Luận án Liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
ĐÀM QUANG THẮNG  
LIÊN KẾT GIỮA HỘ NÔNG DÂN VỚI DOANH NGHIỆP  
TRONG KINH DOANH NÔNG NGHIỆP  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2021  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
ĐÀM QUANG THẮNG  
LIÊN KẾT GIỮA HỘ NÔNG DÂN VỚI DOANH NGHIỆP  
TRONG KINH DOANH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN  
THÀNH PHỐ    NỘ  
Ngành:  
Kinh tế phát triển  
Mã số:  
9 31 01 05  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Thị Mỹ Dung  
HÀ NỘI - 2021  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày… tháng… năm…  
Tác giả luận án  
Đàm Quang Thắng  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự  
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng  
nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết  
ơn sâu sắc GS.TS. Phạm Thị Mỹ Dung đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời  
gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ  
môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện  
Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và  
hoàn thành luận án.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều  
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./.  
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 20...  
Nghiên cứu sinh  
Đàm Quang Thắng  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Tên viết tắt  
ATTP  
BVTV  
CNC  
Nghĩa tiếng Việt  
An toàn thực phẩm  
Bảo vệ thực vật  
Công nghệ cao  
Cánh đồng mẫu lớn  
Cổ phần  
CĐML  
CP  
DN  
Doanh nghiệp  
ĐBSCL  
HĐND  
HND  
Đồng bằng sông C u Long  
Hội đồng nhân dân  
Hộ nông dân  
HTX  
Hợp tác xã  
HTXNN  
KDNN  
KHKT  
LK  
Hợp tác xã nông nghiệp  
 inh doanh Nông nghiệp  
 hoa học kĩ thuật  
Liên kết  
LKKT  
NCS  
Liên kết kinh tế  
Nghiên cứu sinh  
NĐ - CP  
Nghị định – Ch nh phủ  
NN & PTNT  
NSNN  
PRA  
Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
Năng suất lao động  
Participatory Rural Appraisal  
Sản xuất  
SX  
SXKD  
TNHH  
TT  
Sản xuất kinh doanh  
Trách nhiệm hữu hạn  
Thông tư  
TW  
Trung ương  
UBND  
 y ban nhân dân  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
TT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
DANH MỤC HÌNH  
TT  
Tên hình  
Trang  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ  
TT  
Tên biểu đồ  
Trang  
DANH MỤC HỘP  
TT  
Tên hộp  
Trang  
4.1. Một số cách liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp ..................................69  
4.2. Cũng may chúng tôi quen biết doanh nghiệp .....................................................89  
4.3. Hạn chế trong liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp với kinh doanh rau an  
toàn của Hà Nội ..................................................................................................93  
4.4. Cánh đồng mẫu lớn của Hà Nội........................................................................101  
4.5. Hỗ trợ liên kết của các tổ chức đoàn thể cho Hội viên.....................................105  
4.6. Nghiên cứu tình huống về Hội chăn nuôi và tiêu thụ gà M a Sơn Tây ............106  
4.7. Mua  t mà giá cũng thấp dù là nông sản sạch ...................................................109  
4.8. Cung cấp và hướng dẫn thông tin của doanh nghiệp........................................109  
4.9. Nông dân cũng có lỗi trong thực hiện hợp đồng...............................................115  
ix  
     
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Đàm Quang Thắng  
Tên Luận án: Liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông  
nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
Ngành: Kinh tế phát triển  
Mã số: 9 31 01 05  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục tiêu nghiên cứu  
Đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh  
nông nghiệp, từ đó đề xuất một số các giải pháp thúc đẩy liên kết giữa hộ nông dân với  
doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời  
gian tới.  
Phƣơng pháp nghiên cứu  
Điều tra doanh nghiệp và hộ nông dân với bảng hỏi thiết kế sẵn: Tổng số hộ điều  
tra là 250 hộ được phân bố đều trong 5 xã, bao gồm có 95 hộ trồng cây ăn quả, 67 hộ  
sản xuất rau, 37 hộ chăn nuôi lợn và 29 hộ chăn nuôi gà. Các hộ được chọn ngẫu nhiên  
từ danh sách hộ nông dân được cung cấp từ khuyến nông viên của xã, bao gồm chủ yếu  
là các hộ có quy mô lớn, sản xuất tập trung trong khu quy hoạch với hai dạng là hộ  
trang trại và hộ gia trại. Tổng số doanh nghiệp điều tra là 30 dựa vào giới thiệu của  
UBND xã, doanh nghiệp và hộ nông dân. Trong 30 doanh nghiệp điều tra thì có 8 doanh  
nghiệp thương mại, 2 DN sản xuất và 20 doanh nghiệp tổng hợp. Phương pháp thống kê  
mô tả, thống kê so sánh, phân tích mạng lưới xã hội và mô hình logit nhị phân được s  
dụng để phân tích và đánh giá.  
Kết quả chính và kết luận  
Đề tài đã hệ thống hóa cụ thể hệ thống cơ sở lý luận liên quan đến liên kết giữa  
doanh nghiệp và nông dân. Bên cạnh đó tác giả đưa ra được những kinh nghiệm thực  
tiễn trong phát triển các hình thức liên kết tiêu thụ nông sản của các nước trên thế giới  
và ở một số địa phương ở Việt Nam cho thấy Nhà nước thường đóng vai trò quan trọng  
trong việc tạo môi trường phát triển các hình thức liên kết tiêu thụ nông sản. Bên cạnh  
đó vai trò của Hợp tác xã (HTX) trong liên kết tiêu thụ nông sản của hộ nông dân được  
đánh giá cao. Liên kết tiêu thụ nông sản chỉ thực sự phát triển khi có sự phát triển mạnh  
của ngành công nghiệp chế biến nông sản.  
Với nguồn thông tin thứ cấp và sơ cấp từ điều tra 250 hộ nông dân, 30 doanh  
nghiệp tác giả đã thể hiện rõ thực trạng tình hình liên kết giữa hộ nông dân (HND) với  
DN trong  DNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cụ thể tác giả đã chỉ ra một số điểm  
như sau:  
x
 
- Liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp được phân tích theo quá trình kinh  
doanh. HND Hà Nội đã liên kết với các DN trong các giai đoạn và cả quá trình KDNN  
nhưng tỷ lệ tham gia thấp và không đồng đều giữa các giai đoạn và lĩnh vực kinh doanh.  
Liên kết tiêu thụ yếu và không bền vững với 4,5-10% số hộ tham gia. Số lượng sản  
phẩm tiêu thụ từ liên kết quá ít so với số sản xuất (Quả 0,07 %; Rau 1,62%; Lợn 1,47%;  
Gia cầm 0,02%; Trứng 1,2%…). Tham gia liên kết của hộ trong trồng trọt thấp hơn  
nhiều so chăn nuôi, đặc biệt với kinh doanh rau chỉ có 5,9% tham gia liên kết trong  
cung ứng, 4,5% trong tiêu thụ.  
- Nông dân Hà Nội liên kết với doanh nghiệp theo 4 hình thức nhưng phổ biến  
nhất vẫn là tự liên kết nhưng chưa được quan tâm xem xét. Cơ chế liên kết chủ yếu là  
không chính thức (72% trong cung ứng, 65% trong sản xuất và 87% trong tiêu thụ), liên  
kết chính thức  t nhưng rất lỏng l o, hầu hết là biên bản ghi nhớ. Tỷ lệ liên kết theo hợp  
đồng rất  t nhưng khi đã có hợp đồng thì thực hiện thường ở mức tốt và rất tốt.  
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tham gia liên kết của hộ nông dân với doanh  
nghiệp nhưng có thể chia thành ba nhóm là: Nhóm yếu tố thuộc chính sách của thành  
phố mà trọng tâm là quản lý liên kết và chương trình đề án nông nghiệp; Nhóm yếu tố  
thuộc doanh nghiệp mà trọng tâm là, đặc điểm, khả năng của doanh nghiệp; Nhóm yếu  
tố thuộc về hộ mà trọng tâm là hình thức tổ chức kinh doanh, hướng kinh doanh, năng  
lực của hộ và đặc điểm người điều hành kinh doanh hộ.  
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng và và các nhóm yếu tố nghiên cứu đã đề xuất một  
số giải pháp thúc đẩy liên kết của hộ nông dân với doanh nghiệp như: Hoàn thiện việc  
quản lý liên kết trong KDNN của thành phố để có hệ thống quản lý ổn định, thống nhất;  
Thúc đẩy tham gia liên kết của hộ nông dân với doanh nghiệp trong các chương trình hỗ  
trợ KDNN bằng cách quy định, thiết kế liên kết linh hoạt để nông dân quyết định chọn  
liên kết trực tiếp hoặc giá tiếp với doanh nghiệp; Nâng cao vai trò và khả năng của  
doanh nghiệp trong liên kết với hộ nông dân bằng cách giúp doanh nghiệp tháo gỡ các  
khó khăn, được tiếp xúc và thỏa thuận trực tiếp với hộ nông dân; Phát triển kinh tế trang  
trại để tăng số lượng trang trại bằng cách tăng quy mô trang trại hoặc tăng chất lượng  
kinh doanh đạt tiêu chí kinh tế trang trại; Thúc đẩy các hộ nông dân phát triển kinh  
doanh chăn nuôi bằng cách đa dạng chăn nuôi, chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao  
(CNC), mở rộng các khu chăn nuôi tập trung; Tăng năng lực kinh doanh cho hộ nông  
dân lấy trọng tâm là hỗ trợ hộ tăng tài sản kinh doanh và bồi dưỡng người điều hành  
kinh doanh lâu dài của hộ; Đa dạng hóa liên kết, xác định rõ các quan hệ và nguyên tắc  
liên kết trong các giai đoạn kinh doanh; Tuyên truyền phổ biến kiến thức và các mô  
hình liên kết thành công tới hộ nông dân và doanh nghiệp.  
xi  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Dam Quang Thang  
Thesis title: Linkages between farming households and enterprises in agribusiness in  
Hanoi  
Major: Development Economics  
Code: 9 31 01 05  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
Evaluate the current status of linkages between farming households and  
enterprises in agribusiness, then propose some solutions to promote the linkages between  
farming households and enterprises in agribusiness in Hanoi in the coming time.  
Materials and Methods  
The study conducted interviews with enterprises and farmer households using pre-  
designed questionnaires: The total number of surveyed households was 250 households,  
evenly distributed in 5 communes, including 95 households growing fruit trees, 67  
households producing vegetables, 37 households raising pig raising, and 29 households  
raising chicken. Households were selected randomly from the farming household list  
provided by the commune's agricultural extension workers, consisting mainly of large-  
scale, concentrated production households in the planning area with two types of farm  
households and family farming households. The total number of surveyed enterprises  
was 30; these enterprises were selected based on the recommendation of the Communal  
People’s Committee, enterprises and farming households. Among the 30 enterprises  
surveyed, there were 8 commercial enterprises, 2 manufacturing enterprises, and 20  
general enterprises. Descriptive statistical method, comparative statistics, social network  
analysis and binary logit model were employed for analysis and evaluation.  
Main findings and Conclusions  
The research has provided literature review on the linkages between businesses  
and farmers. In addition, the author gives practical experiences in developing various  
forms of linkages in agricultural product consumption of countries around the world and  
in some localities in Vietnam, which shows that the State often plays an important role  
in creating an environment to develop different forms of linkages in agricultural  
products consumption. In addition, the role of the cooperatives in linking farm produce  
consumption is highly appreciated. Linkages in agricultural product consumption would  
only develop when there is a strong development of the agricultural product processing  
industry.  
With the secondary and primary data sources from the surveys of 250 farmer  
households, and 30 enterprises, the authors clearly present the situation of the linkages  
between farmer households and enterprises in agribusiness in Hanoi. Specifically, the  
author has pointed out some main findings as follows:  
xii  
 
- The linkages between farmer households and enterprises were analyzed  
according to business processes. Hanoi farmer households have collaborated with  
enterprises in both phases and processes of agribusinesses, but the participation rate is  
low and uneven between stages and business sectors. The consumption linkage is weak  
and unsustainable with 4.5-10% of households participating in the lingkage. The  
number of products consumed from the linkage is too small as compared with the total  
number of production (0.07% of fruits; 1.62% of vegetables; 1.47% of pigs; 0.02% of  
poultry; and 1.2% of eggs, etc.). Household linkage in cultivation is much lower than in  
animal husbandry, especially with vegetable trading, only 5.9% participate in the  
linkage in supply, and 4.5% in consumption.  
- Hanoi farmers collaborate with enterprises in 4 forms, but the most popular is  
self-association but not yet concerned greatly. The main linkage mechanism is informal  
(72% in supply, 65% in production, and 87% in consumption), the formal linkages are  
not common but very loose, mostly in the form of memoranda. The percentage of  
contractual likages is very small but when there is a contract, the execution is usually  
good and very good.  
- There are many factors affecting the participation in linkages of farmers with  
enterprises, which can be divided into three main groups: Factors belong to the  
provincial policy of which the focus is on linkage management and agriculture project  
programs; Factors belong to the enterprises of which focus is on the characteristics and  
capabilities of the enterprise; Factors belong to the households of which the focus is on  
the form of business organization, business direction, capacity of the household and  
characteristics of the household business operator.  
- On the basis of the assessment of the current situation and groups of research  
factors, the study proposed a number of solutions to promote the association of farmers  
with enterprises such as: Improving the management of linkages in the agribusiness in  
the province to achieve stable and unified management system; Promoting linkages  
between farmers and businesses in the agribusiness supporting programs by regulating  
and designing flexible linkages so that farmers are able to decide to choose direct or  
indirect linkages with firms; Enhancing the role and capacity of businesses in  
collaborating with farming households by helping businesses overcome difficulties,  
contact and negotiate directly with farmers; Developing farming economy to increase  
the number of farms by increasing farm size or increasing the quality of business to  
meet farm economic criteria; Promoting farming households to develop livestock  
businesses by diversifying livestock, raising livestock with high-tech applications, and  
expanding concentrated livestock areas; Increasing business capacity for farmer  
households with the focus on supporting households to increase business assets and  
fostering long-term business operators of households; Diversifying linkages and clearly  
defining relationships and association principles in different business stages; and  
Disseminating knowledge and successful linkage models to farmers and businesses.  
xiii  
PHẦN    MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Liên kết giữa các nhà chính là chìa khóa giúp phát triển một nền nông  
nghiệp hiện đại, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia. Trong liên kết  
mỗi nhà có những vị tr  khác nhau. Nhà nước tạo cơ chế, hành lang pháp lý, giải  
quyết xung đột của các bên và trong một số trường hợp còn hỗ trợ một phần  
các nguồn lực cho liên kết. Nhà khoa học nghiên cứu tạo ra các tiến bộ khoa học  
công nghệ giúp phát triển liên kết và làm các dịch vụ khoa học công nghệ theo  
yêu cầu liên kết. Nông dân và doanh nghiệp (DN) là thành phần chủ yếu nhất  
trong quá trình liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ-hai giai đoạn chính của quá trình  
kinh doanh nông nghiệp. Có thể nói không có nông dân (cùng các tổ chức của  
họ) và doanh nghiệp thì không thể có kinh doanh nông nghiệp. Muốn kinh doanh  
nông nghiệp phát triển để sản phẩm nông nghiệp tham gia được vào các chuỗi  
cung ứng địa phương, quốc gia và toàn cầu thì không thể thiếu sự liên kết giữa  
nông dân và doanh nghiệp vì liên kết nông dân với doanh nghiệp trong chuỗi giá  
trị là con đường tất yếu, là giải pháp, động lực để phát triển nền sản xuất hàng  
hóa. Quá trình liên kết đó có những đặc điểm riêng và đóng vai trò quan trọng:  
Góp phần đảm bảo các bên cùng có lợi; làm tăng hiệu quả trong sản xuất nông  
sản; góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế… Tuy  
nhiên, trên thực tế hiện nay của Việt Nam tuy nhà nước đã cho nhiều chính sách,  
nhiều văn bản hướng dẫn , khuyến khích liên kết nói chung và liên kết nông dân  
với doanh nghiệp nói riêng vẫn còn nhiều nút thắt khiến cho việc tiêu thụ các mặt  
hàng nông sản đôi lúc còn bỏ ngỏ dẫn đến tình trạng bị tư thương lợi dụng thao  
túng giá cả thị trường, thậm chí b  gãy chuỗi liên kết một cách dễ dàng. Với sự  
đa dạng của các loại hộ nông dân và doanh nghiệp nên trong liên kết cũng thể  
hiện khác nhau, sự bất cập cũng không đồng nhất vì vậy mỗi địa phương cần có  
những nghiên cứu cụ thể nhằm đề ra giải pháp thích hợp.  
Hà Nội là thành phố nhưng lại có những đặc điểm khá đặc trưng liên quan  
nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Với tổng dân số của Hà Nội khoảng 8,2 triệu  
(Tổng cục Thống kê, 2017a), thu nhập bình quân khoảng 58,5 triệu người/năm  
với khoảng 40% dân số có thu nhập cao hơn mức trung bình (Tổng cục Thống  
kê, 2017b). Ngoài ra hàng năm còn có khoảng 22 triệu lượt du khách đến Hà Nội  
1
   
(Sở Du lịch thành phố Hà Nội, 2017), đây là một thị trường tiềm năng song khá  
khó tính với yêu cầu cao hơn về chất lượng nông sản thực phẩm. Nông nghiệp  
của Hà Nội có ưu thế về khoảng cách thị trường nhưng lại gặp một số thách thức  
như yêu cầu cao của người tiêu dùng, sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu và nông  
sản từ các địa phương trong nước. Điều này đòi hỏi ngành nông nghiệp Hà Nội  
cần phải có sự thay đổi tổ chức, sắp xếp các hoạt động sản xuất và phân phối  
hàng hóa nông sản để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, đặc biệt là kết nối các  
doanh nghiệp trong chuỗi nông sản – tác nhân quan trọng để đưa nông sản hàng  
hóa tới người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh hiện nay của thị  
trường thành phố.  
Trên địa bàn thành phố có hơn 1.000 doanh nghiệp (DN) hoạt động trong  
lĩnh vực nông nghiệp (Hội Làm vườn Việt Nam, 2016) nhưng chủ yếu là cung  
cấp vật tư đầu vào theo kiểu mua bán, trao đổi trên thị trường tự do. Điều này đã  
không giải quyết được thực tiễn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của nông dân. Đến  
nay, thành phố mới xây dựng được 65 chuỗi liên kết thực phẩm an toàn từ sản  
xuất đến tiêu thụ, chỉ chiếm 15 đến 20% lượng hàng hóa tiêu thụ trên thị trường.  
Để xảy ra tình trạng này là do người nông dân chưa điều tiết sản xuất phù hợp  
với khả năng tiêu thụ của thị trường, chưa có cầu nối vững chắc giữa người nông  
dân và doanh nghiệp. Các hộ dân với kiểu làm ăn mang t nh chất thời vụ, theo lối  
chộp giật, chưa đáp ứng được những tiêu chí của hệ thống, dẫn đến tình trạng  
tiêu thụ bấp bênh. Một số liên kết trong kinh doanh nông sản giữa hộ nông dân  
với DN như hộ ở Quốc Oai và công ty Long Phú trong tiêu thụ chè, giữa hộ ở Cổ  
Bi với doanh nghiệp trong tiêu thụ chuối tiêu hồng nuôi cấy mô, giữa hộ trồng  
cây ăn quả giá trị cao với một số siêu thị (Viện Khoa học Phát triển nông thôn,  
2014-2016), liên kết giữa Công ty sữa Quốc tế (IDP) và Công ty sữa Vinamilk  
với nông dân các xã Phù Đổng, Dương Hà v.v. song vẫn còn gặp nhiều khó khăn,  
không thường xuyên. Đa số các hộ nông dân sản xuất có quy mô nhỏ, hầu như tự  
độc lập kinh doanh. Kinh doanh nông nghiệp của Hà Nội hướng vào tiêu dùng  
cho thành phố với yêu cầu nông sản thực phẩm an toàn nên không thể thiếu liên  
kết nhưng liên kết thế nào thì đang là bài toán khó, không thành công. Vấn đề đặt  
ra cấp bách cho ngành nông nghiệp của thành phố là làm như thế nào để xây  
dựng liên kết kinh doanh giữa những HND nhỏ và DN trên địa bàn thành phố,  
nhằm phát triển nông nghiệp ngoại thành bền vững và tận dụng ưu thế thị trường  
đô thị.  
2
Đã có khá nhiều nghiên cứu về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm  
nông nghiệp, cũng như về chuỗi giá trị nông sản (Hội Làm vườn Việt Nam,  
2016; Viện Khoa học Phát triển nông thôn, 2017), tuy nhiên về liên kết giữa  
HND và DN trong bối cảnh thị trường đô thị lớn như Hà Nội thì khá thiếu vắng  
những nghiên cứu đánh giá sâu và chi tiết để làm cơ sở cho Sở Nông nghiệp và  
chính quyền có những giải pháp xây dựng liên kết giữa hai tác nhân này trong  
kinh doanh nông nghiệp của thành phố. Do đó, nghiên cứu về “Liên kết giữa hộ  
nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố  
Hà Nội  sẽ đóng góp cả về lý luận và thực tiễn cho công tác phát triển sản xuất  
nông nghiệp của thành phố.  
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau: Nên hiểu thế nào về liên kết  
giữa HND với DN trong KDNN?; Thực trạng liên kết giữa HND Hà Nội với các  
DN như thế nào?; Những yếu tố nào ảnh hưởng tới liên kết giữa HND Hà Nội  
với các DN?; Để thúc đẩy liên kết giữa HND với DN thì cần có những giải pháp  
nào?  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp  
trong kinh doanh nông nghiệp tác giả đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông  
dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp, từ đó đề xuất một số giải  
pháp thúc đẩy liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông  
nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến liên kết giữa hộ  
nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp.  
+ Đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong  
kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa hộ nông dân với doanh  
nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
+ Đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp  
trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới.  
3
     
  3  ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu  
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp liên quan  
tới liên kết giữa hộ nông dân Hà Nội với các doanh nghiệp trong kinh doanh  
nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi không gian  
Đề tài nghiên cứu liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong các  
hoạt động kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
- Phạm vi nội dung  
Đề tài nghiên cứu liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong các lĩnh  
vực kinh doanh nông nghiệp mà sản phẩm bắt nguồn từ sản xuất nông nghiệp của  
Hà Nội để cung cấp cho thị trường Hà Nội. Do hạn chế về mặt thời gian cũng  
như để quá trình nghiên cứu đạt hiệu quả. Nội dung nghiên cứu liên kết giữa hộ  
với doanh nghiệp theo quá trình kinh doanh, tập trung vào hình thức liên kết dọc  
và một số loại sản phẩm hàng hóa ch nh như cây ăn quả, rau, chăn nuôi lợn thịt  
và gà thịt.  
- Phạm vi thời gian  
Đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ và doanh nghiệp giai đoạn 2015- 2020.  
Đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2021-2025.  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
  4    Về lý luận  
Luận án đã góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ và bổ sung một số cơ sở lý  
luận về liên kết trong kinh doanh nông nghiệp; Lý luận về liên kết giữa hộ nông  
dân và doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp; Nêu được vai trò, đặc điểm,  
các hình thức, nguyên tắc, các mối quan hệ của hộ nông dân với doanh nghiệp và  
các bên liên quan khác; Đề tài cũng đã chỉ ra các nhóm yếu tố ảnh hưởng tới liên  
kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong KDNN.  
  4 2  Về thực tiễn  
Luận án đã tổng kết, đánh giá, phân tích các mối liên hệ liên kết trên thực  
tế, cụ thể: (i) Tổng kết những kinh nghiệm liên kết trong sản xuất, tiêu thụ và  
4
           
KDNN của các nước trên thế giới và ở một số địa phương ở Việt Nam cho thấy:  
Liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp khá đa dạng vì  DNN có t nh đặc  
thù cao; Hình thức liên kết thành công chủ yếu là trực tiếp, liên kết tự nguyện sẽ  
bền vững và thật sự hiệu quả, nhà nước có vai trò quan trọng trong thúc đẩy liên  
kết, để thúc đẩy liên kết cần kết hợp cả yếu tố kinh tế và xã hội.  
Bên cạnh đó luận án đưa ra được những yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa  
hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành  
phố Hà Nội chia thành ba nhóm là: Nhóm yếu tố thuộc chính sách của thành phố  
mà trọng tâm là quản lý liên kết và chương trình đề án nông nghiệp; Nhóm yếu tố  
thuộc doanh nghiệp mà trọng tâm là, đặc điểm, khả năng của doanh nghiệp;  
Nhóm yếu tố thuộc về hộ mà trọng tâm là hình thức tổ chức kinh doanh, hướng  
kinh doanh, năng lực của hộ và đặc điểm người điều hành kinh doanh hộ.  
Từ những phân t ch thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng luận án đưa ra được  
một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa các hộ và doanh nghiệp trên địa  
bàn thành phố Hà Nội.  
  5  Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
Hướng nghiên cứu Đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông dân với doanh  
nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn Hà Nội là việc làm ý nghĩa và  
cần thiết. Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ những lý luận liên quan đến liên  
kết giữa hộ và doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp. Bên  
cạnh đó giúp có cái nhìn r  nét về thực trạng liên kết giữa hộ và doanh nghiệp  
trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả đánh giá được thực trạng và phân t ch các yếu tố ảnh hưởng đã đưa  
ra được giải pháp tối ưu nhằm tăng cường liên kết giữa các hộ và doanh nghiệp  
trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng như phát huy tối đa những ưu điểm mà liên  
kết đã mang lại.  
5
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 210 trang myanh 25400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_lien_ket_giua_ho_nong_dan_voi_doanh_nghiep_trong_kin.pdf
  • pdfKTPT - TTLA - Dam Quang Thang.pdf
  • pdfTTT - Dam Quang Thang.pdf