Luận án Khả năng sinh sản, sinh trưởng và định hướng chọn lọc đối với lợn Duroc, Landrace và Yorkshire
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐOÀN PHƯƠNG THÚY
KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG
VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHỌN LỌC ĐỐI VỚI LỢN
DUROC, LANDRACE VÀ YORKSHIRE
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP-2016
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐOÀN PHƯƠNG THÚY
KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG
VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHỌN LỌC ĐỐI VỚI LỢN
DUROC, LANDRACE VÀ YORKSHIRE
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
MÃ SỐ: 62.62.01.05
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Đình Tôn
GS.TS. Đặng Vũ Bình
HÀ NỘI-2016
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay đã có những bước phát triển khá
mạnh, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu
cầu đời sống con người. Ngày 16 tháng 01 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020”, định hướng phát
triển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu
thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn ở
nước ta hiện nay mới chỉ đạt được về số lượng còn năng suất và chất lượng vẫn
thấp hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, song song với
việc cải tiến điều kiện chăn nuôi, cần chú trọng tới công tác giống.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác giống, trong những năm qua, chúng ta
đã nhập khá nhiều giống lợn ngoại có năng suất cao, chất lượng thịt tốt từ những
nước có nền chăn nuôi tiên tiến. Những nguồn gen quý này đã góp phần tích cực
nâng cao năng suất, tỷ lệ nạc trong sản xuất chăn nuôi lợn nước ta. Cũng như
nhiều nước chăn nuôi phát triển, trong hệ thống nhân giống lợn công nghiệp của
Việt Nam, ba giống thuần Yorkshire, Landrace và Duroc đang chiếm vị trí quan
trọng trong đàn giống cụ kỵ (GGP), nái lai F1 là con lai giữa đực Landrace với
nái Yorkshire hoặc giữa đực Yorkshire với nái Landrace cũng chiếm tỷ trọng cao
trong đàn bố mẹ (PS). Các lợn đực giống Landrace, Yorkshire, Duroc cũng như
đực lai PiDu (con lai giữa Piétrain và Duroc) tham gia tạo nhiều tổ hợp lai khác
nhau, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng thịt của đàn lợn cả nước.
Để phát huy hơn nhiệm vụ của công tác giống, bên cạnh việc tiếp tục bổ
sung nguồn gen, cần tập trung nghiên cứu đánh giá chọn lọc nhằm duy trì, nâng
cao tiềm năng di truyền một số tính trạng chủ yếu ở lợn nái sinh sản và lợn đực
giống của ba giống lợn ngoại nói trên. Trong những năm gần đây, một số nghiên
cứu trong nước đã tập trung theo hướng này. Phan Xuân Hảo (2007) đã đánh giá
tăng khối lượng trung bình hàng ngày, tỷ lệ nạc và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
lượng đối với lợn Landrace và Yorkshire. Nguyễn Quế Côi và Võ Hồng Hạnh
(2000) đã ước tính hệ số di truyền, tương quan di truyền giữa các tính trạng tăng
khối lượng trung bình hàng ngày, dày mỡ lưng và khả năng chuyển hoá thức ăn
1
của lợn Landrace và Yorkshire. Nguyễn Hữu Tỉnh và cs. (2006) đã ước tính hệ
số di truyền của tuổi đạt 90 kg, dày mỡ lưng đối với lợn Yorkshire, Landrace và
Duroc nuôi tại các tỉnh phía Nam. Trần Thị Minh Hoàng và cs. (2010) đã ước
tính giá trị giống đối với tăng khối lượng trung bình hàng ngày, dày mỡ lưng của
lợn Landrace và Yorkshire. Cũng đã có khá nhiều nghiên cứu về năng suất sinh
sản của nái lai thuận nghịch giữa Yorkshire và Landrace (Lê Đình Phùng và
Nguyễn Trường Thi, 2009; Phan Xuân Hảo, 2010; Vũ Đình Tôn và Nguyễn
Công Oánh, 2010; Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình, 2011; Phạm Thị Đào và
cs., 2013). Trần Thị Minh Hoàng và cs. (2008a) đã đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Mỹ
Văn, Tam Điệp và Thuỵ Phương. Nguyễn Hữu Tỉnh và cs. (2006, 2012, 2013) đã
đánh giá tiềm năng di truyền của một số tính trạng năng suất trên các giống lợn
thuần Duroc, Landrace và Yorkshire ở các tỉnh phía Nam cũng như xác định ảnh
hưởng di truyền cộng gộp trực tiếp và của mẹ đối với số con sơ sinh sống/ổ của
nái Yorkshire và Landrace thuần chủng. Nguyễn Hữu Tỉnh và Nguyễn Thị Viễn
(2011) đã ước tính giá trị giống liên kết đàn thuần và đàn lai đối với một số tính
trạng sản xuất của lợn Yorkshire và Landrace.
Tuy nhiên, vẫn còn ít các nghiên cứu đánh giá năng suất sinh sản ở lợn nái
cũng như khả năng sinh trưởng, dày mỡ lưng ở lợn đực hậu bị của ba giống
Duroc, Landrace và Yorkshire thuần chủng và định hướng chọn lọc chúng, đặc
biệt là đối với các cơ sở nhân giống ở các tỉnh phía Bắc.
Đề tài nghiên cứu của luận án này nhằm đánh giá năng suất sinh sản ở lợn
nái, khả năng sinh trưởng, dày mỡ lưng ở lợn đực hậu bị của ba giống Duroc,
Landrace và Yorkshire thuần chủng trong đàn cụ kỵ nuôi tại Công ty Lợn giống
hạt nhân Dabaco, một trong những cơ sở lớn về nhân giống lợn ngoại ở nước ta.
Trên cơ sở đó, xây dựng định hướng chọn lọc nhằm nâng cao năng suất sinh sản,
tốc độ sinh trưởng, giảm dày mỡ lưng cho ba giống lợn này.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu chung
Nâng cao tiềm năng di truyền đàn lợn giống Duroc, Landrace và Yorkshire,
đáp ứng yêu cầu chăn nuôi lợn hướng nạc năng suất cao của nước ta.
2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tốc độ sinh trưởng, dày mỡ lưng; ước tính hệ số di truyền, dự
đoán giá trị giống của hai tính trạng này và xây dựng định hướng chọn lọc đối
với lợn đực giống hậu bị của ba giống Duroc, Landrace và Yorkshire nuôi tại
Công ty Lợn giống hạt nhân Dabaco.
- Đánh giá khả năng sinh sản; ước tính hệ số di truyền, dự đoán giá trị giống
của số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ và xây dựng định hướng chọn lọc đối
với lợn nái sinh sản của ba giống Duroc, Landrace và Yorkshire nuôi tại Công ty
Lợn giống hạt nhân Dabaco.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lợn đực và lợn nái trên ba giống lợn
thuần chủng Duroc, Landrace và Yorkshire thuộc đàn cụ kỵ nuôi tại Công ty Lợn
giống hạt nhân Dabaco.
Thời gian nghiên cứu: dữ liệu theo dõi và xử lý từ năm 2011 tới năm 2015.
Địa điểm nghiên cứu: Công ty Lợn giống hạt nhân Dabaco, xã Tân Chi,
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, thuộc tập đoàn Dabaco.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Đã xác định được hệ số di truyền, giá trị giống của bố mẹ và đời sau: xây
dựng được định hướng chọn lọc đối với chỉ tiêu số con sơ sinh sống/ổ, số con cai
sữa/ổ đối với lợn nái thuần Duroc, Landrace và Yorkshire.
- Đã xác định được hệ số di truyền, giá trị giống của bố mẹ và đời sau: xây
dựng được định hướng chọn lọc đối với chỉ tiêu tăng khối lượng trung bình hàng
ngày và dày mỡ lưng đối với lợn đực giống hậu bị Duroc, Landrace và
Yorkshire.
- Bổ sung vào tư liệu quản lý giống về năng suất sinh sản, hệ số di truyền,
giá trị giống của một số chỉ tiêu năng suất chủ yếu đối với 3 giống lợn quan trọng
là Duroc, Landrace và Yorkshire.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
- Đánh giá được các tính trạng chủ yếu về năng suất sinh sản của lợn nái
và tốc độ sinh trưởng, dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị đối với ba giống lợn
Duroc, Landrace và Yorkshire.
3
- Ước tính được hệ số di truyền, hệ số lặp lại về số con sơ sinh sống/ổ, số
con cai sữa/ổ; hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng, dày mỡ lưng của lợn đực hậu
bị đối với ba giống lợn Duroc, Landrace và Yorkshire.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp thêm tư liệu về khả năng sản xuất, hệ số di truyền, hệ số lặp lại
đối với một số tính trạng năng suất chủ yếu của ba giống lợn Duroc, Landrace
và Yorkshire.
- Xây dựng định hướng chọn lọc nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi đối
với ba giống lợn Duroc, Landrace và Yorkshire trên cơ sở đó góp phần đáp ứng
yêu cầu sản xuất chăn nuôi lợn hướng nạc năng suất cao ở nước ta.
4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cải thiện năng suất sinh sản, sinh trưởng và chất lượng thịt luôn được quan
tâm xem xét trong các mục tiêu nhân giống vật nuôi nói chung và giống lợn nói
riêng. Trong công tác giống lợn, chọn lọc đóng vai trò quan trọng trong việc cải
tiến di truyền đối với đàn giống vật nuôi. Chọn lọc là phương thức được ưu tiên
hàng đầu đối với các tính trạng có hệ số di truyền cao. Phương pháp dự đoán hồi
quy không sai lệch tốt nhất (BLUP) để ước tính giá trị giống ngày càng được ứng
dụng rộng rãi trong chăn nuôi. Sử dụng BLUP cho phép dự đoán được giá trị
giống một cách chính xác nhất. Với quy mô đàn giống lớn, dữ liệu giống được
tích luỹ qua nhiều thế hệ, thông qua việc sử dụng được tất cả giá trị kiểu hình của
các con vật họ hàng, BLUP khắc phục được cả những hạn chế đối với các tính
trạng vốn có hệ số di truyền thấp. Chọn lọc trên cơ sở phương pháp BLUP là
định hướng đúng đắn góp phần cải tiến di truyền vật nuôi một cách nhanh hơn và
bền vững hơn.
1.1.1. Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng thể hiện một đại lượng biến thiên
liên tục, giá trị của chúng được xác định bằng các phép đo (cân, đong, đo, đếm).
Hầu hết các tính trạng có giá trị về mặt kinh tế ở vật nuôi đều là những tính trạng
số lượng. Trong các chương trình giống lợn, các tính trạng số lượng được quan
tâm nhiều nhất gồm số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng cai sữa/ổ
hoặc khối lượng 21 ngày tuổi/ổ, tăng khối lượng trung bình hàng ngày hoặc tuổi
đạt khối lượng xuất bán, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, dày mỡ lưng.
Cơ sở khoa học cho việc cải tiến di truyền các giống vật nuôi đó là hai hiện
tượng di truyền cơ bản liên quan đến tính trạng số lượng:
- Cơ sở di truyền của sự chọn lọc: sự giống nhau giữa các con vật thân
thuộc, quan hệ thân thuộc càng gần, các con vật càng giống nhau.
- Cơ sở di truyền của sự chọn phối để nhân thuần và lai tạo: sự suy hoá cận
thân và hiện tượng ưu thế lai.
Giá trị được sử dụng để biểu thị các đặc tính của tính trạng số lượng. Giá trị
kiểu hình (Phenotype Value) của một cá thể là các giá trị thu được của các phép
5
đo khi đánh giá các tính trạng. Giá trị kiểu hình (P) bao gồm giá trị kiểu gen (G)
và sai lệch môi trường (E).
P = G + E
Giá trị kiểu gen chịu tác động của rất nhiều gen, chúng gây ra các hiệu ứng:
cộng gộp (Addition), trội (Dominance) và át chế hoặc tương tác (Interaction).
Tác động cộng gộp hay giá trị giống (A) là sự tác động có tính độc lập và tích luỹ
lại của tất cả các gen. Tác động trội (D) được thực hiện bởi tương tác giữa các
gen trong cùng locus. Tác động tương tác (I) được thực hiện bởi tương tác giữa
các gen khác locus. Như vậy, giá trị kiểu gen được xác định:
G = A + D + I
Sai lệch môi trường được tạo ra do tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất
lớn bởi điều kiện môi trường. Sai lệch môi trường cũng được phân tích thành hai
phần: Sai lệch môi trường chung (General Environment, Eg) hoặc sai lệch môi
trường thường xuyên (Permanent Environment, Ep) tác động tới tất cả các cá thể
trong cùng một quần thể. Sai lệch môi trường riêng (Special Environment, Es)
hoặc sai lệch môi trường tạm thời (Temporary Environment, Et) tác động tới một
số cá thể trong quần thể. Như vậy, sai lệch môi trường được xác định:
E = Eg + Es = Ep + Et
Do vậy:
P = A + D + I + Eg + Es
Để nâng cao năng suất của vật nuôi, những biện pháp cần phải tác động
bao gồm:
- Tác động lên yếu tố di truyền (giá trị kiểu gen): được thực hiện bởi các
nhà nghiên cứu về công tác giống.
+ Phương pháp chọn lọc được thực hiện để tác động vào hiệu ứng cộng gộp
(A) và sẽ có hiệu quả cao đối với những tính trạng có hệ số di truyền trung bình
hoặc cao. Khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng sản phẩm là những tính
trạng có hệ số di truyền trung bình hoặc cao.
+ Lai giống được thực hiện để tác động vào hiệu ứng trội (D) và tương tác
gen (I) và sẽ có hiệu quả cao đối với những tính trạng có hệ số di truyền thấp.
Những tính trạng về khả năng sinh sản đều có hệ số di truyền thấp.
- Tác động lên yếu tố môi trường (E): được thực hiện bằng cách cải tiến
điều kiện chăn nuôi (dinh dưỡng thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh
phòng bệnh, kỹ thuật chuồng trại…)
6
1.1.2. Hệ số di truyền
Hệ số di truyền của tính trạng số lượng có vai trò quan trọng trong công tác
giống. Những tính trạng có hệ số di truyền cao, năng suất của thế hệ con được cải
tiến một cách nhanh chóng và chắc chắn thông qua việc chọn lọc bố mẹ có năng
suất cao. Ngược lại, những tính trạng có hệ số di truyền thấp, năng suất của thế
hệ con được cải tiến một cách có hiệu quả thông qua lai giống hơn là chọn lọc.
Hệ số di truyền có thể được hiểu theo 2 nghĩa khác nhau: hệ số di truyền
theo nghĩa rộng và hệ số di truyền theo nghĩa hẹp.
* Hệ số di truyền theo nghĩa rộng
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng (h2 ) được biểu thị bằng tỷ số giữa phương
G
2
sai di truyền ( ) và phương sai kiểu hình ( 2 ), hoặc được biểu thị bằng hồi quy
σG
σP
tuyến tính của giá trị di truyền theo giá trị kiểu hình, hoặc bằng bình phương của
hệ số tương quan giữa giá trị di truyền và giá trị kiểu hình. Hệ số di truyền theo
nghĩa rộng được biểu diễn bằng công thức:
σG2
hG2 =
σP2
* Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp (h2 ) được biểu thị bằng tỷ số giữa phương
A
sai di truyền cộng gộp (σ2A ) và phương sai kiểu hình (σ2P ), hoặc được biểu thị
bằng hồi quy tuyến tính của giá trị di truyền cộng gộp (giá trị giống) theo giá trị
kiểu hình, hoặc bình phương của hệ số tương quan giữa giá trị di truyền cộng gộp
và giá trị kiểu hình.
σA2
σP2
h2A =
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị phần giá trị kiểu hình được quy định
bởi các gen truyền đạt từ thế hệ bố mẹ sang thế hệ con. Hệ số di truyền theo
nghĩa hẹp được sử dụng trong công tác giống vật nuôi.
* Phương pháp xác định hệ số di truyền
Phân tích hồi quy con theo bố (mẹ), con theo trung bình bố (mẹ); phân tích
phương sai anh chị em nửa ruột thịt, anh chị em ruột được sử dụng để ước tính hệ
số di truyền. Trong đó, phân tích phương sai anh chị em nửa ruột thịt được sử
dụng phổ biến trong các phần mềm chuyên dụng ước tính hệ số di truyền.
7
* Giá trị của hệ số di truyền
Hệ số di truyền được biểu thị thấp nhất bằng 0 và cao nhất bằng 1 hoặc tỷ lệ
phần trăm từ 0% đến 100%. Hệ số di truyền được chia thành 3 mức độ (3 nhóm)
khác nhau:
- Các tính trạng có hệ số di truyền thấp (từ 0,0 đến 0,2): bao gồm các tính
trạng như số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh, khối lượng toàn ổ lúc cai sữa…
- Các tính trạng có hệ số di truyền trung bình (từ 0,2 đến 0,4): bao gồm các
tính trạng như tăng khối lượng trung bình hàng ngày, chi phí thức ăn cho 1 kg
tăng khối lượng…
- Các tính trạng có hệ số di truyền cao (từ 0,4 đến 1) bao gồm: dày mỡ lưng,
diện tích mắt thịt, tỷ lệ nạc…
1.1.3. Hệ số lặp lại
Hệ số lặp lại của một tính trạng là một đại lượng biểu thị mức độ trùng lặp
của tính trạng đó nếu được đo lường nhiều lần.
Hệ số lặp lại của một tính trạng là tỷ lệ giữa tổng của phương sai của giá trị
kiểu gen (σG2 ) và phương sai của sai lệch môi trường chung (σ E2g ) với phương sai
của giá trị kiểu hình (σ P2 ).
σG2
+
σ E2g
σ P2
R =
Như vậy, hệ số lặp lại là giới hạn trên của hệ số di truyền. Hệ số lặp lại
được biểu thị bằng một số thập phân có giá trị từ 0 đến 1. Hệ số lặp lại lớn hay
nhỏ phụ thuộc vào bản chất di truyền của các tính trạng (phụ thuộc vào đặc điểm
di truyền của quần thể) và điều kiện môi trường mà cá thể đó được nuôi dưỡng
(Falconer, 1993). Khi tính trạng của cá thể được xác định m lần, phương sai sai
2
lệch môi trường riêng ( ) sẽ giảm đi m lần, do vậy phương sai kiểu hình trung
σ Es
bình của m lần xác định sẽ giảm đi. Tỷ số giữa phương sai kiểu hình của m lần
σ
xác định (σ P2(m) ) và phương sai kiểu hình ( P2 ) biểu thị độ chính xác của giá trị
kiểu hình:
σ P2(m)
σ P2
1+ (m −1)R
=
m
8
Khi số lần xác định tăng lên, tỷ lệ này giảm mạnh ở các tính trạng có hệ số
lặp lại nhỏ. Do đó sử dụng giá trị kiểu hình trung bình sẽ làm tăng độ chính xác
của giá trị này trong đánh giá chọn lọc vật giống.
1.1.4. Hệ số tương quan di truyền
Trong thực tế sản xuất, các nhà chọn giống thường quan tâm chọn lọc đồng
thời một số tính trạng. Về mặt di truyền, các tính trạng này thường có tương quan
với nhau do tính đa hiệu của gen và sự liên kết gen trong quá trình di truyền
(Lasley, 1972). Sự tồn tại của các tương quan di truyền giữa các tính trạng đã
được quan sát thấy khi tính trạng này được cải thiện thường kéo theo những biến
đổi di truyền nhất định của tính trạng khác.
Hệ số tương quan di truyền (rA), tương quan ngoại cảnh bao gồm cả tác
động cộng gộp và tương tác (rE) và tương quan kiểu hình (rP) giữa 2 tính trạng X
và Y được tính theo các công thức sau:
σ
Axy
- Hệ số tương quan di truyền:
r =
A
2
2
σAx σAy
.
σ
E xy
rE =
- Hệ số tương quan ngoại cảnh:
2
2
σEx
.σ E
y
σPxy
- Hệ số tương quan kiểu hình:
Trong đó:
rP =
2
2
σ Px
.σ Py
r
, , : các hệ số tương quan di truyền, ngoại cảnh và kiểu hình
rE rP
A
σAxy
,
σExy
,
σ
Pxy : các hiệp phương sai di truyền, ngoại cảnh và kiểu hình
2
Ax
2
2
2
2
2
σ
σAy
,
σEx
,
σEy
,
σPx
,
Py : phương sai di truyền, ngoại cảnh và kiểu hình
σ
;
Hiện nay, việc ước tính các tham số di truyền thường sử dụng một tập hợp
lớn các số liệu, các mô hình hỗn hợp bao gồm cả yếu tố cố định và yếu tố ngẫu
nhiên được sử dụng và một số phần mềm chuyên dụng như Harvey (1990),
MTDF.REML (Boldman et al., 1995), VCE (Groeneveld et al., 2008) đáp ứng
được yêu cầu này.
1.1.5. Giá trị giống
Giá trị di truyền cộng gộp (A) hay giá trị giống (Breeding Value, BV) là
phần mà kiểu gen truyền được từ thế hệ trước cho thế hệ sau.
9
Chỉ có thể ước tính được giá trị giống, vì vậy giá trị giống ước tính
(Estimated Breeding Value, EBV) được sử dụng rộng rãi trong đánh giá chọn lọc
vật giống. Ước tính giá trị giống một tính trạng của vật nuôi phải dựa vào giá trị
kiểu hình của tính trạng này. Các giá trị kiểu hình được sử dụng để ước tính giá
trị giống được gọi là các nguồn thông tin, bao gồm:
+ Giá trị kiểu hình của một, hoặc trung bình của các lần xác định lặp lại trên
chính bản thân con vật;
+ Giá trị kiểu hình của một hoặc trung bình trên các anh chị em (ruột hay
nửa ruột thịt) của con vật;
+ Giá trị kiểu hình của một hoặc trung bình trên các đời con của con vật;
+ Giá trị kiểu hình của một hoặc trung bình của các lần xác định lặp lại trên
tổ tiên (bố, mẹ, ông, bà…) của con vật.
* Dự đoán giá trị giống bằng phương pháp BLUP
Trên cơ sở ước tính giá trị giống bằng phương pháp chỉ số chọn lọc
(Selection Index) kinh điển, phương pháp BLUP do Henderson xây dựng và phát
triển.
BLUP là phương pháp dự đoán hồi quy không sai lệch tốt nhất được sử
dụng rộng rãi trong việc dự đoán giá trị giống của con vật (BLUP) và ước tính
ảnh hưởng của các yếu tố cố định (BLUE). Phương pháp BLUP có những ưu
điểm như sau:
- Sử dụng được tất cả các nguồn thông tin về giá trị kiểu hình của các con
vật có họ hàng với con vật cần đánh giá, nên dự đoán được giá trị giống một cách
chính xác nhất, nhờ đó hiệu quả chọn lọc theo BLUP cũng cao hơn;
- Loại trừ được ảnh hưởng của các yếu tố cố định như đàn vật nuôi, năm,
mùa vụ, lứa đẻ… do nguồn thông tin của các con vật họ hàng chịu ảnh hưởng
của các yếu tố này;
- Đánh giá được khuynh hướng di truyền của các đàn vật giống do xử lý các
nguồn thông tin thu được trong một khoảng thời gian nhất định;
- Sử dụng được các nguồn thông tin dưới dạng số liệu giữa các nhóm không
cân bằng.
Mô hình hỗn hợp được sử dụng trong phương pháp BLUP như sau:
Y = X + Z + e
Trong đó:
Y: Véc tơ giá trị của tính trạng nghiên cứu
10
: Véc tơ giá trị ước tính của các yếu tố cố định
: Véc tơ giá trị giống dự đoán của các con vật trong hệ phổ
e: Véc tơ sai số ngẫu nhiên
X: Ma trận ảnh hưởng của các yếu tố cố định
Z: Ma trận ảnh hưởng của các con vật trong hệ phổ.
Henderson đã sử dụng phương trình sau để tính các vec tơ và :
Trong đó:
- X’ và Z’: các ma trận chuyển vị của X và Z
- A: ma trận quan hệ di truyền cộng gộp của các con vật trong hệ phổ, còn
gọi là NRM (Numerator Relationship Matrix)
- α = (1-h2)/h2 hoặc
(h2: hệ số di truyền,
và : phương sai di
truyền cộng gộp và phương sai sai lệch môi trường)
Một số mô hình BLUP được sử dụng để dự đoán giá trị giống của vật nuôi:
- Mô hình đực giống (Sire Model): Dùng để dự đoán khác biệt mong đợi ở
đời con (Expected Progeny Differences, EPD), từ đó dự đoán giá trị giống của
con đực;
- Mô hình vật giống (Animal Model): Dùng để dự đoán giá trị giống của
bản thân con vật;
- Mô hình lặp lại (Repeatability Model): Dùng để dự đoán giá trị giống khi
giá trị kiểu hình của một tính trạng được xác định lặp lại với một số lần. Mô hình
này còn được gọi là mô hình với các ảnh hưởng ngoại cảnh ngẫu nhiên (Models
with Random Environmental Effects);
- Mô hình nhiều tính trạng (Mutivariate Animal Model): Dùng để dự đoán
giá trị giống với hai hay nhiều tính trạng dựa trên mối quan hệ kiểu hình và mối
quan hệ di truyền giữa các tính trạng này.
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu liên quan đế dự đoán giá trị
giống bằng các mô hình khác nhau thường sử dụng phần mềm MTDF.REML
(Boldman et al., 1995) hoặc PEST (Groeneveld et al., 2002).
1.1.6. Hiệu quả chọn lọc
Hiệu quả chọn lọc (Selection Response, R) về một tính trạng thuộc mục tiêu
chọn giống là sự chênh lệch giữa giá trị trung bình kiểu hình của đời con sinh ra
11
từ những bố mẹ được chọn lọc so với giá trị trung bình kiểu hình của toàn bộ thế
hệ bố mẹ đối với tính trạng đó.
Hiệu quả chọn lọc của một tính trạng phụ thuộc hệ số di truyền vào ly sai
chọn lọc (Selection Differential, S) của tính trạng đó. Ly sai chọn lọc là sự chênh
lệch giữa giá trị trung bình kiểu hình của các bố mẹ được chọn lọc so với giá trị
trung bình kiểu hình của toàn bộ thế hệ bố mẹ đối với tính trạng đó.
Do ly sai chọn lọc được tiêu chuẩn hoá theo độ lệch chuẩn kiểu hình của
tính trạng (σP) nên hiệu quả chọn lọc của một tính trạng phụ thuộc tỷ lệ thuận với
hệ số di truyền, cường độ chọn lọc (i) và độ lệch chuẩn của tính trạng:
R = h2S = h2iσP
1.2. KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN
1.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái và các yếu tố ảnh
hưởng
1.2.1.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năng sinh
sản nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng lợn cho khâu sản xuất
lợn thịt.
Có nhiều chỉ tiêu sinh học đánh giá năng suất sinh sản của lợn cái nhưng
các nhà di truyền chọn giống lợn chỉ quan tâm tới một số chı tiêu năng suất sinh
̉
́ ̣ ̣
san nhất định, đo là các chỉ tiêu có tầm quan trọng quyêt đinh hiêu quả kinh tế
̉
́
trong chăn nuôi lợn nái.
Gordon (2004) cho rằng: trong các trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai
sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng
̀
suất sinh sản của lợn nái. Chỉ tiêu này phan anh được đây đu toàn bộ chu kı san
̉ ̉
̀
̉
́
́ ̣
suât cua một lợn nái trong môt năm. Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của
̉
các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái
sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ
sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến
khi thụ thai lứa sau.
Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống
khi cai sữa gồm: số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con sống tới lúc
cai sữa.
12
Mabry et al. (1996) cho rằng, các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của
lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày
tuổi và số lứa đẻ/nái/năm. Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của
người chăn nuôi lợn nái.
Theo quyết định số 657/QĐ-BNN-CN (2014) về việc phê duyệt các chỉ
tiêu định mức kinh tế kỹ thuật cho các đàn vật nuôi giống gốc đối với lợn ngoại
như sau:
- Số con đẻ ra còn sống/ổ: ≥ 10,5 con (Yorkshire, Landrace), ≥ 9,5 con
(Duroc), ≥ 9,0 con (Piétrain), ≥ 11,0 con (các giống tổng hợp), thấp hơn 10% (đối
với lợn cụ kỵ các giống tương ứng).
- Số con cai sữa/ổ: ≥ 9,7 con (Yorkshire, Landrace), ≥ 8,7 con (Duroc), ≥8,3
con (Piétrain), ≥ 10,1 con (các giống tổng hợp), thấp hơn 10% (đối với lợn cụ kỵ
các giống tương ứng)
- Số ngày cai sữa: 21 – 28 ngày
- Khối lượng toàn ổ lúc sơ sinh: ≥ 14,5 kg (Yorkshire, Landrace), ≥ 13,0 kg
(Duroc), ≥ 12,0 kg (Piétrain), ≥ 15,5 kg (các giống tổng hợp)
- Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa: 65 - 80 kg (Yorkshire, Landrace), 55 -80 kg
(Duroc), 50 - 80 kg (Piétrain), 65 – 85 kg (các giống tổng hợp)
- Số con 75 ngày tuổi/ổ: ≥ 9,2 con (Yorkshire, Landrace), ≥ 8,3 con
(Duroc), ≥ 7,9 con (Piétrain), ≥ 9,6 con (các giống tổng hợp)
- Khối lượng lợn ở 75 ngày tuổi: ≥ 25 kg/con
- Tuổi đẻ lứa đầu: 340-385 ngày
- Số lứa đẻ/nái/năm: ≥ 2,2 lứa (Yorkshire, Landrace), ≥ 2 lứa (Duroc), ≥ 1,9
lứa (Piétrain), ≥ 2,25 lứa (Các giống tổng hợp)
- Tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa: ≥ 92%
- Tỷ lệ nuôi sống từ cai sữa đến 75 ngày: ≥ 95%
- Thời gian nuôi cái hậu bị (từ 75 ngày đến khi phối giống lần đầu): 150-
160 ngày
1.2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
* Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
(Marsac et al., 2000; Hamann et al., 2004).
13
Theo Legault (1985), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các
giống lợn được chia thành 4 nhóm chính (dẫn theo Rothschild and Bidanel, 1998)
như sau:
- Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên
chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá;
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Piétrain, Landrace của Bỉ,
Hampshire, Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản
xuất thịt cao;
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống chuyên sản của
Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao
nhưng khả năng cho thịt kém;
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản
xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường.
Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các
giống đa dụng. Ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ
lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và
Large White (Blasco et al., 1995).
Theo Hamann et al. (2004), lợn Landrace có số con đẻ ra cao hơn so với
lợn Piétrain.
Theo Dan and Summer (1995), số con sơ sinh/ổ của nái Large White và nai
́
Landrace lần lượt là 9,6 và 10,4 con; số con sơ sinh sống/ổ tương ứng đạt 9,1 và
9,7 con. Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,001).
Judge et al. (1996) nhận thấy lợn có hội chứng stress có tỷ lệ nạc cao,
song thân hình thường ngắn hơn, thu nhận thức ăn thấp và tăng khối lượng
trung bình hàng ngày không cao cũng như số con trong ổ, tỷ lệ nuôi sống
thấp (dẫn theo Rothschild and Bidanel, 1998). Trên đàn lợn Landrace và
Yorkshire, yếu tố giống ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng số con/ổ (số con đẻ
ra, số con sơ sinh sống, số con để nuôi và số con cai sữa), khoảng cách lứa đẻ và
khối lượng toàn ổ giai đoạn sơ sinh, cai sữa (Hoque et al., 2002). Đặng Vũ Bình
(1999) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản
trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại (Landrace và Yorkshire) nuôi tại Xí nghiệp
Lợn giống Mỹ Văn cho thấy giống chỉ ảnh hưởng tới số con để nuôi (P<0,05).
̉
̣ ́ ̀ ́ ̀
sô di truyên thâp, tuôi đe lưa đâu vơi
̉
́ ́
Cac chı tiêu sinh san thương co hê
̉
́
̉
̀
́
h2 = 0,27 (Rydhmer et al., 1995); hệ số di truyền cộng gộp đối với tính trạng sô
́
14
̉
̉
con đe ra/ô va sô
́
con cai sưa/ô của một số công bố đê
̀
u dao động từ 0,03 đến
̉
̀
̃
0,12: sô
́
con đe ra/lưa vơi h2 = 0,12 (Damgaard et al., 2003), h2 = 0,08 (Smital
̉
́
́
et al., 2005), h2 = 0,03 (Imboonta et al., 2007), h2 = 0,09 (Lundgren et al.,
2
2010) va h2 = 0,12 (Schneider et al., 2011); sô
́
con cai sưa/ô vơi h = 0,11
2
̉
̀
̃
́
̉
́ ̣
i lương sơ sinh/ô vơi h = 0,07 (Grandinson et al.,
́
(Schneider et al., 2011). Khô
2005) va h2 = 0,18 (Schneider et al., 2011); khô
́
i lươn
̣
g sơ sinh/con vơi h2 = 0,44
̀
́
2
̉
́ ̣
(Schneider et al., 2011); khôi lương cai sưa/ô vơi h = 0,20 (Grandinson et al.,
̃
́
2005), h2 = 0,21 (Lundgren et al., 2010) va h2 = 0,22 (Schneider et al., 2011);
̀
khoang cach giưa hai lưa đe vơi h2 = 0,08 (Rydhmer et al., 1995). Cac chı tiêu
̉
̉
́
̃
́
́
́
̉
sinh san co hê
̣
sô
́
di truyê
u tô
t sinh san thương đat
̀
n thâ
́
p nên năng suâ
́
t sinh san chiu
̣
anh hương lơn bơi
̉
̉
̉
̉
̉
́
́
tac đôn
̣
g cua cac yê
́
́
môi trương. Trong chon
̣
loc
̣
nhân thuâ
so vơi nhom cac tınh tran
̀
n, cac tınh tran
̣
g
g
̉
́
́
̀
́
́
năng suâ
sinh trương va châ
́
̣
tiê
́
n bô
̣
di truyê
̀
n châm
̣
̣
̉
̀
́
́
́
́
́
t lươn
̣
g thit
̣
. Khi nghiên cưu cac yê
́
u tô
́
anh hương đê
̉
́
n ưu thê
́
̉
̉
̀
́
́
lai ơ lơn
̣
, cho đê
́
n nay cac kê
́
t qua nghiên cưu đa khă
̉
ng đin
̣
h ơ lơn
̣
cac tınh tran
̣
g
̉
̉
̉
́
́
̃
́
́
sinh san co hê sô
̣
́
di truyê
̀
n thâ
́
p thı khi lai tao
̣
đat
̣
ưu thê lai cao.
́
̉
́
̀
Đánh giá ảnh hưởng của lai giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả
cho biết nhờ có ưu thế lai cao mà lai giống có thể cải thiện năng suất sinh sản của
lợn. Các lợn nái lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn (11,3 ngày), tỉ lệ thụ thai
cao hơn (2 - 4%), số trứng rụng nhiê
(0,6- 0,7 con) và số con cai sữa/ổ (0,8 con) nhiều hơn so với lơn
Tỉ lệ nuôi sống lợn con ở các lơn nái lai cao hơn (5%), khối lượng sơ sinh/ổ
(1 kg), khối lượng 21 ngày/ổ (4,2 kg) cao hơn so với lơn nai giống thuần
̀
u hơn (0,5 trứng), số con đẻ ra/ổ cao hơn
̣
nái thuần chủng.
̣
̣
́
(Gunsett and Robison, 1990). Ngoài ra, năng suất sinh sản của lợn nái cũng chịu
ảnh hưởng của cận huyết. Theo Johnson (1990), khi hệ số cận huyết ở lợn nái
tăng thêm 10% thì số con đẻ ra sẽ giảm khoảng 0,29 con/ổ.
Ngoài sự ảnh hưởng của giống, kiểu gen halothane cũng có ảnh hưởng đến
khả năng sinh sản của lợn nái (Biedermann et al., 1997; Stalder et al., 1998).
* Yếu tố ngoại cảnh
Ngoài yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất rõ rệt và
có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khả
năng sinh sản của lợn nái như: chế độ nuôi dưỡng, tuổi, khối lượng phối, phương
thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ môi trường, thời gian chiếu sáng, bệnh tật...
(Gamba, 2000; Riha et al., 2000; Dierckx et al., 1997; Sohst, 1997).
15
- Chế độ nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản
của lợn nái. Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số và
chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt.
Zimmerman et al. (1996) cho biết các mức ăn khác nhau trong giai đoạn
từ cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai.
Yamada and Nakamura (1998) nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế lợn cái
trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so
với nuôi dưỡng đầy đủ.
Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng
rụng, tăng số phôi sống (Ashworth et al., 2000).
- Mùa vụ
M
ùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn
nái. Gaustad-Aas et al. (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ.
Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả
thấp, tỷ lệ chết ở lợn con cao (Akos and Bilkei, 2004). Theo Quiniou et al.
(2000), nhiệt độ cao làm lợn nái thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng
và tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm.
Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ. Lợn nái phối giống
vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả
năng sinh sản từ 5 đến 20%.
Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với
khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi et al., 2000a, Koketsu et al.,
1998). Theo Dominguez et al. (1998) thì tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít
vào mùa hè.
Đặng Vũ Bình (1999) phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến các tính
̣ ̣
trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lơn nái ngoai đã kết luận yếu tố
mùa vụ ảnh hưởng đến hầu hết các tính trạng (trừ tính trạng số con 35 ngày tuổi,
khối lượng toàn ổ giai đoạn sơ sinh và 21 ngày tuổi). Khối lượng toàn ổ sơ sinh ở
mùa đông cao hơn mùa thu (P<0,01). Trần Thị Minh Hoàng và cs. (2008a), Phạm
́
Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng (2009) cũng cho biêt yếu tố mùa vụ ảnh
hưởng đến tất cả các tính trạng sinh sản mà các tác giả đã nghiên cứu.
16
- Tuổi và lứa đẻ
Clark and Leman (1996) cho biết tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997).
Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế
bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ
ba (Deckert et al., 1998).
Warrick et al. (1989) cho biết số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng
trứng rụng (dẫn theo Gordon, 1997).
Theo Tretinjak et al. (2009), số con đẻ ra/ổ thường thấp nhất ở lứa thứ
nhất, tăng lên và đạt cao nhất ở lứa thứ 3 đến lứa thứ 5.
̣ ́ ́
- Ảnh hưởng của lơn đực phôi và phương thức phối giông
Nhiều tác giả cho biết số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái
ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ (Serenius et al., 2003).
Theo Anon (1993), phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực
tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (dẫn theo Gordon, 1997).
Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn
(0-10%) so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998), nhưng kết quả nghiên cứu của
Alexopoulos et al. (1997) lại ngược lại.
- Thời gian cai sữa
Mabry et al. (1996); Gaustad-Aas et al. (2004) cho biết: phối giống sớm
sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn. Theo
Gordon (2004), giảm thời gian cai sữa từ 20 xuống 15 ngày sẽ làm giảm 0,2 con
trong ổ, giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con
trong ổ.
Lợn nái phối giống khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 so
với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít. Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai
thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Tonn et al., 1995, dẫn theo
Gordon, 1997; Deckert et al., 1998).
- Chế độ nuôi nhốt
́
Nuôi nhốt lợn cái hậu bị hoàn toàn anh hương đên qua trınh sinh ly va gây
́ ́ ̀
̀
̉
̉
̣ ̣ ̣ ̣
trở ngại cho phối giống, chủ yếu là gây hiên tương lợn cái không hoăc châm
động dục. Các nhà chăn nuôi khuyên cao khắc phục vấn đề này bằng cách không
́
́
nhốt lợn cái hậu bị mà thả chúng ra bên ngoài trước thời kỳ phối giống
(Zimmerman et al., 1996). Việc nuôi nhốt cá thể hoặc nuôi riêng biệt từng lợn cái
17
hậu bị cũng sẽ làm chậm thành thục về tính so với những cái hậu bị được nuôi
theo nhóm. Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu khuyến cáo không nên nuôi lơn cái
giai đoan hậu bị tách biệt đàn. Mât đô nuôi hâu bi không phu hơp cung lam châm
g duc cua lơn cai hâu bi.
̣
̣
̣
̣
̣
̣
̣
̣
̀
̃
̀
̉
tuôi đôn
̣
̣
̣
̣
̣
̉
́
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước hoặc khối lượng của vật nuôi do
có sự tăng lên về số lượng và thể tích tế bào. Mối liên hệ giữa khối lượng và tuổi
của vật nuôi được thể hiện bằng đồ thị hình chữ S. Giai đoạn trước thành thục
sinh dục có tốc độ sinh trưởng nhanh, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại và giảm
dần cho đến khi đạt ổn định về khối lượng, lúc này vật nuôi thành thục về thể
vóc. Khả năng sinh trưởng được mô tả bằng sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng
tương đối.
Sinh trưởng tuyệt đối được xác định bằng tỷ lệ giữa khối lượng cơ thể vật
nuôi tăng lên (w2 – w1) với khoảng thời gian để tăng được khối lượng đó (t2 – t1).
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng tăng khối lượng trung bình hàng
tháng (kg/tháng) hoặc hàng ngày (g/ngày). Sinh trưởng tuyệt đối được mô hình
hoá bằng đồ thị parabol. Đối với lợn thịt cần xác định được thời điểm đạt giá trị
cực đại (đỉnh parabol) để kết thúc giai đoạn nuôi thịt nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Sinh trưởng tương đối được xác định bằng tỷ lệ giữa khối lượng cơ thể vật
nuôi tăng lên (w2 – w1) với khối lượng tại thời điểm bắt đầu (w1).
1.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
* Yếu tố di truyền
Ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến khả năng sinh trưởng bao gồm sự
khác biệt giữa các giống và sự khác biệt giữa các cá thể trong cùng một giống.
Khả năng sinh trưởng của lợn bị ảnh hưởng bởi giống, dòng và kiểu gen
khác nhau (Campell and Taverner, 1988). Mrode and Kennedy (1993) đã chỉ ra
sự khác biệt về khả năng sinh trưởng giữa giống Yorkshire và Landrace. Trong
một nghiên cứu ở Úc, khi so sánh năng suất sinh trưởng của hai giống lợn
Yorkshire và Landrace. McPhee et al. (1981) đã cho biết giống lợn Yorkshire có
tốc độ sinh trưởng cao hơn và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn giống lợn
Landrace. Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự khi so sánh năng
suất sinh trưởng các giống lợn Landrace và Yorkshire tại Hà Lan (Haer and de
18
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Khả năng sinh sản, sinh trưởng và định hướng chọn lọc đối với lợn Duroc, Landrace và Yorkshire", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
luan_an_kha_nang_sinh_san_sinh_truong_va_dinh_huong_chon_loc.pdf
CN - TTLA - Doan Phuong Thuy.pdf
TTT - Doan Phuong Thuy.pdf

