Luận án Nghiên cứu chiến lược sinh kế của các hộ dân ven biển tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu

HỌC VIỆN NÔ NG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
ĐỖ THỊ DIỆP  
NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC SINH KẾ  
CỦA CÁ C HỘ DÂN VEN BIỂN TỈNH THÁI BÌNH  
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2020  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
ĐỖ THỊ DIỆP  
NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC SINH KẾ  
CỦA CÁC HỘ DÂN VEN BIỂN TỈNH THÁI BÌNH  
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Chuyên ngꢀnh:  
Mꢁ sꢂ:  
Kinh tế phát triển  
9 31 01 05  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Văn Song  
HÀ NỘI - 2020  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020  
Tác giả luận án  
Đỗ Thị Diệp  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được  
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,  
đồng nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn  
sâu sắc GS.TS Nguyễn Văn Song đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian  
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,  
Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học  
viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện  
đề tài và hoàn thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND tỉnh Thái  
Bình, UBND hai huyện ven biển Tiền Hải và Thái Thuỵ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho  
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi  
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành  
luận án./.  
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2020  
Nghiên cứu sinh  
Đỗ Thị Diệp  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Nghĩa tiếng Việt  
ADPC  
:
Climate Change and Climate Risk Management - Quản lý biến đổi  
và rủi ro khí hậu  
BĐKH  
CLSK  
CRD  
:
:
:
:
:
:
Biến đổi khí hậu  
Chiến lược sinh kế  
Climate-Resilient Development - Phát triển  
Department for International Development - Cục phát triển quốc tế  
Đơn vị tính  
DFID  
ĐVT  
FAO  
Food and Agriculture Organization of United Nations - Tổ chức  
lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc  
Giá trị sản xuất  
GTSX  
IPCC  
:
:
Intergovernmental Panel on Climate Change - Uỷ ban liên chính  
phủ về Biến đổi khí hậu  
NN  
:
:
:
:
:
:
Nông nghiệp  
NTTS  
PTNT  
TĐPTBQ  
THCS  
THPT  
Nuôi trồng thủy sản  
Phát triển nông thôn  
Tốc độ phát triển bình quân  
Trung học cơ sở  
Phổ thông trung học  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
ix  
 
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Đỗ Thị Diệp  
Tên Luận án: Nghiên cứu chiến lược sinh kế của người dân ven biển tỉnh Thái Bình trong  
bối cảnh biến đối khí hậu  
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển  
Mã số: 9 31 01 05  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng CLSK của các hộ dân ven biển  
tỉnh Thái Bình trong bối cảnh BĐKH, đề xuất giải pháp cải thiện chiến lược sinh tại địa bàn  
nghiên cứu.  
Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng  
để xem xét chiến lược sinh kế của các hộ dân ven biển trong bối cảnh BĐKH. Số liệu thứ cấp  
được thu thập thông qua các nguồn tài liệu đã được công bố trong và ngoài nước có liên quan  
đến nội dung nghiên cứu. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua một số kênh: (i) quan sát  
địa bàn nghiên cứu, (ii) thảo luận nhóm; (iii) phỏng vấn cán bộ cấp huyện, xã, thôn; (iv) điều  
tra 240 hộ dân chia theo các nguồn lực và hoạt động sinh kế khác nhau. Phương pháp thống  
kê mô tả và thống kê so sánh là hai phương pháp chủ yếu được sử dụng phân tích số liệu bên  
cạnh phương pháp phân tích sinh kế, phân tích tình huống, nghiên cứu trường hợp và phương  
pháp mô hình phân tích hệ thống trong sử dụng các nguồn lực.  
Kết quả chính và kết luận  
Biến đổi khí hậu với các biểu hiện thời tiết bất thường diễn ra một cách thường  
xuyên hơn, cường độ mạnh hơn trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây.  
Các biểu hiện thời tiết bất thường điển hình ở vùng ven biển Thái Bình bao gồm bão lũ  
kết hợp với mưa lớn và triều cường, hạn hạn, xâm nhập mặn, rét đậm rét hại ảnh hưởng  
đến nguồn lực sinh kế và hoạt động sinh kế của người dân ven biển theo những cách khác  
nhau, cả trong ngắn hạn và dài hạn. Trong bối cảnh đó, các hộ dân ven biển lựa chọn thay  
đổi CLSK trong dài hạn theo hướng chuyển sang các sinh kế khác ít rủi ro hơn, có thu  
nhập cao hơn. Trong ngắn hạn, lựa chọn của các hộ dân ven biển theo hướng thích ứng  
với BĐKH thông qua các biện pháp như: (i) thay đổi giống cây trồng vật nuôi; (ii) thay  
đổi lịch mùa vụ; (iii) thay đổi phương thức sản xuất; (iv) nâng cấp cải tạo cơ sở vật chất  
phục vụ sản xuất; (v) tìm kiếm các hoạt động sinh kế bổ trợ.  
xii  
 
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến CLSK của các hộ dân ven biển trong bối cảnh  
BĐKH. Bên cạnh các yếu tố khách quan như môi trường tổn thương; thể chế, chính sách;  
tài sản công; dịch vụ công còn có các yếu tố chủ quan thuộc về bản thân của hộ như nguồn  
nhân lực và nhận thức về BĐKH. Các yếu tố này ảnh hưởng đến CLSK của hộ theo cả  
hướng tích cực và tiêu cực. Các ảnh hưởng tích cực tạo điều kiện cho các hộ lựa chọn và  
ổn định sinh kế dựa trên nguồn lực mà các hộ hiện có, trong bối cảnh thể chế chính sách  
nhất định. Các ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến rủi ro thời tiết do BĐKH ảnh hưởng đến  
nguồn lực, các hoạt động sinh kế, và thu nhập; do đó, ảnh hưởng đến CLSK của các hộ  
dân một cách trực tiếp và gián tiếp.  
Để cải thiện CLSK nhằm nâng cao và ổn định thu nhập trong bối cảnh BĐKH cần  
có các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ rủi ro thông qua tăng cường dự báo, nâng cấp các  
nguồn lực phục vụ sản xuất, đa dạng hoá các hoạt động sinh kế. Để thực hiện được các  
giải pháp đó, cần hoàn thiện chính sách của nhà nước liên quan đến sinh kế ven biển trong  
bối cảnh BĐKH, các nhóm hộ ở các CLSK khác nhau có các giải pháp khác nhau dựa  
trên nguồn lực, tính ổn định của các hoạt động tạo thu nhập hiện tại, và tính rủi ro giữa  
sinh kế hiện tại và sinh kế mới. Cụ thể đối với từng nhóm CLSK như sau: (i) các hộ nông  
nghiệp nên rút bớt lao động sang lĩnh vực phi nông nghiệp mà không ảnh hưởng đến quy  
hoạch và đề án phát triển kinh tế của tỉnh; (ii) các hộ NTTS quy mô lớn và đánh bắt xa  
bờ nên duy trì sinh kế hiện tại song song với các biện pháp thích ứng khác; (iii) các hộ  
NTTS quy mô nhỏ và đánh bắt gần bờ cân nhắc việc thay đổi sang CLSK có thu nhập cao  
hơn, ổn định hơn, ít rủi ro hơn nếu có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu công việc  
mới; (iv) nhóm hộ làm thuê trong nông nghiệp duy trì sinh kế hiện tại, đồng thời tìm kiếm  
bổ sung các hoạt động tạo thu nhập phù hợp với nguồn lực của hộ; (v) các hộ phi nông  
nghiệp cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao hơn nữa chất lượng lao động để tìm kiếm các  
công việc phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn, ổn định hơn.  
xiii  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Do Thi Diep  
Thesis title: Livelihood Strategies of Coastal Households of Thai Binh Province in the  
Context of Climate Change  
Major: Development Economics  
Code: 9 31 01 05  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
The purpose of this study is to assess the current situation of livelihood strategies of  
coastal households in Thai Binh province in the context of climate change. Based on that the  
study proposed solutions to improve livelihood strategies in the study area.  
Materials and Methods  
The study uses a combination of qualitative and quantitative analysis to examine the  
livelihood strategies of coastal households in the context of climate change. Secondary data  
was collected through published sources related to the content of the study. Primary data  
was collected through several sources: (i) Village observations, (ii) Focus group  
discussions; (iii) Interviews with district, commune and village officials; (iv) Survey of 240  
households divided by different resources and livelihood activities. Descriptive and  
comparative statistical methods are the two main methods used to analyze data beside some  
analysis methods such as livelihood analysis, case study analysis, and system analysis  
model in the use of resources.  
Main findings and conclusions  
Climate change, along with irregular weather patterns, has occurred more  
frequently and with greater intensity in Thai Binh province in recent years. Typical  
irregular weather patterns in coastal areas of Thai Binh include floods, storms combined  
with heavy rains and high tides, drought, saline intrusion affecting livelihood resources  
and livelihood activities in different ways, both in the short and long term. In this context,  
coastal households decide to change their long-term livelihood strategies towards moving  
to less risky and higher-income livelihood strategies. In the short term, coastal  
households' choices are geared towards adaptation to cliamate change through measures  
such as: (i) changing crop and livestock varieties; (ii) changing the crop calendar; (iii)  
changing production patterns; (iv) upgrading and improving facilities for production; (v)  
seeking additional livelihood activities.  
xiv  
 
There are many factors that influence the livelihood strategies of coastal households  
in the context of climate change. In addition to objective factors such as vulnerable  
environment, policies, public assets, public services, there are subjective factors that  
belong to the household such as human resources and their awareness about climate  
change. These factors affect the livelihood strategy of household in both positive and  
negative ways. Positive effects enable households to select and stabilize their livelihoods  
based on the available resources to them, within a given institutional and policy context.  
Negative impacts related to weather risks affect livelihood resources, livelihood activities,  
and household income; therefore, it affects the livelihood strategies of households directly  
and indirectly.  
To improve livelihood strategies of coastal households in the context of climate  
change, it requires adaptive measures and risk reduction through enhanced forecasting  
and upgrading of resources for production, and diversify livelihood activities as well. In  
order to implement such solutions, it is necessary to finalize government policies related  
to coastal livelihoods in the context of climate change. The households in different  
livelihood strategy groups have different solutions based on existed resources, the  
stability of current income-generating activities, and the risk between existing and new  
livelihoods. Specifically, solutions for each group of livelihood strategy as follows: (i)  
Agricultural households should shift labor from agricultural to non-agricultural sectors  
without affecting the provincial economic development planning and scheme; (ii) Large  
scale aquaculture and offshore fishing households should maintain their current  
livelihoods in parallel with other adaptation measures; (iii) Smallholder aquaculture and  
near-shore fishing consider changing to a higher-income, more stable, less risky  
livelihood strategy if human resources are available; (iv) Off-farm livelihood group  
should maintain their current livelihoods beside seeking additional income generating  
activities that are suitable to their resources; (v) Non-farm households should enhance  
fostering and further improve the quality of labor to seek non-agricultural jobs with higher  
and more stable incomes.  
xv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Vùng ven biển là nơi phát triển năng động, tập trung đông dân cư nhất thế  
giới. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thọ Đạt & Vũ Thị Hoài Thu (2012), hiện có  
khoảng 40% dân số thế giới, tương ứng với khoảng 3 tỉ người sinh sống ở khu vực  
ven biển. Riêng ở châu Á, 60% trong tổng số 3,5 tỷ dân (tương ứng với 2,1 tỷ)  
sống dọc 62.800 km bờ biển (Barbara & cs., 2015). Việc tăng nhanh dân số ở khu  
vực ven biển đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sử dụng các diện tích hoang hóa và  
các loại tài nguyên khác nhau ở dải đất này, tạo ra nhiều lợi ích kinh tế như cải  
thiện hệ thống giao thông, phát triển công nghiệp và đô thị, doanh thu từ du lịch  
và thực phẩm.  
So với các vùng sinh thái nông nghiệp khác, vùng ven biển là khu vực phát  
triển năng động, nhưng đồng thời cũng là nơi chịu nhiều tác động từ tự nhiên, đặc  
biệt là biến đổi khí hậu (BĐKH) trong những năm gần đây. Ngay cả khi không  
phải đối mặt với BĐKH, vùng ven biển đã phải đối mặt với những áp lực hiện tại  
liên quan đến gia tăng dân số, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên. BĐKH  
với các biểu hiện thời tiết bất thường sẽ làm trầm trọng hơn những vấn đề hiện tại  
của khu vực ven biển theo những cách khác nhau (Climate Change Science  
Program, 2009), sinh kế của người dân ven biển dựa vào nguồn tài nguyên nhạy  
cảm với thời tiết do đó cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  
Việt Nam là nước có bờ biển dài với 3260 km, đứng thứ 27 thế giới. Cùng với  
Indonesia, Việt Nam là quốc gia điển hình cho việc di dân từ đất liền lấn ra biển,  
mật độ dân số bình quân vùng ven biển dao động từ 500 đến 2000 người/km2, gấp  
3 lần so với bình quân chung của cả nước. Ở Việt Nam, đa số người dân sống ở  
khu vực nông thôn, miền núi và ven biển. Chiến lược sinh kế (CLSK) của họ, đặc  
biệt là CLSK của người dân nghèo (chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng  
thủy sản, và đánh bắt) phần lớn dựa vào điều kiện tự nhiên và thời tiết (Department  
for International Development - DFID, 2009). Vì vậy, rủi ro thời tiết sẽ là trở ngại  
lớn đối với chiến lược giảm nghèo và phát triển bền vững. Hơn nữa, Việt Nam  
được dự đoán sẽ là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi  
BĐKH do có bờ biển dài, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, trình độ phát triển  
thấp ở khu vực nông thôn (MCElwee, 2010). Trong bối cảnh đó, sinh kế của cộng  
1
   
đồng ven biển Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rõ rệt nhất bởi tác động bất lợi từ thiên  
nhiên bên cạnh các áp lực môi trường hiện tại.  
Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, có mật độ dân số  
đông, tập trung phần lớn ở khu vực đồng bằng ven biển - nơi CLSK của người dân  
chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên nhạy cảm cao với dao động thời tiết, điển  
hình là nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản (Sở Nông nghiệp và PTNT Thái Bình,  
2019). Theo thống kê, các biểu hiện thời tiết bất thường diễn ra với tần suất nhiều  
hơn ở ven biển Thái Bình trong những năm gần đây. Cụ thể, bão và áp thấp nhiệt  
đới tăng giảm thất thường, giai đoạn 1996 – 2004 số lượng các cơn bão và áp thấp  
nhiệt đới đổ bộ vào Thái Bình có xu hướng giảm dần, nhưng lại có dấu hiệu tăng  
trở lại giai đoạn 2004 – 2016; độ mặn tăng sâu vào các cửa sông từ 15-20 km; mực  
nước biển tăng khoảng 2,9mm/năm giai đoạn 1993-2010 (Cục Thống kê tỉnh Thái  
Bình, 2019).  
Dưới lăng kính phân tích sinh kế, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến CLSK nhưng  
BĐKH có thể được nhìn nhận như yếu tố chủ yếu gây ra tổn hại đến các CLSK  
ven biển thông qua quá trình chuyển đổi các điều kiện khí hậu quen thuộc theo  
mùa (Carew-Reid, 2007). Thực tế cho thấy các hộ dân ven biển Thái Bình đã phải  
đối mặt với các tác động của BĐKH, điển hình là bão, lũ bất thường kết hợp với  
triều cường ngày càng tăng, các cơn bão phá hủy tài sản và ảnh hưởng tới nhiều  
hoạt động và chiến lược sinh kế của các hộ dân ven biển, đặc biệt là các hoạt động  
sinh kế gắn với nông nghiệp, rủi ro cao, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên  
và nguồn lợi từ biển.  
Trước thực trạng trên, một số câu hỏi đặt ra là: (i) Diễn biến của BĐKH tại  
ven biển tỉnh Thái Bình hiện nay như thế nào; (ii) Ảnh hưởng của BĐKH đến  
tài sản và hoạt động sinh kế ở vùng ven biển ra sao; (iii) Lựa chọn CLSK của  
hộ dân ven biển trong bối cảnh BĐKH như thế nào; (iv) Những yếu tố nào ảnh  
hưởng đến CLSK của người dân ven biển trong bối cảnh BĐKH? Và, (v) cần  
có giải pháp gì để cải thiện CLSK của người dân ven biển để tăng thu nhập,  
giảm thiểu rủi ro, giảm thiểu phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên trong bối  
cảnh BĐKH? Nghiên cứu “Chiến lược sinh kế của các hộ dân ven biển tỉnh  
Thái Bình trong bối cảnh BĐKH” được tiến hành để trả lời một cách thỏa đáng  
các câu hỏi trên.  
2
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng chiến lược sinh kế của các hộ  
dân ven biển tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đề xuất giải pháp  
nhằm cải thiện sinh kế của các hộ dân ven biển tại địa bàn nghiên cứu.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
1) Hệ thống hóa, phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về chiến lược sinh  
kế ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu;  
2) Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược  
sinh kế của các hộ dân ven biển tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu;  
3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế của các hộ dân  
ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại tỉnh Thái Bình;  
4) Đề xuất các giải pháp cải thiện sinh kế của các hộ dân ven biển trong  
bối cảnh biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu.  
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Vấn đề nghiên cứu: Sinh kế, chiến lược sinh kế của các hộ dân ven biển tỉnh Thái  
Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu.  
Đối tượng khảo sát: các hộ dân ven biển tỉnh Thái Bình; cán bộ quản lý cấp  
tỉnh, huyện, xã, thôn liên quan đến vấn đề nghiên cứu.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi nội dung:  
Nghiên cứu này nhằm phân tích những thay đổi trong CLSK của các hộ dân  
ven biển trong bối cảnh BĐKH.  
Do vốn có bờ biển thấp lại thêm sự kết hợp của dao động khí hậu và bão  
nhiệt đới khiến Thái Bình ngày càng phải đối mặt với các hiện tượng thời tiết bất  
thường liên quan đến BĐKH thường xuyên hơn (ADPC, 2013). Vì vậy, BĐKH  
sẽ được xem xét là bối cảnh tổn thương chủ yếu trong phân tích CLSK của các  
hộ dân ven biển Thái Bình; trong đó nhấn mạnh đến các biểu hiện thời tiết bất  
thường có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất đối với vùng ven biển là bão, lũ kết  
hợp với triều cường.  
3
           
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 224 trang myanh 24620 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu chiến lược sinh kế của các hộ dân ven biển tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_chien_luoc_sinh_ke_cua_cac_ho_dan_ven_bie.pdf
  • pdfKTPT - TTLA - Do Thi Diep.pdf
  • pdfTTT - Do Thi Diep.pdf