are: (1) Increasing  
production safe pig products; 2) Improvement awareness and production practices for  
pig producers, especially trainings on hygienic issues are necessary; (3) Giving advices  
on how to design an appropriate pig houses and set up necessary tools for pig  
production also need to be implemented; (4) Local authorities should pay more attention  
on improving quality of vet services in order to mitigate disease risks; (5) Supporting  
the development of linkage in production and marketing pig products; (6) Supporting  
the development of Vietnamese feed companies in order to create competitiveness of  
feed market; (7) Being flexible in production and selling pig products; (8) Monitoring  
accuracy of information related to food safety in consuming pork reported on mass  
media.  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Ở Việt Nam, nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất quan trọng.  
Tính theo giá so sánh năm 2010, giá trị tổng sản phẩm trong nước của ngành  
nông nghiệp chiếm khoảng 16% tổng sản phẩm trong nước năm 2015 (Tổng  
cục Thống kê, 2016). Trong nông nghiệp, chăn nuôi lại đóng vai trò quan trọng.  
Năm 2013, giá trị sản xuất của chăn nuôi chiếm 24,65% giá trị sản xuất của  
ngành nông nghiệp. Đối với chăn nuôi của Việt Nam thì chăn nuôi lợn là chủ  
yếu. Theo Chen and Scott (2003) trong nghiên cứu về hội nhập thị trường và  
quy mô chăn nuôi nhỏ ở Trung Quốc, một nước có điều kiện kinh tế xã hội  
tương tự như Việt Nam, cho rằng sự phát triển về thị trường là nhân tố đóng  
góp cho sự tăng cường mối quan hệ giữa chăn nuôi lợn với thu nhập của hộ và  
nông dân có xu hướng mở rộng chăn nuôi lợn khi thu nhập của hộ có xu hướng  
tăng lên.  
Theo một nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế  
Australia (ACIAR, 2010) tại Việt Nam thì chăn nuôi lợn của hộ nông dân nhỏ có  
lợi thế cạnh tranh cao từ việc tận dụng nguồn thức ăn và lao động gia đình. Sản  
xuất lợn quy mô nhỏ tạo ra nguồn thu nhập cho lao động gia đình và giữ lại được  
các giá trị đặc trưng trong chuỗi giá trị truyền thống là nhiều lao động tham gia  
vào các khâu từ vận chuyển, giết mổ, chế biến đến bán lẻ. Thịt lợn bày bán ở các  
chợ tạm được cho rằng có nhiều nguy cơ hơn là thịt lợn bán trong các siêu thị  
nhưng thực tế chúng lại mang ít mầm bệnh hơn. Điều này là do các chuỗi giá trị  
thịt lợn truyền thống ngắn hơn, thời gian từ lúc giết mổ đến lúc tiêu thụ ngắn.  
Qua đó có thể khẳng định vai trò quan trọng của việc chăn nuôi lợn của hộ đối  
với sự phát triển của kinh tế hộ nói riêng và toàn ngành kinh tế nói chung. Tuy  
nhiên, chăn nuôi lợn quy mô hộ gia đình nhỏ đang gặp nhiều khó khăn.  
Do vai trò quan trọng của thịt lợn và chăn nuôi lợn như kể trên, Chính phủ  
đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến công tác giống, tài chính, thú ý, thị  
trường và thuế để thúc đẩy sự phát triển chăn nuôi lợn (Dinh Xuan Tung, 2009).  
Tuy nhiên, thực tế cho thấy các chính sách này thường hướng vào việc thúc đẩy  
chăn nuôi lợn quy mô lớn hơn là quy mô nhỏ (Nguyen Tuan Son, 2007).  
1
   
Liên quan đến vấn đề thức ăn thì thị trường thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam  
có một sự tập trung rất lớn, thức ăn chăn nuôi được sản xuất chủ yếu bởi một số  
công ty lớn, thường là công ty có vốn đầu tư nước ngoài (FDIs) như Cargill,  
CP… Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có khoảng 42 công ty nước  
ngoài trong tổng số 225 công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam và nó  
chiếm tới 65-70% thị phần. Với cấu trúc thị trường như vậy, các hộ nông dân nhỏ  
rất khó có khả năng ảnh hưởng đến thị trường thức ăn và thường là người chấp  
nhận giá. Sự phụ thuộc của các công ty cám nội địa vào các đầu vào nhập khẩu là  
các thành phần chính của thức ăn như ngô, bột đậu tương, khoáng chất cũng là  
yếu tố làm cho giá thức ăn bị đẩy lên cao và làm tăng rủi ro thị trường cho các hộ  
nông dân chăn nuôi nhỏ lẻ (Nguyen Thi Duong Nga et al., 2013).  
Kiến thức cũng đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi. Những năm gần  
đây nhiều hoạt động và dịch vụ khuyến nông được chuyển giao tới người dân  
thông qua các lớp tập huấn, các mô hình khuyến nông… Hệ thống khuyến nông  
hiện đã được triển khai trên 51 tỉnh thành, có 10.000 câu lạc bộ khuyến nông ở  
cấp xã với khoảng 300.000 nông dân tham gia (Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn, 2013). Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở đây là hầu hết các hoạt động  
khuyến nông và dịch vụ khuyến nông được chuyển giao đều nhằm thúc đẩy phát  
triển trồng trọt hơn là chăn nuôi.  
Liên quan đến vấn đề hợp đồng trong chăn nuôi, hợp đồng trong nông  
nghiệp đã phát triển rộng rãi trên thế giới và có nhiều nghiên cứu chứng minh  
rằng hợp đồng đem lại lợi ích cho cả người nông dân và đối tác hợp đồng (Key  
and William, 2003; Morrison et al., 2006; HongDong et al., 2007; Fukunaga  
and Huffman, 2008; Tiongco et al., 2009). Thực tế chưa có các chính sách hỗ  
trợ phát triển hợp đồng trong chăn nuôi lợn nói riêng, mặc dù đã có những  
nghiên cứu của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam về chăn nuôi hợp đồng  
ở Hải Dương cho thấy chăn nuôi hợp đồng đem lại lợi ích cho các hộ nông dân  
chăn nuôi nhỏ (Nguyen Thi Thu Huyen, 2011).  
Vấn đề được đánh giá là khó khăn nhất trong chăn nuôi lợn theo Trần  
Đình Thao (2010) hàng năm dịch bệnh xảy ra trong chăn nuôi lợn rất nhiều.  
Chẳng hạn, năm 2006, bệnh lở mồm long móng đã xảy ra ở 46/64 tỉnh thành và  
năm 2012 xảy ra ở 59 xã của 29 huyện thuộc 12 tỉnh thành (Department of  
Animal Health, 2012). Thêm vào đó, bệnh tai xanh cũng xảy ra vào năm 2011  
với tổng số lợn bị nhiễm bệnh là 42.317 con và tổng số lợn bị tiêu hủy là 26,519  
2
con. Năm 2012, bệnh tai xanh xảy ra đầu tiên vào ngày 11 tháng 1 ở Lào Cai, sau  
đó đã lan rộng ra 453 xã của 95 huyện của 28/63 tỉnh thành. Tổng số lợn bị bệnh  
là 90.688 con, tổng số lợn chết là 14.065 con và tổng số lợn bị tiêu hủy là 51.761  
con. Ngoài ra, còn nhiều bệnh khác cũng thường xuyên xảy ra. Thực tế cho thấy,  
dịch bệnh thường xảy ra nhiều hơn đối với những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, đặc biệt là  
ở miền Trung và miền núi, nơi mà dịch vụ thú y chưa được tốt. Nguyen Thi  
Duong Nga et al. (2013) chỉ ra rằng việc nông dân không kiểm tra được chất  
lượng lợn giống, nhất là lợn được mua từ chợ và thương lái cũng là một nguyên  
nhân dẫn đến tình trạng dịch bệnh xảy ra. Trong trường hợp có dịch bệnh xảy ra,  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuẩn bị các giải pháp tình thế/chương  
trình để đối phó với dịch bệnh, tuy nhiên việc thực hiện các giải pháp/chương  
trình đó ở cấp địa phương thường kém hiệu quả, không dập được dịch bệnh ngay  
và gây tổn thất về mặt kinh tế. Đến nay, rất ít các nghiên cứu ước tính thiệt hại về  
kinh tế do dịch bệnh trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng được  
tiến hành ở Việt Nam.  
Ngoài những lý do trên, việc nghiên cứu rủi ro, nhất là rủi ro trong sản  
xuất nông nghiệp ngày càng được nhiều học giả quan tâm. Chẳng hạn, theo  
Richard and Pope (1979) thì nghiên cứu rủi ro ngày càng trở nên cần thiết trong  
ngành nông nghiệp. Rủi ro không chỉ là rủi ro về giá cả và các khía cạnh khác  
của thị trường mà còn bị ảnh hưởng của các cải tiến công nghệ và chính sách của  
chính phủ. Ví dụ việc nghiên cứu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất  
nông nghiệp, một chính sách công hợp lý không chỉ quan tâm đến giá trị biên của  
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mang lại mà còn phải quan tâm mức độ biến động  
của giá trị biên đó hay là rủi ro sản xuất của nó.  
Về mặt lý thuyết, năng suất đầu ra với các mức hoặc các cách kết hợp  
đầu vào khác nhau sẽ khác nhau, hay nói một cách khác, rủi ro ở các mức  
hoặc các cách kết hợp đầu vào khác nhau sẽ khác nhau (Acemoglu, 2014). Do  
đó, việc nghiên cứu tìm ra mức hoặc cách kết hợp đầu vào để giảm thiểu được  
rủi ro là cần thiết. Acemoglu (2014) cũng đã tổng hợp quan điểm của rất nhiều  
nhà khoa học trước đó và những quan điểm này đều cho rằng, kỹ thuật sản  
xuất mới đưa vào thử nghiệm sẽ là những kỹ thuật có liên quan tới kỹ thuật  
sản xuất hiện tại hay chỉ cải tiến một phần các kỹ thuật và thực hành sản xuất  
hiện tại.  
3
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, một tỉnh tiếp giáp với  
thủ đô Hà Nội. Mặc dù là một tỉnh có diện tích đất tự nhiên bé, dân số trung bình,  
nhưng tổng số đầu lợn tỉnh Hưng Yên sản xuất ra năm 2013 đứng thứ 11 trên  
tổng số 63 tỉnh thành của cả nước, tỷ lệ lợn/người là 0,56 con/người, xếp thứ 10  
trên cả nước (Tổng cục Thống kê, 2013). Chăn nuôi lợn được xem là hoạt động  
kinh tế quan trọng của tỉnh Hưng Yên. Ngoại trừ một số trang trại chăn nuôi quy  
mô lớn, chăn nuôi lợn ở Hưng Yên chủ yếu vẫn là chăn nuôi trong các hộ gia  
đình với quy mô nhỏ. Tình hình dịch bệnh xảy ra trong chăn nuôi lợn của các hộ  
gia đình ở Hưng Yên xảy ra tương đối thường xuyên với tỷ lệ bị bệnh hàng năm  
khoảng 2,7% và tỷ lệ lợn chết/lợn bệnh khoảng 20,8% năm 2013 (Sở Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn, 2013). Ngoài ra, bắt đầu từ năm 2010, dự án  
Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm được triển khai ở 12 tỉnh  
thành, trong đó có tỉnh Hưng Yên nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của người  
chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình, giảm tác động môi trường của hoạt động  
chăn nuôi và hỗ trợ đào tạo hộ chăn nuôi theo quy trình chăn nuôi an toàn.  
Xuất phát từ những thực tế và lý thuyết trên, chúng tôi tiến hành nghiên  
cứu đề tài rủi ro trong chăn nuôi lợn của hộ nông dân tỉnh Hưng Yên nhằm tìm ra  
những nguyên nhân dẫn đến rủi ro và các giải pháp giảm thiểu rủi ro trong chăn  
nuôi lợn của hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng rủi ro và phân tích các  
yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân tỉnh Hưng  
Yên. Từ đó, đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi lợn cho các  
hộ nông dân ở địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
Để đạt được mục tiêu chung, đề tài đề xuất các mục tiêu cụ thể sau:  
(1) Luận giải cơ sở lý luận về rủi ro và phương pháp nghiên cứu rủi ro  
trong chăn nuôi lợn;  
(2) Đánh giá thực trạng rủi ro trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân  
tỉnh Hưng Yên;  
4
     
(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong chăn nuôi lợn của các  
hộ nông dân tỉnh Hưng Yên;  
(4) Đề xuất hệ thống các giải pháp giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi lợn  
cho các hộ nông dân tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.  
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại rủi ro, ứng xử của người chăn  
nuôi với rủi ro, các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong chăn nuôi lợn của các hộ  
nông dân tỉnh Hưng yên.  
- Đối tượng khảo sát, thu thập tài liệu phục vụ nghiên cứu của đề tài chủ  
yếu là các hộ chăn nuôi lợn của tỉnh Hưng Yên. Ngoài ra, liên quan đến vấn đề  
rủi ro trong chăn nuôi lợn, nghiên cứu cũng sẽ khảo sát các yếu tố bên ngoài ảnh  
hưởng đến rủi ro trong chăn nuôi lợn của hộ như chính sách của Nhà nước và địa  
phương liên quan đến công tác phát triển chăn nuôi lợn chung, công tác thú y,  
phòng, trị bệnh và kiểm dịch, chính sách liên quan đến vấn đề vệ sinh an toàn  
thực phẩm (VSATTP)…  
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.4.1. Phạm vi không gian  
Đề tài được thực hiện ở 9 xã thuộc 3 huyện của tỉnh Hưng Yên. Cụ thể là  
xã Nhuế Dương, xã Đại Hưng và xã Bình Kiều của huyện Khoái Châu. Xã Minh  
Phượng, xã Đức Thắng và xã Thủ Sỹ của huyện Tiên Lữ. Xã Tân Tiến, xã Nghĩa  
Trụ và xã Thắng Lợi của huyện Văn Giang.  
1.4.2. Phạm vi thời gian  
Dữ liệu sơ cấp được thu thập để nghiên cứu đề tài gồm dữ liệu điều tra hộ  
chăn nuôi năm 2013. Dữ liệu ghi sổ hàng tuần tình hình chăn nuôi của hộ chăn  
nuôi năm 2014 và 2015. Tài liệu thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu với các hộ nông  
dân và các cán bộ ngành chăn nuôi của tỉnh Hưng Yên năm 2015, 2016.  
1.4.3. Phạm vi nội dung  
Rủi ro trong chăn nuôi lợn gồm nhiều loại phân theo nguồn hình thành  
rủi ro như rủi ro sản xuất, rủi ro thị trường, rủi ro chính sách, rủi ro con  
người… Tuy nhiên, những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng trong các loại  
rủi ro trên thì rủi ro sản xuất và rủi ro thị trường là chủ yếu và đóng vai trò  
quan trọng nhất. Trong rủi ro sản xuất thì rủi ro dịch bệnh là một trong những  
5
         
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 197 trang myanh 14900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu rủi ro trong chăn nuôi lợn của hộ nông dân tỉnh Hưng Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_rui_ro_trong_chan_nuoi_lon_cua_ho_nong_da.pdf
  • pdfKTNN - TTLA - Nguyen Thi Thu Huyen.pdf
  • pdfTTT - Nguyen Thi Thu Huyen.pdf