Luận án Nghiên cứu phát triển chủng nấm sợi và tối ưu điều kiện lên men sản xuất đa enzyme (α-Amylase, Glucoamylase, Cellulase) ứng dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
DƯƠNG THU HƯƠNG  
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CHỦNG NẤM SỢI  
VÀ TỐI ƯU ĐIỀU KIỆN LÊN MEN SẢN XUẤT ĐA ENZYME  
(α-AMYLASE, GLUCOAMYLASE, CELLULASE)  
ỨNG DỤNG TRONG CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHĂN NUÔI  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2022  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
DƯƠNG THU HƯƠNG  
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CHỦNG NẤM SỢI  
VÀ TỐI ƯU ĐIỀU KIỆN LÊN MEN SẢN XUẤT ĐA ENZYME  
(α-AMYLASE, GLUCOAMYLASE, CELLULASE)  
ỨNG DỤNG TRONG CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHĂN NUÔI  
Chuyên ngành  
: Chăn nuôi  
Mã số  
: 9.62.01.05  
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Vũ Văn Hạnh  
2. PGS.TS. Phạm Kim Đăng  
HÀ NỘI - 2022  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám  
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày… tháng… năm…  
Tác giả luận án  
Dương Thu Hương  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được  
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,  
đồng nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn  
sâu sắc tới PGS.TS. Vũ Văn Hạnh và PGS.TS. Phạm Kim Đăng đã tận tình hướng dẫn,  
dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và  
thực hiện đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,  
Bộ môn Sinh lý - tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức phòng Các chất chức  
năng sinh học, Viện Công nghệ sinh học - Viện Hàn lâm và Khoa học công nghệ Việt Nam  
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều  
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận  
án./.  
Hà Nội, ngày... tháng... năm 20...  
Nghiên cứu sinh  
Dương Thu Hương  
ii  
 
iv  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
Nghĩa tiếng Việt  
ADF (Acid detergent fiber)  
Xơ không hòa tan trong axit  
Tăng trọng bình quân hàng ngày  
Axit deoxyribonucleic  
Axit ribonucleic  
ADG (Average daily gain)  
ADN  
ARN  
Aspergillus  
A.  
BQ  
Bảo quản  
BSLM  
Bã sắn lên men  
CB  
Chế biến  
cs.  
Cộng sự  
CMCase  
Carboxymethyl cellulase  
3,5 dinitrosalysilic  
Đối chứng  
DNS  
ĐC  
ĐVT  
Đơn vị tính  
FCR (Feed conversion ratio)  
Hệ số chuyển hóa thức ăn  
Khối lượng  
KL  
LSM (Least Square Mean)  
Trung bình bình phương nhỏ nhất  
Landrace x Yorkshire  
Xơ không tan trong dung dịch trung tính  
Năng lượng trao đổi  
Hội đồng nghiên cứu Quốc gia  
N-methyl-N′-nitro-N-nitrosoguanidine  
Potatose Dextrose Agar  
Sai số tiêu chuẩn  
Lên men chìm  
LY  
NDF (Neutral Detergent Fiber)  
NLTĐ  
NRC (National Research Council)  
NTG  
PDA  
SE (Standard error)  
SmF (submerged fermentation)  
SSF (Solid state fermentation)  
Lên men xốp  
TACN  
TN  
Thức ăn chăn nuôi  
Thí nghiệm  
U
Unit  
UV  
Ultraviolet  
VCK  
Vật chất khô  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
ix  
 
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Dương Thu Hương  
Tên Luận án: Nghiên cứu phát triển chủng nấm sợi và tối ưu điều kiện lên men sản xuất  
đa enzyme (α-amylase, glucoamylase, cellulase) ứng dụng trong chế biến thức ăn chăn  
nuôi.  
Chuyên ngành: Chăn nuôi  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mã số: 9 62 01 05  
Mục tiêu chung  
Nâng cao hiệu quả sử dụng phụ phẩm trồng trọt và chế biến nông sản bằng ứng  
dụng chế phẩm sinh học.  
Mục tiêu cụ thể  
Chọn lọc được 1 dòng đột biến từ chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 có khả  
năng sinh đa enzyme (α-amylase, glucoamylase và cellulase) với hoạt tính cao.  
Tìm được điều kiện lên men xốp tối ưu cho sản xuất đa enzyme (α-amylase,  
glucoamylase và cellulase) của dòng đột biến chọn lọc.  
Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm đa enzyme (α-amylase,  
glucoamylase và cellulase) trong chế biến bã sắn làm thức ăn chăn nuôi lợn thịt.  
Phương pháp nghiên cứu  
1. Gây đột biến ngẫu nhiên chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 đồng thời bằng  
NTG và tia UV. Lựa chọn chủng có khả năng sinh α-amylase, glucoamylase và cellulase  
với hoạt tính cao nhất.  
2. Tối ưu điều kiện lên men xốp của chủng đột biến chọn lọc: Các thông số tối  
ưu: Cơ chất (cám mì, cám gạo, vỏ trấu, mùn cưa). Độ ẩm cơ chất (20, 30, 40, 50, 60 và  
70%, w/v). Nhiệt độ lên men (20, 25, 30, 35, 40 và 45oC). pH ban đầu của cơ chất lên  
men (3,0; 3,5; 4; 4,5; 5; 5,5; 6; 6,0; 6,5 và 7). Thời gian lên men (từ 2 đến 8 ngày), tuổi  
giống (1 đến 4 ngày). Nguồn cacbon (glucose, maltose, tinh bột gạo, sucrose), nguồn nitơ  
(ure, cao nấm men, tryptone, peptone, NH4Cl, NH4NO3).  
3. Đường hóa và lên men đồng thời bã sắn bằng chế phẩm đa enzyme (α-amylase,  
glucoamylase và cellulase) và probitic: Bã sắn tươi hòa vào nước với tỷ lệ 30%, bổ sung  
chế phẩm enzyme thô với tỷ lệ 8%, 0,5% chế phẩm probiotic (S. cerevisiae, Lactobacillus  
sp. và Bacillus sp. mật độ 107cfu/g mỗi loại). Nguồn nitơ (NH4)2SO4 được bổ sung với hàm  
lượng từ 0 đến 1,5%. Thời gian lên men thích hợp được chọn lựa. Một số thành phần hóa  
x
 
học và sinh học của bã sắn sau lên men được xác định.  
4. Các thí nghiệm được bố trí để đánh giá ảnh hưởng của sử dụng BSLM vào khẩu  
phần ăn cho 144 lợn thịt F1 (LxY) giai đoạn từ 20kg đến xuất chuồng. Các chỉ tiêu về  
sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, năng suất thân thịt và thành phần hóa học của thịt lợn được  
nghiên cứu.  
Kết quả chính và kết luận  
- Chủng Aspergillus niger GA15 có hoạt tính glucoamylase, α-amylase và cellulase  
cao nhất được tạo ra bằng gây đột biến đồng thời bởi tia UV và NTG từ chủng hoang dại  
Aspergillus niger A45.1. So với hoạt tính enzyme của chủng hoang dại, hoạt tính của α-  
amylase cao gấp 1,97 lần, glucoamylase cao gấp 2,2 lần, cellulase cao gấp 1,9 lần  
- Điều kiện lên men xốp thích hợp đối với chủng Aspergillus niger GA15 là: cơ chất  
cám mì, độ ẩm 50%, pH 5,5, nhiệt độ lên men 30oC, thời gian lên men 5 ngày, giống 2 ngày  
tuổi, glucose 1%, ure 1%, với hoạt tính α-amylase, glucoamylase và cellulase đạt lần lượt  
là 76,75 ; 50 và 40,11 (U/g), hoạt tính này cao gấp 2; 1,9 và 3,3 lần so với lên men xốp ở  
điều kiện chưa được tối ưu.  
- Giá trị dinh dưỡng của bã sắn sau khi đường hóa và lên men đồng thời bằng lên  
men lỏng với tỷ lệ 30% cơ chất, 8% đa enzyme thô, 0,5% chế phẩm probiotic, 1%  
(NH4)2SO4, thời gian lên men 48 giờ được cải thiện rõ rệt, protein thô tăng 7,3 lần, protein  
thực tăng 5,5 lần so với bã sắn tươi không lên men, đồng thời HCN giảm còn 1,4 g/kg, hàm  
lượng axit hữu cơ tăng 5,9 lần, pH 3,7. Bã sắn có màu vàng tương đỗ, mùi thơm, độ chua  
vừa phải, không có độc tố aflatoxin B1. Vì vậy, bã sắn sau đường hóa và lên men có thể  
được sử dụng làm thức ăn cho gia súc.  
- Sử dụng BSLM trong khẩu phần ăn đã cải thiện tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử  
dụng thức ăn của lợn. Ở mức sử dụng 20% BSLM cho hiệu quả tốt nhất, ADG (g/con/ngày)  
tăng lên 8,97% và 34,46% so với lô đối chứng ở giai đoạn 1 và 2. FCR ở 2 giai đoạn tương  
ứng là 2,1 và 2,45. Khối lượng móc hàm và khối lượng thịt xẻ tăng lên 11,15% và 11,19 %  
so với lô ĐC. Việc sử dụng BSLM trong khẩu phần ăn không ảnh hưởng đến năng suất  
thân thịt, chất lượng thịt và thành phần hóa học của thịt lợn.  
Đề nghị  
Thử nghiệm lên men một số nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác bằng chế phẩm  
đa enzyme của đề tài để làm thức ăn cho các đối tượng vật nuôi khác nhau.Tiến hành trên  
quy mô rộng hơn và xác định hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng phụ phẩm làm thức ăn  
chăn nuôi.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Duong Thu Huong  
Title: Research on strain development of filamentous fungi and optimization of fermentation  
conditions to produce multi- enzymes (α-amylase, glucoamylase, cellulase) for processing of  
animal feed.  
Major: Animal Science  
Code: 9 62 01 05  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
General objective: Improving the efficiency of using crop by-products and  
processing agricultural products by applying probiotics.  
Specific objective:  
Selecting a mutant of Aspergillus niger A45.1 which can produce highly active multi-  
enzymes (α-amylase, glucoamylase and cellulase).  
Investigating the optimal soild state fermentation conditions for the selected mutant  
strain to produce multi enzymes.  
Evaluating the effect of a multi enzymes preperation consisting α-amylase,  
glucoamylase and cellulase to degrade byproducts of cassava starch processing as pig  
feeding.  
Materials and methods  
1. Inducing random mutagenesis of Aspergillus niger A45.1 by simultaneous  
treatment of NTG and UV rays. Isolating a mutant of Aspergillus niger A45.1 which can  
produce multi enzymes (α-amylase, glucoamylase and cellulase) having high activity.  
2. Optimizing solid state fermentation conditions for the selected mutant strain:  
Optimal parameters: Substrate (wheat bran, rice bran, rice husk, sawdust). Substrate humidity  
(20, 30, 40, 50, 60, 70 and 80%, v/w). Fermentation temperature (20, 25, 30, 35, 40 and 45oC).  
Initial pH of the fermentation substrate (3,0; 3,5; 4; 4,5; 5; 5,5; 6; 6,0; 6,5 and 7). Culture time  
(from 2 to 8 days), age of the wild strain (1÷4 days). Carbon source (glucose, maltose, rice  
starch, sucrose), nitrogen source (ure, yeast extract, tryptone, peptone, NH4Cl, NH4NO3).  
3. Simultaneous saccharification and fermentation of cassava by products by a multi  
enzymes preparation and microorganisms: Fresh cassava by products were mixed with water  
at the rate of 30% (w/v), then the crude multi enzymes preparation was added at an  
appropriate concentration. 0,5% probiotic (S. cerevisiae, Lactobacillus sp. and Bacillus sp.  
at a concentration of 107cfu/ml) were added to the mixture. Nitrogen source (NH4)2SO4 was  
added at a specific concentration and the suitable fermentation time was selected. The  
chemical compositions of cassava by-products after fermentation were analysed.  
4. Experimental design: Effect fermented cassava starch processing by-products  
xii  
 
(BSLM) supplementation to the diet of 144 crossbred pigs F1 (LxY) from 20 kg to slaughter.  
Recored growth parameters, feed consumption, carcass yield, quality and chemical  
compostions of the carcass.  
Main findings and conclusions  
- A mutant of Aspergillus niger A45.1 was obtained by simultaneous treatment of  
NTG and UV rays, named Aspergillus niger GA15, with the enhanced ability to produce  
multi enzymes (α-amylase, glucoamylase and cellulase) having the highest activity. The  
activity of the α-amylase, glucoamylase and cellulase were 1,97; 2,2 and 1,9 times,  
respectively higher than that of the wild strain.  
- Suitable soild state fermentation conditions for a mutant Aspergillus niger GA15  
were wheat bran, moisture 50%, pH 5,5, fermentation temperature 30oC, fermentation period  
5 days, the age of the wild strain: 2 days old, glucose 1%, ure 1%. At these fermentation  
conditions, the activity of the α-glucoamylase, α-amylase and cellulase were 76,75; 50 and  
40,11 (U/g), respectively. These values were 1,97; 1,85 and 3,3 folds higher compared to  
those recorded under the fermentation conditions are not optimal.  
- Simultaneous saccharification and fermentation cassava by-products by liquid  
fermentation for 48h (30% cassava by-products, 8% a multi enzymes preparation, 0,5%  
probiotic, 1% (NH4)2SO4) improved the quality of fermented cassava by-products. Crude  
and real protein increased by 7,3 and 5,5 times, respectively compared to those of the  
unfermented cassava by-products. Similarly, organic acids concentration increased 5,9  
times. However, the HCN concentration reduced to 1,4 g/kg. The sensory quality of the  
fermented cassava by-products was yellow-brown, fragrant, sour, without aflatoxin B1.  
Therefore, the fermented cassava by-products could be use as animal feed.  
- Using of BSLM to the diet enhanced the growth performance and FCR of pigs.  
Supplemented at 20% BSLM to the diet resulted in the highest improvement. At the stage 1  
and 2, the ADG (g/head/day) increased by 8,97% and 34,46%, respectively compared to the  
control group. At the 2 feeding stages, the FCR of the BSLM group was 2,1 and 2,45  
respectively. Slaughter weight and carcass weight of the BSLM group increased by 11,15%  
and 11,19% compared to the control. Supplementation of BSLM to the diet did not alter the  
quality and chemical composition of carcass.  
Recommendation: Further work is warranted to explore the potential impacts of the  
multi enzymes preparation to ferment others agricultural by-products, which can be used as  
animal feed. Large-scale experiments should be conducted to determine the economic  
efficiency of using agricultural by-products as animal feed.  
xiii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Ở nước ta, chăn nuôi lợn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống  
sản xuất nông nghiệp cũng như đối với nền kinh tế. Trong nhiều năm trở lại đây,  
ngành chăn nuôi nước ta đã và đang đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn, nhưng  
thực trạng ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc  
biệt là giá thức ăn cao và thường xuyên biến động do phải phụ thuộc nguồn nguyên  
liệu nhập khẩu, vì vậy đã ảnh hưởng bất lợi cho phát triển chăn nuôi lợn. Trong  
khi đó, Việt Nam là một nước nông nghiệp với nguồn phụ phẩm dồi dào từ trồng  
trọt, chế biến nông sản như rơm rạ, bã sắn, bã dong riềng, bã mía…Hiện nay Việt  
Nam có khoảng 100 nhà máy chế biến tinh bột sắn có quy mô lớn với sản lượng  
từ 1,8 tấn đến 2 triệu tấn tinh bột/ngày, lượng chất thải rắn thải ra từ các nhà máy  
này khoảng 0,6 triệu tấn/ngày (Nguyễn Thị Hằng Nga & cs., 2016). Lượng bã sắn  
này phần lớn được thải ra ngoài môi trường, gây lãng phí và ô nhiễm nghiêm trọng.  
Một số ít được phơi khô hoặc ủ chua làm thức ăn cho gia súc, nhưng hiệu sử dụng  
thức ăn chưa cao, do trong bã sắn có hàm lượng protein thấp, còn chứa nhiều chất  
xơ và chất kháng dinh dưỡng như hydrogen cyanide (HCN). Vì vậy nếu xử lý  
được những hạn chế đó, chế biến đúng cách thì bã sắn có thể trở thành nguồn thức  
ăn chăn nuôi có giá trị, góp phần quan trọng vào việc giảm phụ thuộc nguyên liệu  
nhập khẩu và giảm giá thành sản xuất từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của  
ngành Chăn nuôi Việt Nam.  
Lên men được xác định là một trong số ít các phương pháp hiệu quả trong  
việc chế biến, bảo quản phụ phẩm thành thức ăn chăn nuôi giàu dinh dưỡng  
(Ubalua, 2007; Aro, 2008). Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu đã chỉ ra phần lớn các  
nguồn phụ phẩm đều chứa hàm lượng xơ cao, hầu hết các vi sinh vật không thể sử  
dụng trực tiếp. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của quá trình lên men cần bổ sung  
thêm các enzyme phân giải tinh bột và xơ như amylase, glucoamylase, cellulase,  
hoặc các chủng vi sinh vật có khả năng sản sinh các enzyme này để dịch hóa, tạo  
cơ chất cho sự sinh trưởng, phát triển của các vi sinh vật và loại bỏ các yếu tố  
kháng dinh dưỡng, phân hủy các thành phần thức ăn để cải thiện giá trị dinh dưỡng  
của nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi.  
Hiện nay, enzyme amylase và cellulase thương mại chủ yếu được thu nhận  
từ nguồn nấm mốc với các loài thuộc chi Trichoderma, Humicola, Penicillium,  
1
   
Aspergillus (Sukumaran & cs., 2005; Ariffin & cs., 2006; Ghani & cs., 2013). Do  
nhu cầu về sử dụng enzyme trong chăn nuôi cũng như các lĩnh vực công, nông  
nghiệp và thực phẩm ngày càng tăng nên việc nghiên cứu nhằm tăng cường, cải  
thiện chất lượng cũng như nâng cao sản lượng thông qua việc cải tiến chủng, tối  
ưu thành phần môi trường, điều kiện lên men hiệu quả và giảm chi phí sản xuất là  
rất cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu này tiến hành phát triển  
chủng nấm sợi, tối ưu thành phần môi trường và điều kiện lên men để nâng cao  
hiệu quả sinh tổng hợp (α-amylase, glucoamylase, cellulase) ứng dụng trong chế  
biến thức ăn chăn nuôi.  
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Nâng cao hiệu quả sử dụng phụ phẩm trồng trọt và chế biến nông sản bằng  
ứng dụng chế phẩm sinh học.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
Chọn lọc được 1 chủng đột biến từ chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 có  
khả năng sinh đa enzyme (α-amylase, glucoamylase và cellulase) với hoạt tính cao.  
Tối ưu được điều kiện lên men xốp cho sản xuất đa enzyme (α-amylase,  
glucoamylase và cellulase) của chủng đột biến chọn lọc.  
Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng thức ăn lên men tạo ra từ bã thải  
chế biến tinh bột được xử lý bằng đa enzyme (α-amylase, glucoamylase và  
cellulase) ở lợn thịt.  
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Chủng nấm sợi Aspergillus niger A45.1 được sàng lọc từ bộ giống của  
phòng Các chất chức năng Sinh học, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm  
Khoa học và Công nghệ Việt Nam.  
Bã sắn tươi: được thu gom trực tiếp từ các cơ sở chế biến tinh bột thuộc xã  
Cát Quế, huyện Hoài Đức, Hà Nội.  
Lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire): 72 lợn cái và 72 lợn đực thiến giai đoạn  
20 kg đến xuất chuồng.  
1.3.2. Địa điểm nghiên cứu  
Phòng Các chất chức năng sinh học, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn  
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
2
           
Phòng Thí nghiệm trung tâm, Khoa Chăn nuôi, Học Viện Nông nghiệp  
Việt Nam.  
Phòng thí nghiệm bộ môn Di truyền giống, khoa Chăn nuôi, Học Viện Nông  
nghiệp Việt Nam.  
Trung tâm Giống lợn chất lượng cao, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  
1.3.3. Thời gian nghiên cứu  
Thời gian nghiên cứu: tháng 6 năm 2015 - tháng 6 năm 2019  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
Đề tài đã cải tiến chủng dại Aspergillus niger A45.1 bằng đột biến ngẫu  
nhiên và chọn lọc được 1 chủng đột biến Aspergillus niger GA15 có khả năng sinh  
đa enzyme (α-amylase, glucoamylase và cellulase) với hoạt tính cao.  
Chế biến được bã thải tinh bột sắn thành thức ăn giàu dinh dưỡng cho chăn  
nuôi lợn thịt bằng đường hóa và lên men đồng thời sử dụng chế phẩm chứa đa  
enzyme từ chủng đột biến và lợi khuẩn.  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
Đề tài đã tạo ra được một chủng nấm sợi đột biến có khả năng sinh đa  
enzyme (α-amylase, glucoamylase và cellulase) với hoạt tính cao và tối ưu môi  
trường lên men xốp cho sản xuất đa enzyme.  
Đề tài đã chế biến được bã thải tinh bột sắn thành thức ăn giàu dinh dưỡng  
cho gia súc bằng đường hóa và lên men đồng thời sử dụng chế phẩm đa enzyme  
và vi sinh vật probiotic.  
Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho giảng dạy  
và nghiên cứu về phát triển chủng bằng kỹ thuật đột biến, chế biến thức ăn chăn  
nuôi giàu dinh dưỡng từ bã thải tinh bột bằng đa enzyme và lợi khuẩn.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Có thể cung cấp chủng giống đột biến cho sản xuất enzyme công nghiệp,  
giảm thiểu chi phí, đáp ứng nhu cầu sử dụng enzyme ngày càng tăng trong chăn  
nuôi cũng như các lĩnh vực công nghiệp.  
Tận dụng được nguồn phụ phẩm rẻ tiền từ các cơ sở sản xuất tinh bột sắn  
thành nguồn nguyên liệu giàu dinh dưỡng làm thức ăn chăn nuôi, góp phần giảm  
chi phí về thức ăn trong chăn nuôi và ô nhiễm môi trường.  
3
         
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. TỔNG QUÁT VỀ ENZYME AMYLASE VÀ CELLULASE  
Enzyme là chất xúc tác sinh học có bản chất là protein, có nguồn gốc từ  
sinh vật. Nó không chỉ tham gia xúc tác nhanh các phản ứng hóa học bên trong cơ  
thể mà còn có thể xúc tác cho các phản ứng bên ngoài tế bào.  
Enzyme đã được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của các  
ngành công nghiệp, xử lý môi trường, công nghệ thực phẩm.... Ngày nay với xu  
hướng phát triển của công nghệ sinh học đã tạo ra nhiều ứng dụng mới của enzyme  
(Sharada & cs., 2013)  
2.1.1. Enzyme amylase  
Amylase là tên gọi của một nhóm enzym thủy phân, xúc tác phân giải các  
liên kết glucoside của polysaccharide với sự tham gia của nước. Cơ chất tác dụng  
của amylase là tinh bột và glycogen. Sản phẩm tạo thành của quá trình thủy phân  
là glucose, maltose và dextrin là các chất có phân tử lượng thấp.  
Các loại amylase có nguồn gốc khác nhau thì thường khác nhau về tính  
chất, cơ chế tác dụng cũng như sản phẩm cuối cùng của sự thủy phân. Các amylase chủ  
yếu thủy phân tinh bột thường gặp là: α-amylase, β-amylase và γ-amylase, trong đó 2  
nhóm quan trong nhất là α-amylase và γ-amylase (Singh & cs., 2011)  
2.1.1.1. α-Amylase (EC 3.2.1.1)  
-amylase là một metaloenzyme. Mỗi phân tử -amylase đều có chứa từ 1  
đến 30 nguyên tử gam Ca/mol, Ca tham gia vào sự hình thành, ổn định cấu trúc  
bậc 3 và duy trì hoạt động của enzyme. Enzyme -amylase có khả năng phân cắt  
các liên kết α-1,4 glucoside trong mạch amylose và amylopectin của tinh bột hoặc  
glycogen một cách ngẫu nhiên không theo trật tự nào cả, nó không tấn công liên  
kết α-1,6 glucoside của amylopectin, sản phẩm thủy phân cuối cùng của -amylase  
là tạo ra maltotriose và maltose từ amylose, hoặc maltose, glucose và dextrin tới  
hạn phân nhánh từ amylopectin. α-amylase có khuynh hướng hoạt động nhanh hơn  
β-amylase vì nó có thể hoạt động bất cứ nơi nào trên cơ chất. Khả năng dextrin  
hóa cao của α-amylase là tính chất đặc trưng của nó. Vì vậy, người ta thường gọi  
loại amylase này là amylase dextrin hóa hay amylase dịch hóa. Trong cơ thể người,  
cả amylases nước bọt và tuyến tụy đều là α-amylase. -amylase cũng tìm thấy  
trong thực vật, nấm (Ascomycetes và Basidiomycetes) và vi khuẩn (Bacillus)  
(Singh & cs., 2011).  
4
     
2.1.1.2. β-Amylase (EC 3.2.1.2)  
β-amylase là một dạng khác của amylase được tổng hợp bởi vi khuẩn,  
nấm và thực vật. β-amylase xúc tác quá trình thủy phân liên kết β-1,4 glycosidic  
thứ hai, làm việc từ đầu không khử, tách hai đơn vị glucose (maltose) một lần.  
Trong quá trình chín quả, β-amylase phá vỡ tinh bột thành maltose, dẫn đến  
hương vị ngọt của trái chín. Cả -amylase và β-amylase đều có trong hạt; β-  
amylase có mặt ở dạng không hoạt động trước khi nảy mầm, trong khi α-  
amylase xuất hiện khi quá trình nảy mầm bắt đầu. Các mô động vật không chứa  
β-amylase (Singh & cs., 2011).  
2.1.1.3. γ-Amylase hay glucoamylase (EC 3.2.1.3)  
Đây là enzyme đường hóa quan trọng nhất trong hệ amylase. γ-amylase cắt  
các liên kết α-1,4 và α-1,6 glucoside bắt đầu từ đầu không khử trên mạch amilose  
và amilopectin tạo sản phẩm cuối cùng là glucose. γ-amylase có khả năng thủy  
phân hoàn toàn tinh bột, glucogen, dextrin và maltose thành glucose. Không giống  
như các dạng amylase khác, γ-amylase có hiệu quả nhất trong môi trường axit và  
có độ pH tối ưu là 3. Trong số các vi sinh vật có khả năng sinh γ-amylase đã được  
biết cho đến nay, chi Aspergillus là chi được biết đến nhiều nhất bởi khả năng sinh  
glucoamylase rất cao, đặc biệt là loài Aspergillus niger (Singh & cs., 2011).  
2.1.2. Enzyme cellulase  
Cellulase thủy phân cellulose, cắt liên kết 1,4 - β - glycosidic trong cellulose  
và các dẫn xuất oligosaccharide liên quan. Cellulase là một phức hệ enzyme bao  
gồm 3 loại chính là: C1 [(EC 3.2.1.9), (Exo- β-1-4, glucanase)], Cx [(EC 3.2.1.4),  
(Endo-β-1-4, glucanase, carboxymethyl cellulase, hay CMCase)] và Cb [(EC  
3.2.1.21), (β- glucosidase)], chúng tham gia vào những phản ứng kế tiếp nhau để  
thủy phân cellulose tạo thành oligosaccharides và glucose (Hameed & cs., 2005;  
Sharada & cs., 2013).  
Enzyme (exo- 1,4-β-D- glucanase) (EC 3.2.1.9): Có tác dụng cắt đứt liên kết  
hydro ở đầu không khử của chuỗi cellulose và liên tục loại bỏ các đơn vị glucose đơn,  
biến cellulose tự nhiên thành cellulose phản ứng (cellulose vô định hình).  
Enzyme endo-1,4-β-D-glucanase ((EC3.2.1.4): Tấn công ngẫu nhiên vào  
các liên kết β-1-4 ở bên trong, thủy phân cellulose phản ứng thành cellobiose.  
Enzym này được chia thành hai loại là: Endocellulase hay Endoglucanase (EG)  
có tác dụng thủy phân liên kết β-1,4-glucoside tại các điểm bất kỳ trên mạch phân  
tử cellulose. Exocellulase hay exoglucanase (CBH) có khả năng phân giải chuỗi  
5
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 192 trang myanh 25600 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu phát triển chủng nấm sợi và tối ưu điều kiện lên men sản xuất đa enzyme (α-Amylase, Glucoamylase, Cellulase) ứng dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_phat_trien_chung_nam_soi_va_toi_uu_dieu_k.pdf
  • pdfCN - TTLA - Duong Thu Huong.pdf
  • pdfTTT - Duong Thu Huong.pdf