Luận án Nghiên cứu giải pháp kiểm soát chất cấm nhóm Beta-Agonist (Clenbuterol, Salbutamol, Ractopamine) trong chăn nuôi lợn

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
NGUYỄN XUÂN DƯƠNG  
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT CẤM  
NHÓM BETA-AGONIST (CLENBUTEROL, SALBUTAMOL,  
RACTOPAMINE) TRONG CHĂN NUÔI LỢN  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP- 2018  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
---------***---------  
NGUYỄN XUÂN DƢƠNG  
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT CẤM  
NHÓM BETA-AGONIST (CLENBUTEROL, SALBUTAMOL,  
RACTOPAMINE) TRONG CHĂN NUÔI LỢN  
Chuyên ngành  
: Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi  
Mã số  
: 9.62.01.07  
Người hướng dẫn : 1. GS.TS. VŨ DUY GIẢNG  
2. PGS.TS. PHẠM KIM ĐĂNG  
Hà Nội - 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng để bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cám ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018  
Tác giả luận án  
Nguyễn Xuân Dƣơng  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận đƣợc sự  
hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng  
nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi đƣợc bày tỏ lòng kính trọng và biết  
ơn sâu sắc GS.TS. Vũ Duy Giảng, PGS.TS. Phạm Kim Đăng đã tận tình hƣớng dẫn,  
dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và  
thực hiện đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ  
môn Sinh lý- Tập tính động vật, Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận  
tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức, công chức Cục Chăn  
nuôi, Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề  
tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, ngƣời thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều  
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./.  
Hà Nội, ngày.... tháng.... năm 2018  
Nghiên cứu sinh  
Nguyễn Xuân Dƣơng  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Nghĩa tiếng Việt  
AGPs  
Kháng sinh kích thích sinh trƣởng  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Clenbuterol  
BNNPTNT  
CLEN  
CSCN  
DLD  
Cơ sở chăn nuôi  
Cục Phát triển chăn nuôi của Thái Lan  
Đối chứng  
ĐC  
EU  
Cộng đồng Châu Âu  
FAO  
Tổ chức Lƣơng thực và Nông lâm thế giới  
Cơ quan quản lý thực phẩm và dƣợc phẩm  
Sắc ký khí ghép 1 lần khối phổ  
Sắc ký khí ghép 2 lần khối phổ  
Sắc ký lỏng hiệu năng cao  
Khối lƣợng sống  
FDA  
GC-MS  
GC-MS/MS  
HPLC  
KLS  
KPH  
Không phát hiện  
LC-MS  
LC-MS/MS  
LOD  
Sắc ký lỏng ghép 1 lần khối phổ  
Sắc ký lỏng ghép 2 lần khối phổ  
Giới hạn phát hiện  
LOQ  
Giới hạn định lƣợng  
ME  
Năng lƣợng trao đổi  
MH  
Móc hàm  
MRL  
Giới hạn tồn dƣ tối đa cho phép  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Phƣơng pháp hội đồng đề xuất  
Phƣơng pháp phòng thử nghiệm  
Phòng thử nghiệm  
NN&PTNT  
PPĐX  
PPPTN  
PTN  
RAC  
Ractopamine  
SAL  
Salbutamol  
SX & KDTACN  
TACN  
TCVN  
VSATTP  
WHO  
Sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi  
Thức ăn chăn nuôi  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Vệ sinh an toàn thực phẩm  
Tổ chức Y tế thế giới  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
ix  
 
x
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Nguyễn Xuân Dƣơng  
Tên luận án: Nghiên cứu giải pháp kiểm soát chất cấm nhóm beta-agonist (clenbuterol,  
salbutamol, ractopamine) trong chăn nuôi lợn.  
Chuyên ngành: Dinh dƣỡng và Thức ăn chăn nuôi  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mã số: 9.62.01.07  
Mục tiêu tổng quát  
Nghiên cứu xây dựng đƣợc các giải pháp kiểm soát và quản lý chất cấm thuộc  
nhóm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thích hợp với điều kiện thực tiễn ở nƣớc ta và  
thông lệ quốc tế.  
Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá đƣợc thực trạng và năng lực trong công tác quản lý chất cấm nói chung  
và beta-agonist nói riêng.  
- Lựa chọn đƣợc phƣơng pháp và xây dựng đƣợc quy trình phân tích định lƣợng  
nhóm beta-agonist (CLEN, SAL, RAC) trong TACN, trong nƣớc tiểu phù hợp điều kiện  
thực tiễn, đồng thời đảm bảo độ chính xác và thống nhất giữa các phòng thử nghiệm.  
- Xây dựng đƣợc quy trình kiểm soát chất cấm nhóm beta-agonist trong chăn nuôi  
lợn thịt và đề xuất sửa đổi một số văn bản pháp luật hiện hành có liên quan.  
Phƣơng pháp nghiên cứu  
- Phƣơng pháp phân tích định lƣợng chất cấm thuộc nhóm beta-agonist đƣợc lựa  
chọn là phƣơng pháp sắc ký khối phổ hai lần (LC-MS/MS).  
- Phƣơng pháp lựa chọn áp dụng trên các nền mẫu khác nhau đã đƣợc thẩm định  
và đánh giá giới hạn phát hiện (LOD: Limit of Detection) và giới hạn định lƣợng (LOQ:  
Limit of Quantitation) từ một phòng thử nghiệm có thiết bị hiện đại và kinh nghiệm.  
- Để hoàn thiện quy trình phân tích định lƣợng chất cấm, đề tài tiếp tục đánh giá  
liên phòng đối với mẫu chuẩn. Các phòng thử nghiệm trong nƣớc đã đƣợc mời tham gia  
đánh giá trên hai nền mẫu là TACN và nƣớc tiểu. Mẫu chuẩn bao gồm mẫu trắng  
(không có chất cấm) và mẫu củng cố (mẫu có chất cấm) đƣợc mã hóa.  
- Thực trạng về sử dụng và kiểm soát chất cấm đƣợc đánh giá dựa vào kết quả  
phân tích 160 mẫu đƣợc lấy ở một số địa phƣơng đại diện (80 mẫu TACN và 80 mẫu  
nƣớc tiểu lợn) và thu thập thông tin thứ cấp từ các địa phƣơng. Thông tin thứ cấp từ các  
địa phƣơng đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp hồi cứu từ thu thập thông tin trực tiếp và  
gián tiếp từ 63 Sở NN& PTNT từ năm 2011 đến năm 2016.  
- Mức độ tồn dƣ và tốc độ đào thải các chất thuộc nhóm beta-agonist đƣợc xác  
định thông qua một nghiên cứu bổ sung SAL và RAC vào khẩu phần ăn của lợn. Bốn  
lăm lợn có khối lƣợng trung bình 62,12 ± 3,15 kg đƣợc chia làm 3 lô, mỗi lô 15 con,  
đƣợc nuôi trong 3 ô chuồng (mỗi ô 5 con: 3 đực, 2 cái/ô), mỗi ô đƣợc coi nhƣ một lần  
lặp lại. Lô 1 (đối chứng), lợn đƣợc nuôi bằng khẩu phần cơ sở không chứa chất beta-  
agonist; lô 2 (lô RAC), lợn đƣợc nuôi ăn khẩu phần cơ sở bổ sung ractopamin với liều  
10 ppm và lô 3 (lô SAL) lợn đƣợc nuôi bằng khẩu phần cơ sở bổ sung salbutamol với  
xi  
 
liều 8 ppm. Sau 30 ngày thí nghiệm, lợn của 02 lô thí nghiệm nuôi tiếp bằng thức ăn đối  
chứng và đƣợc lấy mẫu nƣớc tiểu, mẫu thịt nạc, mỡ, gan, thận phân tích tại các thời  
điểm cho đến khi không thể phát hiện beta-agonist trong mẫu.  
- Trên cơ sở kết quả khảo sát thực địa, nghiên cứu năng lực giám sát và kết quả thí  
nghiệm khả năng đào thải các chất thuộc nhóm beta-agonist đề xuất quy trình kiểm soát  
chất cấm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thịt.  
Kết quả chính và kết luận  
- Một phƣơng pháp phù hợp nhất đã đƣợc lựa chọn để thẩm định là phƣơng pháp  
sắc ký lỏng khối phổ. Kết quả đánh giá cho thấy, phƣơng pháp đề xuất đảm bảo độ  
chính xác và phù hợp với điều kiện các phòng thí nghiệm chỉ định. Cụ thể, trên cả hai  
nền mẫu 100% phòng thử nghiệm khi sử dụng phƣơng pháp lựa chọn đều không cho kết  
quả dƣơng tính giả (với mẫu trắng) và âm tính giả (với mẫu củng cố). Nhƣ vậy, quy  
trình phân tích đề xuất có thể dùng để phân tích beta-agonist trong TACN và nƣớc tiểu.  
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng chất cấm trong chăn  
nuôi khá đầy đủ, tuy nhiên còn một số văn bản chƣa thực sự phù hợp. Với Bộ luật hình  
sự năm 2015, còn có những khó khăn để xác định phạm tội hình sự do sử dụng chất cấm  
trong chăn nuôi. Mức xử phạt với hành vi sử dụng, kinh doanh TACN có chất cấm còn  
nhẹ. Thiếu quy định số gia súc cần lấy mẫu trong khi vận chuyển, chƣa quy định thời  
gian nuôi lợn từ khi kết luận mẫu nƣớc tiểu dƣơng tính đến khi giết thịt. Số tỉnh quan  
tâm đến kiểm tra chất cấm và số mẫu phân tích chất cấm có xu hƣớng tăng dần từ 2011  
đến 2016. Tỷ lệ mẫu dƣơng tính chất cấm trong mẫu nƣớc tiểu cao hơn thức ăn.  
- Tốc độ đào thải SAL qua nƣớc tiểu lợn chậm hơn so với RAC (7 ngày so với 5  
ngày). Sau 5 ngày ngừng ăn thức ăn bổ sung beta-agonist, trong mô nạc, mô mỡ hết tồn  
dƣ RAC và SAL, trong khi mô gan, mô thận phải sau 14 ngày ngừng ăn mới hết.  
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tốc độ đào thải beta-agonist, quy trình kiểm soát  
chất cấm cần bổ sung một số điểm sau:  
Nếu nồng độ RAC trong nƣớc tiểu nhỏ hơn 3 ppb cần yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 9  
ngày, từ 3 đến dƣới 7 ppb yêu cầu nuôi lợn tiếp tối thiểu 11 ngày, từ 7 đến dƣới 18 ppb  
thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 13 ngày, từ 18 ppb trở lên thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu  
14 ngày. Sau thời gian nuôi tối thiểu cần định lƣợng lại hàm lƣợng RAC trong nƣớc tiểu  
nếu thực sự cho kết quả âm tính thì mới cho giết thịt.  
- Nếu nồng độ SAL trong nƣớc tiểu nhỏ hơn 2 ppb thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 5  
ngày, từ 2 đến dƣới 5 ppb nuôi tiếp tối thiểu 7 ngày, từ 5 đến dƣới 19 ppb nuôi tiếp tối  
thiểu 9 ngày, từ 19 đến dƣới 70 ppb thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 11 ngày, từ 70 đến  
<550 ppb nuôi tiếp tối thiểu 13 ngày, trên 550 ppb thì yêu cầu nuôi tối thiểu 14 ngày.  
- Trên cơ sở nghiên cứu và rà soát văn bản, một số nội dung trong văn bản quản lý  
liên quan đến kiểm tra chất cấm trong chăn nuôi đƣợc đề xuất sửa đổi nhƣ sau: thay đổi  
ngƣỡng quy định mẫu dƣơng tính trong Thông tƣ 01/2016/TT-BNNPTNT bổ sung quy  
định thời gian nuôi lợn tiếp khi phát hiện nƣớc tiểu bị dƣơng tính với RAC và SAL.  
Tăng mức xử phạt với hành vi sử dụng chất cấm. Xây dựng TCVN phƣơng pháp định  
lƣợng beta-agonist trong TACN và nƣớc tiểu bằng sắc ký lỏng ghép khối phổ.  
xii  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Nguyen Xuan Duong  
Thesis title: Studying solutions to control the banned beta–agonist substances  
(clenbuterol, salbutamol, ractopamine) in pig production  
Major: Animal Feed and Nutrition  
Code: 9.62.01.07  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives: Studying solutions for management of beta-agonist substances in  
pig production in accordance with conditions of Vietnam and international requirement.  
Detail Objectives  
- Evaluated the situation and monitoring capacity of banned substances in  
general and beta-agonist in particular.  
- Selected the confirmation method for quantitative analysis of the beta-agonist  
(CLEN, SAL, RAC) in feeds, pig urine in accordance with practical conditions, while  
ensuring accuracy and consistency between reference laboratories.  
- Developed a strategy of monitoring beta-agonist use in pig production and  
proposed some amendments to existing relevant legislation.  
Materials and Methods  
- LC/MS-MS was chosen as the quantitative analysis method for beta-agonists  
substances.  
- The selected method was validated for the different matrix in a best laboratory  
for the equipments and experience.  
- To complete the process of quantitative analysis of banned substances, the  
interlaboratory test was evaluated in using standard samples analysis. Domestic  
laboratories have been invited to participate in the evaluation of the feed and urine  
samples. Standard samples include blank samples (no banned substance) and spiked  
samples (containt banned substance).  
- The use and control situation of banned substances was evaluated based on the  
results of the analysis of 160 samples taken in some representative localities (80 feed  
and 80 pig urine samples) and collected secondary data from localities. Secondary  
information from localities is provided by retrospective collection of direct and indirect  
information from 63 DARD from 2011 to 2016.  
- The residue level and the elimination time of beta-agonist (SAL and RAC) were  
determined by adding SAL and RAC on the pig diet. 45 pigs with average weight of  
62.12 ± 3.15 kg were divided into 3 lots, each of 15 pigs, raised in 3 cages (5 pigs per  
plot: 3 males, 2 female). Each cage is treated as a repetition. Lot 1 (control), pigs fed diets  
containing free beta-agonist; Lot 2 (RAC), pigs were fed diet supplemented with  
Ractopamin at 10 ppm and Lot 3 (SAL) using feed with 8 ppm salbutamol  
supplementation. After 30 experimental days, the pigs of experimental groups given feed  
of control group and then the samples of urine, lean meat, fat, liver and kidneys were  
taken and analyzed for beta-agonist at different times until the samples were no longer  
positive with beta-agonist.  
xiii  
 
- Propose a procedure to control banned beta-agonist substances in feeding pig  
and propose the amendments of relevant legal regulations base on research result.  
Main findings and conclusions  
- The validated LC-MS/MS method, a most suitable method was chosen for  
evaluation. The results evaluation shown that this method ensures accuracy and is  
consistent with laboratory conditions. On both standard samples (blank and spiked  
samples), 100% of the laboratories using this method did not give false positive results  
(with blank samples) and false negatives (with spiked samples). Thus, the selected  
method can be used to analyze beta-agonists in feed and urine.  
The legal documents concerning the monitoring of using banned substances in  
animal production is quite adequate, however, it is also adjusted and supplemented many  
times and not fully suitable. The Law 2015 is still difficult to pinpoint criminal offenses  
related to the use of banned substances in livestock production. The level of  
administrative penalty on using and trading animal feed containing banned substances is  
still low. There is no regulation about number of animals sampled for testing banned  
substances during transportation. The time to keep pigs from positive results to negative  
results in urine is not clarified... Provinces paid attention to inspect prohibited substances  
in livestock and the number of tested samples increased from 2011 to 2016, especially in  
2015 and 2016. The proportion of positive urine samples is higher than that of feed  
samples.  
- The excretion rate of SAL in pig urine was slower than that of RAC (7 days and  
5 days). After 5 days of withdrawing beta-agonist, there is no longer residue of RAC and  
SAL in lean tissue, fatty tissues, while in liver and kidney tissue is 14 days.  
- Based on the results of research on beta-agonist rejection rate, the following  
control procedures should be proposed:  
+ The time of raising pig from positive to negative results corresponding to  
concentration of RAC detected in pig urine: <3 ppb requires at least 9 days, from 3 to < 7  
ppb at least 11 days, from 7 to <18 ppb at least 13 days, from 18 ppb or more, at least 14  
days. After the minimum time, the RAC should be quantified in the urine. If the  
analysis results are negative, pigs are allowed to be slaughtered.  
+ The time of raising pig from positive to expected negative results corresponding  
to concentration of SAL: <2 ppb requires at least 5 days, from 2 to <5 ppb requires at  
least 7 days, from 5 to <19 ppb requires at least 9 days, from 19 to <70 ppb requires at  
least 11 days, from 70 to <550 ppb requires at least 13 days, from 550 ppb or above  
requires at least 14 days.  
- Some contents in the legal documents related to controlling banned substances in  
animal husbandry need to be amended and supplemented: Changing threshold of  
conclusion of positive samples in Circular No. 01/2016/TT-BNNPTNT. Additional  
provisions of duration of keeping pig when urine detected with RAC or SAL. The level of  
administrative penalty with the use of banned substances should be increased. TCVN  
about confirmed method for quantitative analysis of beta-agonist in feed and urine by LC  
MS/MS should be developed.  
xiv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Việc lạm dụng và sử dụng bất hợp pháp các chất hormone, kháng sinh,  
hóa chất, đặc biệt là chất nhóm beta agonist (ractopamine, salbutamol,  
clenbuterol) trong chăn nuôi đã ảnh hƣởng đến chất lƣợng và an toàn thực phẩm  
của sản phẩm chăn nuôi, gây ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe cộng đồng. Để ngăn  
chặn tình trạng này, các quốc gia trên thế giới đều ban hành các văn bản quy  
phạm pháp luật riêng để quản lý. Tuy nhiên, quy định của mỗi nƣớc cũng có  
những điểm khác biệt. Trong khi cộng đồng Châu Âu (EU) cấm sử dụng tất cả  
các chất beta agonist trong chăn nuôi do lo ngại về an toàn thực phẩm thì Mỹ và  
25 quốc gia khác vẫn cho phép sử dụng ractopamine (RAC) trong thức ăn chăn  
nuôi (TACN) nhƣ một chất kích thích sinh trƣởng, nhằm tăng năng suất và hiệu  
quả chăn nuôi (Vincent, 2012).  
Tại Việt Nam, các chất beta agonist đã bị cấm sử dụng trong chăn nuôi từ  
năm 2002 tại Quyết định số 54/2002/QĐ-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn (Quyết định 54/2002, 2002). Quyết định này đƣợc thay thế  
bằng Thông tƣ số 28/2014/TT-BNNPTNT (Thông tƣ 28/2014, 2014) ngày  
04/9/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Danh mục hóa chất,  
kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn  
nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam và Thông tƣ số 10/2016/TT-BNNPTNT ngày  
01/6/2016 về Danh mục các chất cấm sử dụng trong thuốc thú y (Thông tƣ  
10/2016, 2016). Mặc dù quy định pháp lý đã đƣợc ban hành nhƣng tình trạng sử  
dụng chất cấm nhóm beta-agonist trong TACN vẫn bị phát hiện, đặc biệt xảy ra  
cao điểm vào các năm 2006, 2012 và 2015. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình  
trạng bùng phát lại việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, nhƣng trong đó có 02  
nguyên nhân quan trọng liên quan đến giải pháp thực thi, đó là (i) giải pháp kỹ  
thuật (phƣơng pháp phân tích để xác định hành vi sử dụng chất cấm) và (ii) giải  
pháp quản lý (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về kiểm soát  
sử dụng chất cấm trong chăn nuôi).  
Về giải pháp kỹ thuật: Việc thử nghiệm, phân tích để xác định sự có mặt  
các chất cấm trong vật tƣ nông nghiệp (TACN, thuốc thú y, nƣớc tiểu vật nuôi)  
hay trong sản phẩm chăn nuôi là công cụ cần thiết để giúp cơ quan quản lý xác  
định hành vi vi phạm của ngƣời sử dụng và đƣa ra hình thức xử phạt, ngăn chặn  
1
   
kịp thời. Hiện nay, phƣơng pháp phân tích thử nghiệm chất cấm trong mọi nền  
mẫu bằng thiết bị sắc ký đã đƣợc thế giới thừa nhận và áp dụng, trong đó có  
Cộng đồng châu Âu tại Quyết định số 2002/657/EC (EC, 2002). Phƣơng pháp  
này có thể xác định chính xác chất phân tích ở hàm lƣợng rất nhỏ (dạng vết hay  
siêu vết) và đƣợc coi là phƣơng pháp khẳng định. Các phƣơng pháp khác nhƣ  
dùng kit thử nhanh hay ELISA chỉ là phƣơng pháp phân tích sàng lọc, không kết  
luận đƣợc chính xác chất và nồng độ chất phân tích do có tình trạng mẫu dƣơng  
tính giả, nên không áp dụng đƣợc để xử lý vi phạm. Trƣớc tình trạng chất cấm bị  
sử dụng tràn lan và sự lúng túng của cơ quan quản lý khi phải sử dụng kết quả  
thử nghiệm bằng phƣơng pháp Elisa tại thời điểm phát hiện chất cấm sử dụng  
trong chăn nuôi vào năm 2006, ngày 15 tháng 9 năm 2010, Bộ NN&PTNT đã  
ban hành Thông tƣ số 54/2010/TT-BNNPTNT quy định việc kiểm tra, giám sát  
và xử lý hành vi vi phạm về sử dụng các chất cấm thuộc nhóm beta-agonist trong  
chăn nuôi (Thông tƣ 54/2010, 2010). Theo thông tƣ này thì phƣơng pháp phân  
tích định lƣợng các chất cấm thuộc nhóm beta-agonist trong TACN phải là  
phƣơng pháp sắc ký. Tuy nhiên do chƣa có phƣơng pháp phân tích tiêu chuẩn  
quốc tế hay tiêu chuẩn quốc gia (quy trình thử nghiệm tiêu chuẩn) nên mỗi phòng  
thử nghiệm tại Việt Nam phải tự xây dựng phƣơng pháp nội bộ riêng để áp dụng.  
Sự không thống nhất về phƣơng pháp thử nội bộ giữa các phòng thử nghiệm đã  
dẫn đến tình trạng trả lời kết quả khác nhau, nhất là khi có khiếu nại kết quả phân  
tích, gây khó khăn cho cơ quan kiểm tra trong kết luận vi phạm và tốn kém kinh  
phí do phải phân tích, giám định mẫu nhiều lần. Do đó, để giảm thiểu chi phí  
phân tích và hƣớng đến kết quả chính xác, cần phải chuẩn hóa phƣơng pháp phân  
tích (quy trình thử nghiệm) nhằm thống nhất áp dụng trong hệ thống phòng thử  
nghiệm phục vụ công tác quản lý nhà nƣớc về kiểm soát sử dụng chất cấm trong  
chăn nuôi.  
Về giải pháp quản lý: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam  
hiện nay đã khá đầy đủ từ Luật, Nghị định, Thông tƣ… Tuy nhiên, kết quả của  
công tác quản lý, kiểm soát sử dụng chất cấm trong chăn nuôi thời gian qua chƣa  
thực sự hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này là do trách nhiệm quản lý của  
các cơ quan quản lý các cấp chính quyền chƣa cao, nhận thức của ngƣời dân  
chƣa đầy đủ và đặc biệt tính thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật chƣa thực  
sự phù hợp. Một số nội dung trong văn bản quy phạm pháp luật còn quy định  
chung chung nên khó thực thi. Điển hình là quy định khi phát hiện nƣớc tiểu gia  
2
súc dƣơng tính với chất cấm thì buộc cơ sở chăn nuôi nuôi tiếp đến khi kiểm tra  
lại nếu âm tính mới đƣợc xuất bán. Vấn đề đặt ra là nuôi trong thời gian bao lâu  
thì sẽ lấy lại mẫu nƣớc tiểu phân tích, đồng thời khi mẫu nƣớc tiểu âm tính thì  
liệu mẫu sản phẩm chăn nuôi nhƣ thịt, gan, thận có còn tồn dƣ chất cấm hay  
không? Để công tác kiểm soát sử dụng chất cấm có hiệu quả rất cần các nghiên  
cứu về đánh giá tốc độ đào thải và mức độ tồn dƣ chất cấm ở gia súc để hoàn  
thiện khung quy định pháp lý, đồng thời đánh giá thực trạng quản lý và kiểm soát  
chất cấm trong chăn nuôi tại các cấp chính quyền địa phƣơng, đánh giá tính thực  
tiễn của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.  
Câu trả lời cho giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý nêu trên sẽ là cơ sở  
khoa học và thực tiễn để đề xuất quy trình kiểm soát và quản lý chất cấm beta-  
agonist trong chăn nuôi, từ đó đề xuất sửa đổi một số văn bản quy phạm pháp luật  
hiện hành có liên quan đến kiểm soát và quản lý chất cấm thuộc nhóm beta-agonist  
trong chăn nuôi. Đây chính là mục đích cần đạt đƣợc của Nghiên cứu này.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Nghiên cứu xây dựng đƣợc các giải pháp kỹ thuật và quản lý sử dụng chất  
cấm thuộc nhóm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thích hợp với điều kiện thực  
tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc tế.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá đƣợc thực trạng và năng lực trong công tác quản lý chất cấm  
nói chung và beta-agonist nói riêng.  
- Xác định đƣợc phƣơng pháp định lƣợng các chất cấm nhóm beta-agonist  
(CLEN, SAL, RAC) trong thức ăn chăn nuôi và nƣớc tiểu lợn phù hợp với điều  
kiện thực tiễn, đồng thời đảm bảo độ chính xác và thống nhất giữa các phòng  
thử nghiệm.  
- Xây dựng đƣợc quy trình kiểm soát chất cấm beta-agonist trong chăn  
nuôi lợn thịt và đề xuất sửa đổi một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có  
liên quan.  
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
- Đánh giá tình hình kiểm tra, giám sát sử dụng chất cấm beta-agonist  
trong chăn nuôi lợn của 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2011- 2016, đồng thời  
đánh giá thực trạng sử dụng chất cấm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thịt tại 4  
3
   
tỉnh có ngành chăn nuôi lợn phát triển, đại diện cho phía Bắc, phía Nam tại thời  
điểm tháng 9 năm 2016.  
- Đề xuất phƣơng pháp phân tích định lƣợng các chất cấm thuộc nhóm  
beta-agonist (RAC, SAL, CLEN) trong thức ăn chăn nuôi và nƣớc tiểu vật nuôi có  
độ chính xác cao và phù hợp với năng lực phân tích của 15 phòng thử nghiệm chỉ  
định trong nƣớc.  
- Đánh giá sự đào thải các chất cấm beta-agonist trong chăn nuôi lợn  
thông qua thí nghiệm trên 45 lợn thịt tại Viện Chăn nuôi và phòng thử nghiệm  
Công ty Cổ phần Chứng nhận và Giám định Vinacert.  
- Đề xuất quy trình kiểm tra, kiểm soát sử dụng chất cấm beta-agonist  
trong chăn nuôi lợn thịt và đề xuất sửa đổi một số quy định trong các văn bản  
quy phạm pháp luật có liên quan.  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
- Xác định đƣợc phƣơng pháp phân tích định lƣợng chất cấm nhóm beta-  
agonist trong TACN và nƣớc tiểu bằng thiết bị phân tích LC-MS/MS có giới hạn  
phát hiện (LOD) và giới hạn định lƣợng (LOQ) phù hợp, tƣơng thích với năng  
lực các phòng phân tích trong nƣớc.  
- Xác định đƣợc tốc độ và thời gian đào thải chất cấm nhóm beta-agonist  
trong các mô: thịt, gan và thận của lợn, cũng nhƣ mối quan hệ giữa tốc độ và thời  
gian đào thải các chất cấm trong các mô này với tốc độ và thời gian đào thải của  
chất cấm trong nƣớc tiểu. Nghiên cứu đầu tiên, công phu và khoa học cung cấp  
kết quả tin cậy là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các qui định quản lý chất  
cấm beta - agonist tại Việt Nam.  
- Các phát hiện mới là những cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho  
việc xây dựng quy trình kiểm tra, kiểm soát sử dụng chất cấm beta-agonist trong  
chăn nuôi lợn. Đƣa ra đƣợc một số kiến nghị cụ thể trong điều chỉnh các văn bản  
pháp quy hiện hành liên quan đến hoạt động quản lý, kiểm soát chất cấm nhóm  
beta-agonist trong chăn nuôi lợn thịt, hiện nay đã có kiến nghị đƣợc áp dụng hiệu  
quả trong thực tiễn quản lý.  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
- Cung cấp căn cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lý nhà  
nƣớc về chất lƣợng và an toàn thức ăn cũng nhƣ các sản phẩm chăn nuôi.  
4
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 147 trang myanh 13240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu giải pháp kiểm soát chất cấm nhóm Beta-Agonist (Clenbuterol, Salbutamol, Ractopamine) trong chăn nuôi lợn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_giai_phap_kiem_soat_chat_cam_nhom_beta_ag.pdf
  • pdfDD&TACN - TTLA - Nguyen Xuan Duong.pdf
  • pdfTTT - Nguyen Xuan Duong.pdf