Luận án Phát triển nguồn nhân lực ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
PHẠM NGỌC TÙNG  
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC  
NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2019  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯  
PHẠM NGỌC TÙNG  
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC  
NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH  
Ngành  
: Kinh tế phát triển  
Mã số  
: 9.31.01.05  
Người hướng dẫn khoa học : 1. PGS. TS. NGÔ THỊ THUẬN  
2. PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐẠT  
HÀ NỘI - 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu  
được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy  
bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2019  
Tác giả luận án  
Phạm Ngọc Tùng  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được  
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,  
đồng nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn  
sâu sắc tới PGS.TS. Ngô Thị Thuận và PGS.TS. Nguyễn Hữu Đạt, các thầy cô đã tận tình  
hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình  
học tập và thực hiện đề tài luận án.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ  
môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp  
Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện  
đề tài và hoàn thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ của Sở Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn, Sở Công thương, Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh; cán bộ  
phòng Kinh tế thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Thuận Thành, Gia Bình, Quế  
Võ; cán bộ và người lao động tại các làng nghề Đồng Kỵ tại phường Đồng Kỵ, thị xã  
Từ Sơn; làng nghề sản xuất giấy tái chế tại xã Phong Khê của thành phố Bắc Ninh; làng  
nghề đúc đồng Đại Bái xã Đại Bái, huyện Gia Bình; làng nghề gốm sứ Phù Lãng tại xã  
Phù Lãng, huyện Quế Võ; làng nghề sản xuất tranh đông hồ và giấy vàng mã tại xã  
Song Hồ, huyện Thuận Thành,... đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình  
thực hiện đề tài luận án.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều  
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2019  
Nghiên cứu sinh  
Phạm Ngọc Tùng  
ii  
   
MỤC LỤC  
iii  
iv  
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
BQ  
Nghĩa tiếng Việt  
Bình quân  
CC  
Cơ cấu  
CN  
Công nghiệp  
CNH  
DN  
Công nghiệp hóa  
Doanh nghiệp  
ĐVT  
GRDP  
GTSX  
HĐH  
HDI  
Đơn vị tính  
Gross Regional Domestric Products (Tổng giá trị sản phẩm)  
Giá trị sản xuất  
Hiện đại hóa  
Human Development Index (Chỉ số phát triển con người)  
Hội đồng nhân dân  
Hợp tác xã  
HĐND  
HTX  
KH  
Kế hoạch  
LĐ  
Lao động  
NN  
Nông nghiệp  
NN&PTNT  
NNL  
PTNNL  
PTNT  
PTTH  
SL  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Nguồn nhân lực  
Phát triển nguồn nhân lực  
Phát triển nông thôn  
Phổ thông trung học  
Số lượng  
SXKD  
TĐPTBD  
TH  
Sản xuất kinh doanh  
Tốc độ phát triển bình quân  
Thực hiện  
TL  
Tỷ lệ  
TNHH  
Tr.đ  
Trách nhiệm hữu hạn  
Triệu đồng  
TTCN  
TTCN  
UBND  
XD  
Tiểu thủ công nghiệp  
Tiểu thủ công nghiệp  
Ủy ban nhân dân  
Xây dựng  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
ix  
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Phạm Ngọc Tùng  
Tên luận án: Phát triển nguồn nhân lực ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh  
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển Mã số: 9.31.01.05  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng, các yêu cầu đặt ra, đề xuất  
giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành  
tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.  
Phương pháp nghiên cứu  
- Đề tài sử dụng tiếp cận phát triển, tiếp cận hệ thống, tiếp cận có sự tham gia  
nhiều bên, tiếp cận chính sách trong suốt quá trình nghiên cứu.  
- Chọn 5 huyện và thành phố đại diện nghiên cứu: Từ Sơn với nghề gỗ Đồng Kỵ,  
huyện Quế Võ với làng nghề TTCN gốm sứ Phù Lãng; huyện Gia Bình với ngành đúc  
đồng Đại Bái; huyện Thuận Thành với nghề nối tiếng là tranh Đông Hồ và sản xuất giấy  
vàng mã; thành phố Bắc Ninh với nghề TTCN mới là sản xuất giấy tái chế.  
- Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập bằng cách: (i) liệt kê  
các thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hóa theo nội dung và địa điểm dự kiến  
thu thập; (ii) liên hệ với cơ quan cung cấp thông tin; (iii) tiến hành thu thập bằng ghi chép,  
sao chụp, (iv) kiểm tra tính thực tế của thông tin qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo,  
sau đó sử dụng và trích dẫn đầy đủ.  
- Các dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng: (i) điều tra chọn mẫu 261 hộ (người lao  
động) SXKD TTCN thuộc 5 huyện và 5 ngành nghề đại diện; (ii) phỏng vấn sâu và xin ý  
kiến tham vấn của cán bộ lãnh đạo tỉnh, sở, ban ngành có liên quan, các huyện, xã đại  
diện và cán bộ trung tâm dạy nghề của các huyện, thành phố và thị xã; (iii) thảo luận  
nhóm và quan sát thực địa; (iv) tham gia các hội nghị, hội thảo để xin ý kiến của các sở,  
ban ngành trong tỉnh.  
- Các số liệu thông tin sau khi thu thập xong, được xử lý và tổng hợp số liệu bằng  
phần mềm thống kê SPSS và STATA. Phương pháp thống kê mô tả, dãy số biến động  
thời gian, so sánh, phân tích SWOT, phân tích nhân tố khám phá với thang đo Likert,  
phân tích hồi quy tương quan các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phát triển nguồn nhân lực  
và phân tích hàm logit đển phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định có làm nghề  
TTCN nữa hay không.  
Kết quả chính và kết luận  
(1) Ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh bao gồm nhiều ngành nghề truyền thống và ngành  
nghề mới xuất hiện, được chia thành 8 nhóm chính, trong đó sản xuất gỗ, chế biến nông  
sản là chủ yếu. Các ngành nghề này được sản xuất và kinh doanh chủ yếu trong 73 làng  
nghề, tập trung nhiều ở các huyện Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh và Gia Bình.  
xi  
 
Số người trong tuổi lao động ngành TTCN năm 2016 là 49094 người, tăng bình  
quân từ 2014 đến năm 2016 là 1,64%/năm. Cơ cấu số người theo các ngành nghề qua 3  
năm có thay đổi nhưng không nhiều, tập trung chủ yếu ở ngành sản xuất gỗ, chế biến  
nông sản và sản xuất thép, đúc đồng. Số người làm nghề TTCN chủ yếu thuộc hộ gia đình  
(chiếm trên 80% sô người toàn ngành). Xét theo giới tính không có sự chênh lệch nhiều  
giữa số nữ và nam. Số người tập trung ở độ tuổi 35 đến 54 tuổi. Số người có trình độ văn  
hóa trung học cơ sở và trung học phổ thông chiếm tỷ trọng cao. Số người có trình độ nghề  
sơ cấp và chứng chỉ là phổ biến. Tỷ lệ số người chưa qua đào tạo còn chiếm từ 32,74 đến  
36,85%. Số người biết sử dụng tin học và ngoại ngữ rất ít. Số đông người có số năm làm  
nghề dưới 20 năm. Số người làm nghề hầu như không khám sức khỏe định kỳ, không  
được phân loại sức khỏe. Việc làm được phân cho ba loại thợ (chính, phụ và thợ thời vụ)  
theo mức độ khó, dễ và có thu nhập khác nhau. Thu nhập của người làm TTCN cao hơn  
nhiều so với làm nông nghiệp, nhưng không ổn định. Người làm nghề TTCN không có  
hợp đồng lao động chính thống, không tham gia BHXH, BHYT và các quyền lợp hợp  
pháp khác. Giá trị gia tăng bình quân 1 người làm TTCN tăng dần với tốc độ cao hơn tốc  
độ tăng số người làm. Chỉ số tổng hợp phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN của tỉnh  
đạt từ 0,76 đến 0,78.  
Các kết quả phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN so với mục tiêu trong quy hoạch  
phát triển nhân lực nói chung của tỉnh về cơ bản chưa đạt. Những vấn đề đặt ra cần có  
giải pháp tác động trong phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN trên địa bàn tỉnh Bắc  
Ninh là: Trình độ đào tạo nghề thấp; Đào tạo các nghề TTCN trong các cơ sở đào tạo  
chưa chú trọng; Quản lý lao động làm thuê thiếu chặt chẽ; Môi trường làng nghề ô nhiễm;  
Quy hoạch phát triển ngành TTCN chưa có.  
(2) Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN bao  
gồm: chương trình giáo dục và đào tạo; y tế và chăm sóc sức khỏe; máy móc thiết bị và  
công nghệ sản xuất; việc làm và bố trí công việc; lương và chế độ phụ cấp; ô nhiễm môi  
trường. Trong các nhóm yếu tố ảnh hưởng này, nhóm yếu tố môi trường làm nghề, chương  
trình giáo dục đào tạo, chế độ tiền lương và hỗ trợ của cơ sở có hệ số tác động lớn đến  
kết quả phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN.  
(3) Các giải pháp cần tiếp tục áp dụng nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành  
TTCN của tỉnh trong thời gian tới là: quy hoạch phát triển ngành TTCN; xã hội hóa công  
tác đào tạo; quản lý sức khỏe người làm nghề; tăng cường bảo vệ môi trường; tạo việc  
làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề; rà soát và hoàn thiện các cơ chế chính sách.  
xii  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Pham Ngoc Tung  
Thesis title: Developing human resource of handicraft industry in Bac Ninh  
Major: Development Economics Code: 9.31.01.05  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture  
Research Objective  
Based on the current situations, influencing factors and requirements, proposing some  
solutions for human resource development of the handicraft industry in order to meet the  
development requirements of this sector in Bac Ninh Province in the coming time.  
Materials and Methods  
- The study used system approaching, multi-stakeholder approach and policy  
approach throughout the research process.  
- Selected five districts and city to represent for research site: Tu Son district with  
Dong Ky wood craft, Que Vo district with Phu Lang ceramic handicraft village; Gia  
Binh district with Dai Bai bronze casting; Thuan Thanh district with its reputation as  
Dong Ho painting and yellow paper production; and Bac Ninh city with the production  
of recycled paper.  
- The secondary data used in the study was collected by (i) listing necessary  
information that could be collected and systematized according to the content and location  
of the collection; (ii) Contact with the information provider; (iii) Carry out the collection  
by recording, photocopying, (iv) Check the actuality of the information through direct  
observation and cross-checking, then use and cite fully.  
- Primary data was collected by: (i) sample survey of 261 HHs (employees) of small  
and medium handicraft enterprises in five districts with five brand trades; (ii) In-depth  
interviews and consultations with provincial leaders, relevant departments, districts,  
communes and vocational centers of districts, cities and towns; (iii) group discussion and  
field observations; (iv) participate in conferences and workshops to get opinions from  
provincial departments.  
- Data was processed and synthesized by SPSS and STATA statistical software.  
Descriptive statistics, time series, comparison, SWOT analysis, likert factor analysis,  
regression analysis correlated the factors affecting the development of human resources.  
Logit function analyzed the factors that effect on decision making of handicraft workers.  
Main findings and conclusion  
(1) The handicraft industry sector in Bac Ninh province consists of many traditional  
and new industries. It is divided into eight main groups, including wood production and  
agricultural product processing. These sectors are produced and traded mainly in 73  
handicraft villages, located in Tu Son, Bac Ninh and Gia Binh.  
xiii  
 
The number of people working in the small handicraft industry in 2016 is 49094, an  
average increase of 1.64% per year from 2014 to 2016. The labor structure over 3 years has  
varied but not much, mainly focus on wood production, agricultural product processing and  
steel production, copper casting. The number of handicraft workers is household members  
(accounting for over 80% of the total labor in the sector). There are no gender differences  
between men and women workers, average aged between 35 and 54. The proportion of  
labor has secondary and high school education is quite high. Number of people with  
primary qualifications and certificates is popular. The proportion of people who have not  
yet trained is from 32.74% to 36.85%. There is only small number of people using computer  
and foreign language. Most of labors have less than 20 years of work experience. The  
number of people who do not have regular medical checkups is not classified. Jobs are  
allocated to three types of workers (primary, secondary and seasonal workers) according to  
the degree of difficulty, easy and different income. The income of handicraft workers is  
much higher than that of agriculture, but not stable. The handicraft workers do not have  
official labor contracts; do not participate in social insurance, health insurance and other  
legal rights. The average value added per person for handicraft increased at a higher rate  
than the increase in the number of workers. Composite index of human resources  
development in the handicraft industry reaches from 0.76 to 0.78.  
The results of human resource development in the handicraft industry sector  
compared with the target in the province's overall human resource development plan have  
not been met requirements. The issues that need to have solutions in human resources  
development of small handicraft industry in Bac Ninh province are: low vocational training;  
Training handicraft in factories are not focused; Poor management of hired labor;  
Environment pollution; The development plan for handicraft sector is not available.  
(2) Factors influencing the development of human resources in the handicraft sector  
include: education and training programs; Health and health care; Machinery and  
equipment manufacturing technology; Employment and placement; Salaries and  
allowances, environmental pollution. In these influential groups, the environmental factors,  
the education and training programs, the salary and support systems of the establishments  
have a high impact on the development of the human resources in handicraft industry.  
(3) Solutions to be applied to develop the human resources of the handicraft industry  
sector in the future: Socialization of training; Health management of workers; Increasing  
environmental protection; creating jobs and raise incomes for labors; Review and improve  
mechanisms and policies.  
xiv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Sau 20 năm tái lập tỉnh (1997), Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu đáng  
kể. Kinh tế phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP)  
luôn duy trì ở mức hai con số, bình quân giai đoạn 1997-2016 đạt 15,1%/năm; tốc  
độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2016 – 2018 đạt hơn 16%/năm. Sản xuất công  
nghiệp và TTCN tăng trưởng cao, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước 143 nghìn  
tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010 đạt gần 126 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế tiếp  
tục chuyển dịch đúng hướng: năm 2018 khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm  
hơn 76%; dịch vụ chiếm khoảng 17%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm gần  
3,0% (Cục Thống kê Bắc Ninh, 2019).  
Những thành tựu trên có sự đóng góp không nhỏ của ngành, nghề tiểu thủ  
công nghiệp (TTCN), trong các làng nghề. Cho đến nay, Bắc Ninh có 73 làng nghề  
TTCN trong đó có 58 làng nghề truyền thống (Chi cục PTNT Bắc Ninh, 2017).  
Các ngành nghề TTCN truyền thống lâu đời như: Gốm Phù Lãng, gỗ Đồng Kỵ,  
giấy Yên Phong, tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái… đã thu hút số lao động làm  
việc gần 72 nghìn lao động thường xuyên và hơn mười nghìn lao động thời vụ.  
Hàng năm cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng, với kim ngạch xuất khẩu  
từ 1.500 - 1.700 tỷ đồng (Hạ Thị Thu Thủy, 2016).  
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng kể, hoạt động sản xuất kinh doanh  
TTCN còn có hạn chế, đang đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi có những định hướng  
và giải pháp trung và dài hạn là: (i) năng lực cạnh tranh của các sản phẩm TTCN  
kém hơn so với nhiều loại hàng hóa của các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật  
Bản….là những nước có trình độ công nghệ cao, kiểu dáng mẫu mã đa dạng, chất  
lượng tốt, giá thành hạ; (ii) đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, phân tán, quy  
trình thủ công đơn giản và lạc hậu; (iii) chất lượng sản phẩm không đồng đều, đặc  
biệt khi sản xuất hàng hoá quy mô lớn; (vi) giá trị hàng hoá thấp, sức tiêu thụ khó  
khăn tại nhiều thị trường; (v) tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng tại các địa  
bàn sản xuất; (vi) sự phát triển của một số ngành TTCN chưa tương xứng với tiềm  
năng kinh tế xã hội hiện có; (vii) một số ngành nghề TTCN phát triển theo phong  
trào, không ổn định và hiệu quả, một số ngành nghề có xu hướng mai một; (viii)  
dịch vụ sản xuất chưa đồng bộ; (ix) công tác xúc tiến thương mại nhằm mở rộng  
1
   
thị trường còn nhiều bất cập dẫn đến một số sản phẩm TTCN đứng trước nguy cơ  
thất nghề như tranh Đồng Hồ…  
Để thúc đẩy sự phát triển ngành nghề TTCN của tỉnh theo hướng hội nhập  
thì chất lượng nguồn nhân lực (NNL) có vai trò quan trọng. Trong sản xuất sản  
phẩm TTCN, muốn nâng cao kết quả hiệu quả kinh tế thì đầu tư vào khoa học công  
nghệ là chưa đủ mà cần phát triển NNL một cách toàn diện, tương xứng với các  
phương tiện đó, Vì vậy, con người là yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển  
kinh tế bền vững. Với ý nghĩa đó, phát triển NNL là sự quan tâm không chỉ ở các  
ngành nghề sản xuất TTCN mà còn ở tất cả mọi quốc gia, mọi tổ chức và mọi  
ngành nghề.  
Thực tế ở Việt Nam cho thấy, chất lượng NNL các ngành nghề TTCN còn  
nhiều hạn chế. Số lao động đã qua đào tạo bình quân tại các làng nghề TTCN chỉ  
chiếm 12,3% (Báo Hà Nội mới, 2011). Số lao động làm nghề TTCN truyền thống  
tuy chiếu, 90,4% các làng nghề sản xuất TTCN thiếu lao động (Nguyễn Minh,  
2017). Nguồn nhân lực trẻ cho các ngành sản xuất TTCN trong tương lại ngày  
càng giảm bởi số con em lao động trong các làng nghề TTCN nói riêng, cả nước  
nói chung đều có xu hướng theo học các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp  
chứ không chọn các trường dạy nghề, kể cả cao đẳng nghề. Bên cạnh đó, định  
hướng nghề nghiệp cho lớp trẻ chưa được coi trọng đúng mức, 78,21% người lao  
động trong các làng nghề TTCN học nghề theo cách truyền nghề, cầm tay chỉ việc,  
21,4% học nghề theo các lớp ngắn hạn của địa phương; rất ít người học theo học  
các chương trình đào tạo bài bản (Phạm Liên, 2011; Nguyễn Minh, 2017).  
Nguồn nhân lực các ngành nghề TTCN của Bắc Ninh không nằm ngoài thực  
tế nêu trên. Trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động các ngành nghề TTCN  
hiện tại còn thấp, ít đào tạo bài bản, học chủ yếu từ thực tiễn truyền miệng theo  
cách “cha truyền con nối”, nên phát triển nghề nghiệp trên quy mô lớn hạn chế;  
lao động nhập cư, chất lượng thấp vẫn là chủ yếu. Theo Khổng Văn Thắng (2018),  
đến hết quý I năm 2016, tỉnh Bắc Ninh có 199.212 lao động làm việc tại các khu  
công nghiệp, trong đó lao động là người địa phương, chiếm 33,3%, lao động là  
người nước ngoài chiếm 1,28%; lao động nhập cư chiếm 65,42%. Kỹ năng và thái  
độ nghề nghiệp chưa chuẩn hóa. Công tác đào tạo, định hướng phát triển NNL của  
các cơ quan quản lý ngành, đơn vị sản xuất và các cá nhân người lao động còn yếu.  
Từ năm 2004 đến năm 2017 tỉnh Bắc Ninh đã chi ngân sách hơn 29 tỷ đồng cho  
các hoạt động khuyến công, trong đó tập trung vào hoạt động đào tạo nghề, truyền  
nghề, nâng cao tay nghề cho các nghề cơ khí, điện, điện tử, gỗ mỹ nghệ, mộc dân  
2
dụng, thêu tranh,… Đã hỗ trợ đào tạo cho hơn 15600 người lao động, nhưng sau  
khóa học trên 84,3% học viện lại làm việc cho các doanh nghiệp chứ không ở lại  
các cơ sở sản xuất ngành nghề TTCN của địa phương (Trung tâm Khuyến công và  
Tư vấn phát triển công nghiệp Bắc Ninh, 2018). Cùng với đó, tình trạng ô nhiễm  
môi trường, môi trường làm việc của người lao động ở các làng nghề TTCN ở Bắc  
Ninh đang là một vấn đề đáng báo động, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của  
người lao động và nhân lực sinh sống trong các làng nghề TTCN (Hoàng Thị Kim  
Ngọc và Lê Sỹ Cương, 2017). Tình trạng người lao động làm việc tại các làng nghề  
TTCN ở Bắc Ninh không được ký hợp đồng lao động, không được tham gia đóng  
BHXH, BHYT (Thanh Phong, 2017) đã ảnh hưởng phần nào đến quá trình phát  
triển nguồn nhân lực cho ngành TTCN trong thời gian qua.  
Nếu trong giai đoạn trước Bắc Ninh còn là tỉnh nông nghiệp, ngành TTCN  
đã hoàn thành xuất sắc vai trò tạo ra công ăn việc làm và sinh kế cho nhiều thế  
hệ, thì trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu của cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 và sự cạnh tranh khắc nghiệt trong nền kinh tế thị trường, NNL trong  
ngành TTCN Bắc Ninh sẽ đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của  
ngành này. Những kinh nghiệm, kỹ năng làm ra các sản phẩm TTCN thành công  
trong quá khứ lại không giúp gì nhiều khi nhu cầu thị hiếu thay đổi cũng như  
không có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Vì vậy, phát triển  
NNL ngành TTCN là sự cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và tái cơ  
cấu kinh tế của tỉnh.  
Cho tới nay, cũng đã có nhiều nghiên cứu có liên quan đến phát triển TTCN  
và NNL tại Việt Nam. Ngay từ năm 2003, Nguyễn Hữu Dũng (2003) đã đề cập tới  
“Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”. Sau đó cũng có nhiều tác  
giả đã chọn hướng nghiên cứu về NNL như Trần Văn Tùng (2009), với chủ đề  
“Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta”; Đinh Văn  
Toàn (2010): phát triển NNL tập đoàn điện lực Việt Nam. Luận án tiến sỹ kinh tế,  
Lê Quang Hùng (2012) nghiên cứu về “Phát triển NNL chất lượng cao ở vùng kinh  
tế trọng điểm miền Trung”; Đinh Công Tuấn (2015) với nghiên cứu về “Biến đổi  
văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”; Lê Xuân Tâm (2014)  
với nghiên cứu “Nghiên cứu phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng  
nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh”,… Các nghiên cứu này đã góp phần luận giải lý  
luận và thực tiễn về phát triển NNL nói chung nhưng được tiến hành ở các tỉnh,  
thành phố khác hoặc chung cho cả nước, cho từng lĩnh vực. Riêng nghiên cứu sâu  
3
về phát triển NNL ngành TTCN, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chưa thấy có  
công trình nghiên cứu nào.  
Với mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp và thành phố trực thuộc trung ương  
trước năm 2020, đòi hỏi Bắc Ninh phải chú trọng phát triển công nghiệp và TTCN  
như một cú huých để đạt được sự tăng trưởng và cơ cấu kinh tế theo yêu cầu. Năm  
2011 Bắc Ninh đã phê duyệt quy hoạch phát triển NNL cho tới năm 2020. Đây là  
định hướng quan trọng và là căn cứ để các địa phương, ngành trong tỉnh thực hiện,  
triển khai chương trình phát triển NNL nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Nghiên  
cứu phát triển nguồn nhân lực tiểu thủ công nghiệp là rất cần thiết và là một bộ  
phận trong định hướng phát triển NNL chung của tỉnh Bắc Ninh.  
1.2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:  
(1) Phát triển NNL ngành TTCN gồm các nội dung gì? và thể hiện ở các tiêu  
chí nào?  
(2) Kinh nghiệm thế giới và ở Việt Nam về phát triển NNL ngành TTCN như  
thế nào?  
(3) Thực trạng NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh như thế nào? Điểm mạnh,  
yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển NNL tỉnh Bắc Ninh là gì?  
(4) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển NNL ngành TTCN tỉnh Bắc  
Ninh?  
(5) Để đáp ứng yêu cầu phát triển NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh cần áp  
dụng những giải pháp nào?  
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Mục tiêu chung  
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng, các yêu cầu đặt ra trong  
phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN từ đó, đề xuất giải pháp phát triển nguồn  
nhân lực ngành TTCN nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp  
tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.  
1.3.2. Mục tiêu cụ thể  
- Hệ thống hóa, luận giải và xây dựng những căn cứ khoa học về phát triển  
nguồn nhân lực ngành TTCN;  
4
       
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 206 trang myanh 21300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Phát triển nguồn nhân lực ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_phat_trien_nguon_nhan_luc_nganh_tieu_thu_cong_nghiep.pdf
  • pdfKTPT - TTLA - Pham Ngoc Tung.pdf
  • pdfTTT - Pham Ngoc Tung.pdf