Luận án Nghiên cứu tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã hội huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
ĐẶNG TIẾN SĨ  
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI  
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI  
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔ NG NGHIỆP - 2017  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
ĐẶNG TIẾN SĨ  
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI  
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI  
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH  
Chuyên ngành:  
Mã số:  
Quản lý đất đai  
62 85 01 03  
Người hướng dẫn khoa học:  
GS.TSKH. Đặng Hùng Võ  
PGS.TS. Đỗ Thị Tám  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy  
bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám  
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày... tháng... năm 2017  
Tác giả luận án  
Đặng Tiến Sĩ  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự quan  
tâm, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân. Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể  
các thầy cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Bộ môn Quy hoạch đất đai, Ban Quản lý đào  
tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,  
nghiên cứu và hoàn thành luận án này.  
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH. Đặng Hùng Võ  
và PGS.TS. Đỗ Thị Tám đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên  
cứu và thực hiện luận án.  
Tôi cũng xin gửi lòng biết ơn chân thành tới lãnh đạo và các cán bộ UBND,  
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vân Đồn, cán bộ và nhân dân các xã thuộc  
huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình  
điều tra khảo sát thực địa, tổ chức các cuộc họp thu thập ý kiến và phỏng vấn trực tiếp  
người dân.  
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các tập thể và cơ quan, ban ngành, bạn  
bè, gia đình và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên  
cứu luận án.  
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự đóng góp quý báu của các tập  
thể, cá nhân đã động viên khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này.  
Hà Nội, ngày... tháng... năm 2017  
Tác giả luận án  
Đặng Tiến Sĩ  
ii  
 
MỤC LỤC  
Trang  
Danh mục sơ đồ ...............................................................................................................ix  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
BĐS  
Nghĩa tiếng Việt  
Bất động sản  
CNH-HĐH  
CSHT  
GCN  
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa  
Cơ sở hạ tầng  
Giấy chứng nhận  
Giải phóng mặt bằng  
Hợp tác xã  
GPMB  
HTX  
KTXH  
KHSDD  
KKT  
Kinh tế xã hội  
Kế hoạch sử dụng đất  
Khu kinh tế  
QH  
Quy hoạch  
QHSDĐ  
QSDĐ  
SDĐ  
Quy hoạch sử dụng đất  
Quyền sử dụng đất  
Sử dụng đất  
TB  
Trung bình  
TĐC  
Tái định cư  
TNMT  
THĐ  
Tài nguyên môi trường  
Thu hồi đất  
UBND  
Ủy ban nhân dân  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
TT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
DANH MỤC SƠ ĐỒ  
TT  
Tên sơ đồ  
Trang  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ  
TT  
Tên biểu đồ  
Trang  
ix  
 
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Họ tên NCS: Đặng Tiến Sĩ  
Tên luận án: Nghiên cứu tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã  
hội huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.  
Chuyên ngành: Quản lý đất đai;  
Mã số: 62.85.01.03  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu của luận án  
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách đất đai tại huyện Vân Đồn.  
- Xác định tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã hội, trên  
cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực của chính sách đất đai  
đến sự phát triển bền vững kinh tế xã hội huyện Vân Đồn.  
Phương pháp nghiên cứu  
Trong luận án, sử dụng kết hợp 2 nhóm phương pháp chính đó là thu thập tài  
liệu số liệu và xử lý số liệu và được chia thành 2 giai đoạn:  
Giai đoạn 1: Sau khi thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp, tiến hành phân vùng và  
điều tra 450 người sử dụng đất đại diện của các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức sử dụng  
đất tại 03 khu vực nghiên cứu, 100 phiếu điều tra cán bộ công chức địa phương.  
Giai đoạn 2: Sử dụng phương pháp phân tích, xử lý số liệu: (i) Nghiên cứu định  
tính bằng việc xây dựng phát triển hệ thống khái niệm/thang đo; sử dụng thang đo  
Likert để đánh giá mức độ thực hiện các chính sách đất đai; (ii) Nghiên cứu định lượng  
bằng việc ứng dụng phương pháp phân tích ANOVA để kiểm định mức độ khác nhau  
giữa các vùng theo nhóm yếu tố quan sát; (iii) Xác định mối tương quan giữa các biến  
quan sát với nhau (thông qua hệ số tương quan r) để từ đó xác định tác động của chính  
sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã hội.  
Kết quả chính và kết luận  
1) Điều kiện tự nhiên thuận lợi và cơ chế chính sách đặc thù trong sử dụng đất đã  
tạo điều kiện cho huyện Vân Đồn phát triển kinh tế xã hội theo hướng dịch vụ du lịch và  
giải trí chất lượng cao. Điều đó đã thu hút nhiều dự án đầu tư phát triển.  
Trong giai đoạn 2005 - 2015 diện tích đất đai toàn huyện tăng 2.863,05 ha. Đất  
nông nghiệp tăng từ 33.784,32 (năm 2005) lên 39.275,95 ha (năm 2015); đất phi nông  
nghiệp có chuyển biến tích cực từ 2.105,84 ha (năm 2005) tăng lên 4.648,09 ha (năm  
2015); đất chưa sử dụng giảm từ 19.430,07 ha (năm 2005) xuống 14.259,24 ha (2015) là  
do một phần lớn diện tích đất chưa sử dụng được cải tạo đưa vào mục đích nông nghiệp,  
một phần chuyển sang đất phi nông nghiệp. Tính đến 2015, huyện Vân Đồn có  
58.183,28 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp có diện tích 39.275,95 ha,  
x
 
chiếm 67,99% diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp có 4.648,09 ha, chiếm 8,03%  
diện tích đất tự nhiên và đất chưa sử dụng có 14.259,24 ha, chiếm 23,99%. Phần lớn  
diện tích đất được giao cho các hộ gia đình cá nhân sử dụng chiếm tới 28,45%, giao cho  
UBND cấp xã là 36,96% và 25,05% do tổ chức kinh tế.  
2) Chính sách đất đai được thực hiện ở huyện Vân Đồn tương đối tốt, tạo điều  
kiện cho phát triển kinh tế xã hội của huyện. Trong đó, chính sách quy hoạch sử dụng  
đất được đánh giá ở mức trung bình với giá trị trung bình chung từ 2,6 -3,4 và có sự  
khác nhau rất rõ về mức độ đánh giá giữa vùng nông nghiệp (vùng 3) với vùng trung  
tâm (vùng 1) và vùng quy hoạch phát triển (vùng 2). Và có sự khác nhau giữa đối tượng  
sử dụng đất là hộ gia đình cá nhân và tổ chức sử dụng đất. Chính sách giao đất, cho thuê  
đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được đánh giá ở mức trung bình (giá trị  
trung bình chung từ 2,92-3,3) và có sự khác nhau rất rõ giữa 3 vùng. Không có sự khác  
nhau nhiều giữa các đối tượng sử dung đất khi đánh giá chính sách này. Chính sách thu  
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được đánh giá ở mức trung bình (giá trị trung  
bình từ 3,03 – 3,11) và có sự khác nhau rất rõ giữa hộ sử dụng đất nông nghiệp với các  
đối tượng sử dụng đất khác. Có sự khác nhau giữa vùng 1 và vùng 3 khi đánh giá chính  
sách này.  
3) Kết quả nghiên cứu tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế  
xã hội huyện Vân Đồn cho thấy: chính sách quy hoạch sử dụng đất có tác động ở mức  
độ rất cao (rs > 0,75) đến mức độ phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa và công nghiệp hóa.  
Chính sách giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tác động  
ở mức độ rất cao (rs > 0,75) đến thực hiện quyền bình đẳng, thu nhập và mức sống của  
người dân; có tác động ở mức độ cao (0,5 < rs <0,75) đến sự hình thành và phát triển thị  
trường bất động sản, thu hút vốn đầu tư, đô thị hóa và công nghiệp hóa. Chính sách thu  
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có tác động ở mức độ cao (0,5 < rs <0,75) đến  
sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản, thu hút vốn đầu tư; đô thị hóa và  
công nghiệp hóa, thu nhập và mức sống của người dân. Đó là cơ sở để hoạch định các  
chính sách đất đai phù hợp cũng như đưa các chính sách vào thực tiễn cuộc sống, góp  
phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.  
4) Để chính sách đất đai có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội  
cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp: xây dựng khung pháp lý về lập và thực  
hiện quy hoạch sử dụng đất phù hợp; đơn giản các thủ tục và giảm lệ phí thực hiện  
giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giải quyết tốt các  
vấn đề xã hội phát sinh khi thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Dang Tien Si  
Thesis title: Study on the effect of land policy on the social and economic development  
in Van Don District, Quang Ninh Province.  
Major: Land Management;  
Code: 62 85 01 03  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
- To assess the situation of the implementation of land policy in Van Don  
District.  
- To determine the effect of land policy to the socio-economic development,  
thus, propose solutions to enhance the positive effect of land policy on the socio-  
economic development in Van Don District.  
Materials and Methods  
In the thesis, two groups of methods were used, they are gathering data and  
processing data which are divided into two stages as follows.  
Phase 1: After collecting documents and secondary data, conducting surveys  
with 450 representatives of individual households and organizations in 03 selected  
regions, 100 representatives of local official.  
Phase 2: Using the methods of data processing and analyzing: (i) qualitative  
research by developing the system of concepts/scales and use Likert scale to measure  
the implementation of land policy; (ii) quantified research by applying analytical  
methods ANOVA to verify different degrees among regions under group of observation  
elements; (iii) determining the correlations between the observed variables together (by  
using the correlation coefficient r) to find out the effect of land policy to the socio-  
economic development.  
Main findings and conclusions  
1) Favorable natural conditions and specific mechanisms and policies in land use  
have created an opportunity for Van Don District in socio-economic development in the  
direction of travel services and high-quality entertainment. That has attracted many  
development investment projects.  
In the period 2005 - 2015, the land area increased 2,863.05 ha district.  
Agricultural land increased from 33,784.32 hectares (in 2005) to 39,275.95 hectares (in  
2015); Non-agricultural land has a positive change from 2,105.84 hectares (in 2005)  
increased to 4,648.09 hectares (in 2015); unused land decreased from 19,430.07  
hectares (in 2005) to 14,259.24 hectares (in 2015) is due to a large area of unused land  
to be renovated into agricultural purposes, partly transferred to non-agricultural land. In  
2015, Van Don District has 58,183.28 hectares of natural land, including agricultural  
xii  
 
land with an area of 39,275.95 hectares, accounting for 67.99% of natural land; non-  
agricultural land is 4,648.09 hectares, accounting for 8.03% of natural land and unused  
land is 14,259.24 hectares, accounting for 23.99%. Much of the land are allocated to  
individual households accounted for 28.45% of use, delivered to communal levels are  
36.96% and 25.05% for economic organization.  
2) Land policies are implemented relatively well in a Van Don district,  
facilitating socio-economic development of the district. In which, policy for land use  
planning is assessed at an average (means are from 2.6 to 3.4) and there are very clearly  
different on the level of assessment between agricultural areas (region 3) and the center  
(region 1) and between agricultural areas and development planning region (region 2).  
And there is a difference between individual households and organizations. Policy for  
allocation, land lease and land use right certificates is assessed at the average level  
(means are from 2.92 to 3.3 average) and there is clearly different among three regions.  
There was no significant difference among land user when evaluating for allocation,  
land lease and land use right certificates. Policy for land acquisition, compensation,  
support and resettlement rated at the average level (means are from 3.03 to 3.11) and  
there is clearly different between agricultural land use household and others. There is a  
difference between region 1 and 3 when evaluating this policy.  
3) The results of study on the impact of land policy on the socio-economic  
development in Van Don District has shown that:  
Policy for planning land use has positive effected with very high level (rs> 0.75)  
to level of infrastructure development, urbanization and industrialization.  
Policy for land allocating, leasing and issuing land use right certificates has  
positive effected with very high level (rs> 0.75) to implement equal rights, and income  
and living standard of the people; has positive effected with high level (0.5 <rs <0.75) to  
the formation and development of real estate market, capital attraction and urbanization  
and industrialization. Policy for land acquisition, compensation, support and  
resettlement has positive effected at a high level (0.5 <rs <0.75) to the formation and  
development of real estate market, capital attraction; urbanization and industrialization  
and income and living standard of the people. That is the basis for the formulation of  
appropriate land policy as well as implementation the policies, thus, contributing to  
promoting socio-economic development.  
4) To land policy has a positive effect on the socio-economic development, it is  
need to perform synchronization solution groups: building up the legal framework for  
land use planning and consistent implementation; simple procedures and reduced  
performance fee allocation, land lease and land use right certificates; solving social  
problems arise when land acquisition, compensation, support and resettlement.  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nhân tố có ảnh hưởng sâu  
sắc đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị của mỗi người, mỗi địa  
phương. Không có đất thì không thể có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của  
con người. Đất đai có tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của các  
nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển (Ngân hàng thế giới,  
2004). Những phương cách trong đó đất đai được xác lập quyền sở hữu, được giao sử  
dụng hay được chuyển giao giữa các thế hệ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển  
KTXH và chính trị của mỗi nước.  
Đất đai cũng là yếu tố thiết yếu nhất để thực hiện thành công xóa đói, giảm  
nghèo. Sử dụng đất (SDĐ) là vấn đề trọng tâm trong lịch sử phát triển của Việt Nam  
(Jean et al., 2011). Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam diễn ra với tốc độ rất nhanh  
đã làm tăng áp lực đối với tài nguyên đất đai, dẫn tới việc phải điều chỉnh lại cách  
tiếp cận đối với công tác quản lý và SDĐ. Mặt khác, việc đổi mới cách tiếp cận  
quản lý và SDĐ cũng phải dựa trên xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tạo ra một  
hành lang để quản lý quá trình phát triển đất nước một cách bền vững.  
Chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững,  
quản lý quốc gia hiệu quả, tạo ra phúc lợi xã hội và các cơ hội kinh tế mở ra cho  
người dân, đặc biệt là cho người nghèo (Ngân hàng thế giới, 2004). Chính sách đất  
đai có tác dụng biến hiện vật đất đai thành giá trị tạo ra ngân sách và nguồn vốn cho  
phát triển KTXH đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả SDĐ. Kinh nghiệm của các  
nước cho thấy chính sách đất đai không đúng đắn có thể mang lại bất lợi nặng nề đối  
với phát triển KTXH (Phương Ngọc Thạch, 2008). Chính sách đất đai là cơ sở quan  
trọng để Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết và phân bổ đất đai nhằm nâng cao hiệu  
quả SDĐ.  
Trong những năm gần đây vấn đề đất đai và đổi mới chính sách đất đai ở  
Việt Nam đã đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc nhi n lĩnh vực  
khoa học khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích, đánh giá một  
cách kỹ lưỡng, đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về tác động của quá trình đổi mới  
chính sách đất đai đến kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Các nghiên cứu  
trưnghđều thống nhất một số nhận định: (1) đất đai là yếu tố có giá trị kinh tế và  
1
   
có ý nghĩa chính trị đối với các thực thể xã hội và Nhà nước; (2) đổi mới chính  
sách đất đai ở Việt Nam thời gian qua đã và đang tạo ra một sự chuyển biến quan  
trọng trong phát triển KTXH (Nguyễn Văn Sửu, 2010). Ở một khía cạnh khác,  
chính sách đất đai đã tác động không thuận lợi đến phát triển KTXH ở Việt Nam,  
đó là: (1) làm cho nền kinh tế phát triển lệch lạc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không  
đúng hướng, không hiệu quả; (2) gây nên giá cả tăng và lạm phát cao; (3) chính sách  
sẵn sàng về đất cho đầu tư nước ngoài vẫn chưa làm được; (4) giá đất tăng đẩy chi  
phí sản xuất kinh doanh lên cao; (5) đẩy chi phí đền bù đất đai lên; (6) khoảng cách  
giàu nghèo ngày càng tăng do kinh doanh đất đai; (7) người dân bị mất đất do xây  
dựng dự án (Phương Ngọc Thạch, 2008).  
Khi đánh giá về thực trạng và những tồn tại trong phát triển KTXH giai  
đoạn 2001-2010, Đảng đã chỉ rõ: môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng;  
tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả,  
chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011). Vì  
vậy để nâng cao hiệu quả quản lý SDĐ, chính sách đất đai cần đáp ứng các yêu  
cầu sau: (1) phải phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế của mỗi giai đoạn cụ  
thể; (2) phải đảm bảo tính nhất quán của chính sách; (3) phải mang tính chiến  
lược với tầm nhìn dài hạn; (4) phải gắn với cơ chế thị trường và giải quyết tốt sg  
phân phối địa tô.  
Tỉnh Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía Đông Bắc của Việt Nam, với 132,8  
km đường biên giới và 250 km bờ biển. Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc,  
có nhiều bãi biển đẹp là di sản thiên nhiên của thế giới và Việt Nam. Huyện đảo  
Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh có tổng diện tích 2.171,33 km2, trong đó diện tích đất  
tự nhiên là 581,83 km2, phần vùng biển rộng 1.620 km2. Huyện có 1 thị trấn và 11  
xã, với trên 600 hòn đảo lớn, nhỏ nằm trong Vịnh Bái Tử Long. Theo Quyết định  
số 786/QĐ-TTG ngày 31-5-2006 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Vân Đồn sẽ  
phát triển thành trung tâm kinh tế của tỉnh Quảng Ninh và vùng Đồng bằng sông  
Hồng, một cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của vùng Đông Bắc Việt Nam,  
có vị trí quốc phòng, an ninh quan trọng; một trung tâm du lịch sinh thái biển - đảo  
chất lượng cao; trung tâm hàng không quốc tế, trung tâm dịch vụ cao cấp và là đầu  
mối giao thông quốc tế; đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững  
cho Quảng Ninh. Về chính sách đất đai và bất động sản (BĐS), sẽ không cấp đất  
cho các dự án riêng rẽ với diện tích nhỏ; tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức kinh  
tế trong và ngoài nước được giao hoặc thuê đất với mức ưu đãi nhất để đầu tư xây  
dựng kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất kinh doanh. Cho phép các đối tượng là  
2
người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường  
trú tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư xây dựng nhà ở để bán  
hoặc cho thuê theo mục đích của từng dự án và theo Luật đất đai (Thủ tướng  
Chính phủ, 2006). Vì vậy, việc nghiên cứu tác động của chính sách đất đai đến sự  
phát triển KTXH huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh nhằm góp phần nâng cao hiệu  
quả quản lý sử dụng các nguồn lực trong huyện đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH  
bền vững trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) là rất quan  
trọng. Qua đó góp phần thu hẹp hơn nữa khoảng cách giữa người quản lý, ban  
hành chính sách với người thực thi, triển khai chính sách, từ đó giúp cho pháp luật  
đất đai đi vào cuộc sống. Các câu hỏi chính của nghiên cứu là tình hình thực hiện  
chính sách đất đai ở huyện Vân Đồn hiện nay ra sao? Chính sách đất đai có tác  
động như thế nào đến sự phát triển KTXH của huyện Vân Đồn, đặc biệt kể từ khi  
huyện được quy hoạch thành khu kinh tế Vân Đồn năm 2006? Giải pháp nào để  
chính sách đất đai luôn tạo ra các tác động tích cực đến sự phát triển KTXH của  
huyện Vân Đồn?  
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU  
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách đất đai tại huyện Vân Đồn.  
- Xác định tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã hội,  
trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực của chính sách  
đất đai đến sự phát triển bền vững kinh tế xã hội huyện Vân Đồn.  
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Các chính sách đất đai được thực hiện ở huyện Vân Đồn, tập trung vào 03  
nhóm chính sách chính là (i) Chính sách về quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ);  
(ii) Chính sách giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận (GCN) QSDĐ;  
(iii) Chính sách thu hồi đất (THĐ), bồi thường, hỗ trợ và TĐC.  
- Sự phát triển KTXH huyện Vân Đồn giai đoạn 2005-2015.  
- Các hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức sử dụng đất tại huyện Vân Đồn.  
- Các cán bộ công chức thực thi chính sách đất đai tại huyện Vân Đồn.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi không gian: huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.  
- Phạm vi thời gian: số liệu hiện trạng lấy đến ngày 31/12/2015. Số liệu  
thống kê lấy trong giai đoạn 2005 - 2015. Số liệu điều tra sơ cấp năm 2014  
và 2015.  
3
   
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN  
Đánh giá được tình hình thực hiện chính sách đất đai với các nội dung  
chính là chính sách QHSDĐ; chính sách giao đất, cho thuê đất và cấp GCNQSDĐ;  
chính sách thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và TĐC.  
Xác định được tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã  
hội huyện Vân Đồn. Chính sách QHSDĐ có tác động ở mức độ rất cao đến mức  
độ phát triển CSHT, đô thị hóa và công nghiệp hóa. Chính sách giao đất, cho thuê  
đất và cấp GCNQSDĐ có tác động ở mức độ rất cao đến thực hiện quyền bình  
đẳng và thu nhập và mức sống của người dân; có tác động ở mức độ cao đến sự  
hình thành và phát triển thị trường bất động sản (BĐS), thu hút vốn đầu tư và đô  
thị hóa và công nghiệp hóa. Chính sách thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và TĐC có tác  
động ở mức độ cao đến sự hình thành và phát triển thị trường BĐS, thu hút vốn  
đầu tư; đô thị hóa và công nghiệp hóa và thu nhập và mức sống của người dân. Đó  
là cơ sở để đề xuất các chính sách đất đai phù hợp cũng như đưa các chính sách  
vào thực tiễn cuộc sống, góp phần thúc đẩy phát triển KTXH.  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
Góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện chính  
sách đất đai trong lĩnh vực QHSDĐ; giao đất, cho thuê đất và cấp GCNQSDĐ;  
THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC. Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà  
nước về đất đai.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu của luận án là căn cứ để đề xuất các giải pháp thực thi  
hiệu quả chính sách đất đai đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của huyện Vân Đồn  
trong quá trình CNH - HĐH.  
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng tại các địa phương có điều  
kiện tương tự như huyện Vân Đồn.  
4
   
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI  
2.1.1. Khái quát về đất đai  
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu  
thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó: bao gồm khí hậu bề  
mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, nước mặt, tập đoàn thực vật và động vật, trạng  
thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong quá  
khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường  
xá, nhà cửa...)” (Đoàn Công Quỳ và cs., 2006). Kinh nghiệm lịch sử cho thấy việc  
sử dụng, quy hoạch và quản lý đất đai luôn là những vấn đề nhạy cảm nhất, được  
tranh cãi nhiều nhất và chịu áp lực chính trị nhiều nhất ở bất cứ xã hội nào.  
Những điều này cũng đúng ngay cả trong thời đại ngày nay (Đặng Kim Sơn và  
Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, 2011).  
Cách tiếp cận về đất đai trong giai đoạn hiện nay cần được nhìn nhận một  
cách tổng hợp, toàn diện dưới các góc độ sau:  
Trước hết, đất đai là một thực thể mang ý nghĩa chính trị, trong đó biên giới  
thể hiện ranh giới của chủ quyền quốc gia và là cơ sở được quốc tế công nhận. Đất  
đai cũng là căn cứ để xác định quyền và trách nhiệm giữa các đơn vị hành chính từ  
trung ương tới địa phương các cấp. Tùy thuộc vào mỗi vấn đề mà những lĩnh vực  
trách nhiệm trên có thể bị chồng chéo (Hồ Đăng Hòa và cs., 2012).  
Thứ hai, đất đai là tài nguyên (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013b). Vì  
vậy khi lấy tài nguyên để sử dụng vào mục đích khác, nhà đầu tư cần phải tìm cách  
bù lại tài nguyên đó. Nếu lấy đất canh tác làm dự án thì phải bóc lớp đất mặt để  
chuyển đến những nơi đất cần khai hoang, cải tạo.  
Thứ ba, đất đai là tư liệu sản xuất (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013b), là  
nguồn sinh kế đảm bảo cuộc sống của người lao động. Vì vậy khi THĐ phải bồi  
thường thu nhập cho người bị mất đất tối thiểu phải ngang như lúc họ đang SDĐ.  
Việc bồi thường sinh kế cho người bị mất đất và việc chuyển nghề nghiệp phải  
giải quyết tiếp cho đến khi họ chuyển sang nghề mới với thu nhập ổn định.  
Thứ tư, đất đai là tài sản, là nguồn lực để phát triển (Quốc hội nước  
CHXHCNVN, 2013b). Vì vậy khi Nhà nước THĐ thì phải bồi thường đúng giá trị  
đất và đúng quy luật thị trường. Đất đai là tài sản hữu hình và có thể được định giá,  
được trao đổi, được thừa kế hoặc cho, nhận như một món quà cũng như được sử  
dụng để thế chấp. Đối với nhiều cá nhân, đất vẫn là của cải chính.  
5
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 211 trang myanh 24120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu tác động của chính sách đất đai đến sự phát triển kinh tế xã hội huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_tac_dong_cua_chinh_sach_dat_dai_den_su_ph.pdf
  • pdfQLDD - TTLA - Dang Tien Si.pdf
  • pdfTTT Dang Tien Si.pdf