Luận án Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

HỌC VIỆN NÔ NG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
BÙI ĐỨC THỊNH  
ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CHO CÁ N BỘ, CÔ NG CHỨC  
CU  
̉
A BÔ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
̣
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔ NG NGHIỆP - 2019  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯  
BÙI ĐỨC THỊNH  
ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC  
CỦ A BỌ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
Chuyên nga  
̀
nh : Quản trị nhân lực  
Mã số  
: 9.34.04.04  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Mai Thanh Cúc  
GS.TS. Tô Dũng Tiến  
HÀ NỘI - 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả  
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được sử  
dụng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các  
thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2019  
Tác giả luận án  
Bùi Đức Thịnh  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Luận án được thực hiện dưới sự giúp nhiệt tình của các thầy, cô giáo, các nhà  
khoa học, các cơ quan, tổ chức và bạn bè đồng nghiệp.  
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Thanh Cúc và  
GS.TS. Tô Dũng Tiến là những người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ  
và định hướng giúp tôi trưởng thành và hoàn chỉnh luận án này.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban  
Quản lý đào tạo, các thầy/cô giáo của khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, bộ môn  
Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp ý kiến cho tôi trong  
suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ các Cục, Vụ, Viện, Trường của Bộ  
Lao động - Thương binh Xã hội; Vụ Tổ chức cán bộ; Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán  
bộ công chức Trường Đại học Lao động - Xã hội; Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ,  
công chức Lao động - Xã hội; Các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Lao động - Thương  
binh Xã hội đã nhiệt tình cung cấp tài liệu, hỗ trợ thu thập dữ liệu, trao đổi thông tin để  
tôi thực hiện luận án.  
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Trường Đại học Lao động -  
Xã hội nơi tôi công tác, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện tốt  
nhất để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án này.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2019  
Tác giả luận án  
Bùi Đức Thịnh  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
vi  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
CBCC  
CC  
Nghĩa tiếng Việt  
Cán bộ, công chức  
Chứng chỉ  
CN  
Cử nhân  
CTTL  
CS  
Chương trình, tài liệu  
Chính sách  
CSVC  
ĐGC  
Cơ sở vật chất  
Đánh giá chung  
Đào tạo bồi dưỡng  
Giảng viên  
ĐTBD  
GV  
LĐTBXH  
NCKH  
NH  
Lao động - Thương binh và Xã hội  
Nghiên cứu khoa học  
Người học  
PTBQ  
QLNN  
TC  
Phát triển bình quân  
Quản lý nhà nước  
Tổ chức  
vii  
 
DANH MỤC BẢNG  
Tên bảng  
STT  
Trang  
viii  
 
DANH MỤC SƠ ĐỒ  
Tên sơ đồ  
STT  
Trang  
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
x
   
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tác giả luận án: Bùi Đức Thịnh  
Tên luận án: Đào tạo bồi dưỡng cho CBCC Bô  
Chuyên ngành: Quản trị nhân lực  
̣
Lao động - Thương binh và Xã hội  
Mã số: 9.34.04.04  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới ĐTBD CBCC của Bô  
̣
Lao đôn  
̣
g - Thương binh va Xa hôi  
̣
hiện nay; từ đó đề ra các giải pháp nhằm đổi mới  
̀
̃
công tác ĐTBD CBCC của Bô  
Phương pháp nghiên cứu  
̣
Lao đông - Thương binh va Xa hôi trong thơi gian tơi.  
̣
̣
̀
̃
̀
́
- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống; Tiếp cận có sự tham gia; Tiếp cận  
quy trình đào tạo bồi dưỡng; Tiếp cận theo chức danh, vị trí việc làm.  
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Để có được thông tin đầy đủ cho quá trình phân  
tích, ngoài các thông tin thứ cấp thu thập từ các cơ quan, đơn vị chức năng của Bộ, tác  
giả tiến hành khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi đáp đối với 15 đơn vị của Bộ để lấy ý  
kiến của 15 thủ trưởng đơn vị và 65 cựu học viên; khảo sát tại cơ sở ĐTBD CBCC của  
̣
Bô Lao động - Thương binh và Xã hội để lấy ý kiến của 240 học viên, 66 giảng viên, 15  
cán bộ quản lý. Tác giả đã vận dụng các phương pháp phân tích nhân tố khám phá với  
thang đo Likert để lựa chọn các yếu tố định tính ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo bồi  
dưỡng cho CBCC của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội có ý nghĩa thống kê, từ đó  
sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến  
chất lượng đào tạo bồi dưỡng. Bên cạnh đó, luận án còn kết hợp sử dụng các phương  
pháp khác như thống kê kinh tế, phương pháp cho điểm để phân tích đánh giá.  
Kết quả chính và kết luận  
Bộ đã quan tâm đến việc xác định nhu cầu ĐTBD CBCC. Tuy nhiên, việc xác  
định nhu cầu ĐTBD của Bộ còn nhiều bất cập, cụ thể là: chưa xây dựng được khung  
năng lực trên cơ sở vị trí việc làm cho CBCC; chưa coi trọng phân tích cấp công việc và  
phân tích cấp cá nhân. (ii) Bộ đã xây dựng kế hoạch ĐTBD dài hạn và ngắn hạn cơ bản  
đáp ứng được yêu cầu ĐTBD cho CBCC. Tuy nhiên, xây dựng kế hoạch dài hạn chưa  
mang tính tổng thể, chưa bám sát vào nhu cầu và vị trí công việc cũng như qui hoạch  
cán bộ. Trong quá trình xây dựng kế hoạch ĐTBD của từng năm còn thiếu sự tham  
khảo phản hồi của các đơn vị liên quan. (iii) Thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cơ  
bản theo qui trình. Đào tạo bồi dưỡng CBCC ở nước ngoài nhằm giúp CBCC cập nhật  
xi  
 
kiến thức mới, hội nhập quốc tế; ĐTBD ở bên ngoài Bộ chiếm số lượng không nhiều;  
ĐTBD tại Bộ được giao cho Trung tâm ĐTBD CBCC thực hiện đến năm 2014, từ năm  
2015, giao cho Trường ĐTBD CBCC lao động - xã hội. Tuy nhiên trong quá trình thực  
hiện còn một số hạn chế như: trình tự thủ tục còn rườm rà; thời điểm tổ chức các khóa  
tập huấn tập trung vào cuối năm; chất lượng một số khóa ĐTBD chưa cao; phương pháp  
ĐTBD còn nặng về lý thuyết; các nội dung, chương trình tài liệu đã được biên soạn vẫn  
còn thiếu về số lượng cũng như chất lượng tài liệu; ĐTBD chưa thực sự gắn với kế  
hoạch, quy hoạch bố trí, sử dụng cán bộ; đội ngũ giảng viên còn thiếu về số lượng và  
yếu về chất lượng; cơ sở vật chất đầu tư còn hạn chế. (iv) Công tác đánh giá ĐTBD đã  
được quan tâm thực hiện, tuy nhiên chưa được chú trọng và thực hiện còn mang tính  
hình thức. Như vậy, Công tác ĐTBD CBCC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội  
cơ bản đã thực hiện theo qui trình đào tạo bồi dưỡng: xác định nhu cầu, lập kế hoạch,  
thực hiện kế hoạch và đánh giá ĐTBD. Kết quả thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ,  
công chức đạt và vượt mức kế hoạch đề ra; trình độ cán bộ, công chức được nâng lên rõ  
rệt; kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc của CBCC không ngừng được tăng lên. Tuy  
nhiên, thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức so với nhu cầu chưa sát, còn có  
độ chênh lệch.  
Qua nghiên cứu cho thấy, có 7 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC  
Bộ LĐTBXH, đó là: cơ chế chính sách; hội nhập quốc tế; chương trình, tài liệu phục vụ  
ĐTBD; chất lượng và nghiệp vụ giảng viên, các yếu tố liên quan đến người học; cơ sở  
vật chất; công tác tổ chức khóa học. Trong số các nhóm yếu tố đó, kết quả phân tích  
nhân tố khám phá và phân tích hồi quy của 6 nhóm yếu tố (cơ chế chính sách; chương  
trình, tài liệu phục vụ ĐTBD; chất lượng và nghiệp vụ giảng viên, các yếu tố liên quan  
đến người học; cơ sở vật chất; công tác tổ chức khóa học) có hệ số dương và có ý nghĩa  
thống kê. Do vậy khi cải thiện được các yếu tố này sẽ làm cho chất lượng đào tạo bồi  
dưỡng cán bộ công chức được nâng lên.  
Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Lao động - Thương  
bình và Xã hội trong giai đoạn tới cần áp dụng các giải pháp sau: (i) Hoàn thiện quy  
trình ĐTBD; (ii) Đổi mới hình thức, phương pháp, nội dung, chương trình, tài liệu đào  
tạo bồi dưỡng; (iii) Nâng cao năng lực cho cơ sở tổ chức ĐTBD CBCC; (iv) và một số  
giải pháp khác như tuyển dụng, sắp xếp, bổ nhiệm CBCC theo vị trí việc làm; Đổi mới  
công tác quản lý ĐTBD; Xây dựng chính sách sử dụng, bổ nhiệm sau ĐTBD; Huy động  
các nguồn kinh phí cho ĐTBD; Hợp tác quốc tế trong ĐTBD.  
xii  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Bui Duc Thinh  
Title: Training and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War  
Invalids and Social Affairs  
Major: Human Resource Management  
Code: 9.34.04.04  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture  
Research Objectives  
On the basis of the analysis of current situation and factors affecting the training  
and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and  
Social Affairs, solutions will be therefrom suggested to innovate the training and  
fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and Social  
Affairs in the coming time.  
Materials and Methods  
- Method of approach: System approach; Participatory approach; Access to  
training and retraining procedures; Approach by job title and position.  
- Method of data collection: In order to obtain sufficient information for the  
analysis procedure, in addition to the low-level information collected from functional  
organizations and departments of the Ministry, the author conducted a direct survey by  
using questionnaire for 15 organizations of the Ministry to collect comments of 15  
heads of organizations and 65 former trainees; the author also surveyed at the Ministry  
of Labor, Invalids and Social Affairs' cadres and civil servants training institutions to  
collect comments of 240 trainees, 66 trainers and 15 managers. The author applied the  
methods of exploratory factor analysis with the Likert scale to select the qualitative  
factors affecting the quality of training for cadres and civil servants of the Ministry of  
Labor, War Invalids and Social Affairs at level of statistical significance. Therefrom,  
the author uses multivariable regression model to analyze the influence of each factor  
on the quality of training and fostering. In addition, the thesis incorporates other  
methods such as economic statistics, scoring methods for analysis and evaluation.  
Main findings and conclusions  
The Ministry has been interested in determining the needs of the training and  
fostering of cadres and civil servants. However, the determination of the needs of the  
training and fostering of the Ministry has many shortcomings, namely: the capacity  
framework on the basis of job position of the cadres and civil servants has not been built;  
job-level analysis and personal-level analysis have not yet focused. (ii) Ministry has  
basically developed a long-term and short-term plans that meets the requirements of  
training and fostering for cadres and civil servants. However, the development of long-  
term plans is not yet comprehensive, not closely following the needs and job positions as  
well as staff planning. In the process of developing the plan of training and fostering of  
each year, there is a lack of reference to the feedback of the relevant units. (iii) Basically,  
xiii  
 
the implement of training and fostering plan complies with the procedures. Training and  
fostering for cadres and civil servants overseas to help them update new knowledge and  
international integration; There are not many officers and employees who is trained  
outside the Ministry; The training at the Ministry was assigned to the Center for Training  
and Fostering of Cadres and Civil Servants until 2014. Since 2015, this task was  
assigned to the Training School for Cadres and Civil Servants. However, during  
implementation, there are some limitations such as: the procedure is still prolix; the point  
of time to organize training courses is often focused at the end of year; quality of some  
training courses is not high; training method is still inclined to theory; The content and  
program of compiled documents are still lacking in quantity and quality; The training has  
not really associated with the plan and the project of staff arrangement and use; the  
teaching staff is inadequate in quantity and weak in quality; Investment for facilities is  
still limited. (iv) The evaluation of training and fostering has been paid attention to,  
however, has not been focused and implemented in a formal way. Thus, the training and  
fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and Social  
Affairs basically conformed to the procedure of training and fostering: determining needs,  
planning, implementing plans and assessing the training and fostering. The results of  
training and fostering cadres and civil servants reached and exceeded the plan; the level of  
cadres and civil servants has been significantly improved; cadres and civil servants 's  
knowledge, skills and working attitude are constantly increasing. However, the  
implementation of training and fostering of cadres and civil servants is not close to the  
demand, there are differences.  
The studies show that, there are 7 main groups of factors affecting training and  
fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, Invalids and Social Affairs,  
that is: policy mechanisms; international integration; programs, documents for training  
and fostering; quality and professional skills of lecturers; factors related to learners;  
facilities; hold of courses. Within these factors, results of the explanatory factor analysis  
and regression analysis of 6 groups of factors (policy mechanisms; programs, documents  
for training and fostering; quality and professional skills of lecturers; factors related to  
learners; facilities; hold of courses) have a positive and statistically significant coefficient.  
Therefore, by improving of these factors, the quality of training and fostering will be  
improved.  
In order to innovate the training and fostering of cadres and civil servants of  
the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs in the coming time, the  
following solutions should be applied: (i) To perfect the training and retraining  
procedure; (ii) To renovate forms, methods, content, training programs and documents;  
(iii) To enhance competence of the institutions of training and fostering of cadres and  
civil servants; (iv) and some other solutions such as recruitment, placement,  
appointment of cadres, civil servants and employees according to job positions; To  
renovate the management of training and fostering; To formulate policies regarding use  
and appointment after training and retraining; To mobilize funding sources for training  
and retraining; International cooperation in training and fostering.  
xiv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) đóng vai trò quan trọng trong xây dựng  
và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, trong hoạt động công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của  
bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng xét cho cùng  
được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ  
CBCC. Có thể nói đây là vấn đề cực kỳ quan trọng được Đảng, Nhà nước ta quan  
tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân cho đến  
nay. Xuất phát từ quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định thành công hay thất bại  
của sự nghiệp cách mạng “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Đảng và Nhà  
nước ta luôn luôn chăm lo, xây dựng đội ngũ CBCC nhà nước gắn với giải quyết  
nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã  
khẳng định “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”  
(Chủ tịch Hồ Chí Minh, 2009).  
Đào tạo bồi dưỡng (ĐTBD) là những nội dung cơ bản và rất quan trọng đối  
với xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, là một trong những nhiệm vụ  
thường xuyên của công tác cán bộ. Xã hội càng phát triển công tác cán bộ càng  
phải được chú trọng, chất lượng đội ngũ CBCC đòi hỏi ngày càng cao hơn. Do  
vậy, ĐTBD sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng  
được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.  
Ngày 05/03/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào  
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã nhấn mạnh “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí  
việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm  
tốt công việc được giao” (Chính phủ, 2010). Năm 2011, Thủ trướng Chính phủ  
cũng đã ban hành Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/08/2011 về việc phê duyệt  
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015, trong đó  
ghi rõ hai mục tiêu là: Đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng tiêu chuẩn quy định về  
ngạch công chức; và để đáp ứng yêu cầu công việc theo chức vụ lãnh đạo, quản lý  
và vị trí việc làm của cán bộ, công chức (Thủ tướng Chính phủ, 2011).  
Tuy nhiên, theo đánh giá tổng kết của Bộ Nội vụ sau 5 năm thực hiện Kế  
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015 cho rằng chất  
1
   
lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa được cải thiện rõ rệt so với yêu  
cầu cải cách hành chính: “Cán bộ, công chức vừa học vừa làm nên còn để công  
việc chi phối quá trình học tập, thời gian dành trọn vẹn cho hoạt động đào tạo  
không nhiều. Công tác đào tạo, bồi dưỡng mặc dù đã có những cố gắng đổi mới  
nhưng vẫn còn tình trạng chạy theo số lượng, việc đào tạo chưa gắn kết chặt chẽ  
với sử dụng. Nội dung chất lượng đào tạo chưa cao, chương trình, giáo trình đào  
tạo, bồi dưỡng chưa thật phù hợp với từng đối tượng. Việc đào tạo, bồi dưỡng  
nhìn chung vẫn còn nặng lý thuyết, tính ứng dụng không cao, chưa chú trọng tính  
đặc thù riêng biệt của từng vị trí việc làm cán bộ, công chức, viên chức. Nội  
dung và thời lượng khung chương trình đào tạo liên tục thay đổi nhưng hiệu quả  
vẫn chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu từng vị trí việc làm của cán bộ công chức,  
viên chức. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức chưa được thực  
hiện đồng bộ, mới chỉ đào tạo về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ mà  
chưa chú ý bồi dưỡng về kỹ năng quản lý điều hành, tổ chức thực hiện, nhất là xử  
lý tình huống trong thực tiễn…” (Bộ Nội vụ, 2015).  
Nghị quyết số 64/NQ-CP ngày 22/7/2016 của Chính phủ ban hành Chương  
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc  
lần thứ 12 của Đảng đã giao các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,  
cơ quan khác ở trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương  
triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ: “Tăng cường công  
tác đào tạo, xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác,  
tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao”; “Xây dựng bộ máy nhà nước  
tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, hạn chế tình trạng phân tán chức năng, nhiệm  
vụ của các cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà  
nước” (Chính phủ, 2016).  
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) là cơ quan của Chính phủ,  
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công và xã  
hội trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực do Bộ  
quản lý. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cũng như trong quá trình cải cách hoạt  
động của bộ máy hành chính, nhiệm vụ của Bô  
̣
LĐTBXH ngày càng nặng nề và  
đội ngũ CBCC cần phải  
phức tạp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng của Bô,  
̣
được ĐTBD để nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, cập nhật kiến thức, kỹ  
năng mới đáp ứng được vị trí mà mình đảm nhận.  
2
Đến năm 2017, Bộ LĐTBXH có gần 700 người là CBCC. Chủ trương của  
Bộ là nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CBCC hiện có. Bộ  
luôn xác định công tác ĐTBD CBCC là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc  
xây dựng đội ngũ CBCC trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập  
quốc tế. Thực tế cho thấy hiện nay đa số CBCC của Bộ đã có trình độ học vấn  
đại học và sau đại học. Trước sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ đòi hỏi  
nhiệm vụ, yêu cầu công việc của CBCC phải luôn thay đổi không ngừng. Do đó,  
ĐTBD CBCC theo hướng tiếp cận phát triển năng lực với thời lượng ngắn và  
linh hoạt, phương pháp hiện đại, nội dung gắn sát yêu cầu công việc sẽ góp phần  
tạo sự đột phá về công tác cán bộ của Bộ. Từ đó, hình thành nên đội ngũ CBCC  
có khả năng chủ động hội nhập, tư duy đổi mới, kỹ năng quản trị hiện đại để thực  
hiện tốt nhiệm vụ của Bộ cũng như công cuộc cải cách hành chính quốc gia.  
̣ ̣ ̣  
Theo Báo báo cáo tổng kết của Bô Lao đông – Thương binh va Xa hôi về  
̀
̃
công tác ĐTBD CBCC và 5 năm thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-TTg của  
Chính phủ đã chỉ ra một số kết quả đạt được: “Công tác đào tạo bồi dưỡng  
CBCC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã bám sát yêu cầu, mục tiêu  
và chương trình …triển khai quán triệt, phổ biến nâng cao nhận thức, xây dựng  
quy hoạch, kế hoạch giai đoạn và hàng năm; tổ chức triển khai, đôn đốc, kiểm  
tra, tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện. Trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch  
đã có sự đổi mới về quy trình cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, gắn với các  
khâu khác của công tác cán bộ, nhất là khâu nhận xét, đánh giá, quy hoạch tạo  
nguồn cán bộ. Trong tổ chức thực hiện đã có sự phân loại đối tượng theo ngạch  
công chức, viên chức; theo chức danh, vị trí việc làm, lĩnh vực công tác và theo  
khối đơn vị để xác định nội dung, hình thức, phương pháp ĐTBD thích hợp. (Bộ  
Lao động - Thương binh và Xã hội, 2016).  
Tuy nhiên, Báo cáo cũng chỉ ra một số tồn tại: (i) Nội dung, chương trình  
ĐTBD CBCC tuy có đổi mới nhưng còn nặng về tính lý thuyết, thời gian kéo dài,  
chưa chú trọng nhiều đến kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, nên khi vận dụng, áp dụng  
vào thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế; (ii) Một số đơn vị chưa thực sự  
quan tâm đúng mức đến công tác ĐTBD, tạo nguồn cán bộ nên cán bộ được cử  
đi học còn chưa được tạo điều kiện đầy đủ về thời gian để tham gia các khóa  
ĐTBD hoặc cử CBCC đi ĐTBD nhưng chưa thực sự gắn với công tác quy hoạch  
cán bộ, đánh giá cán bộ; (iii) Còn thiếu chủ động trong việc xây dựng và ban  
hành kế hoạch ĐTBD hàng năm do phải chờ văn bản hướng dẫn và phân bổ kinh  
3
phí của Bộ Nội vụ; (iv) Việc đầu tư cơ sở, vật chất, trang thiết bị và kinh phí cho  
công tác ĐTBD chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra; (v) Một số văn bản quy  
định về định mức chi trong hoạt động ĐTBD chưa phù hợp với tình hình thực tế  
đã gây ra khó khăn đối với các cơ sở đào tạo và việc quản lý công tác ĐTBD…”  
(Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2016).  
Ngày 06/8/2012, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết  
định số 990/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt quy hoạch nguồn nhân lực ngành  
LĐTBXH giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu tổng thể: “Đảm bảo đủ số lượng,  
hợp lý cơ cấu, ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, từng bước nâng cao chất  
lượng đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ của ngành Lao động - Thương binh và  
Xã hội, trong đó chú trọng đào tạo một số bộ phận CBCC có chất lượng cao  
tiếp cận với trình độ của các nước trong khu vực và quốc tế” (Bộ Lao động -  
Thương binh và Xã hội, 2012).  
̉
Đê góp phần giúp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện tốt mục  
tiêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đê tai là hết sức cần thiết.  
̀
̀
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ĐTBD  
CBCC của Bô Lao đông - Thương binh va Xa hôi hiện nay; từ đó đề xuất các giải  
pháp nhằm đổi mới công tác ĐTBD CBCC của Bô Lao đông - Thương binh va Xa  
hôi trong thơi gian tơi.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
̣
̣
̣
̀
̃
̣
̣
̀
̃
̣
̀
́
- Hệ thống hóa va làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTBD CBCC;  
̀
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC  
của Bô  
- Đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới công tác ĐTBD CBCC của Bô  
Lao đông - Thương binh va Xa hôi trong giai đoan tơi.  
̣
Lao đông - Thương binh va Xa hôi trong thời gian qua;  
̣
̣
̀
̃
̣
̣
̣
̣
̀
̃
́
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
̣
- Đối tượng nghiên cứu của luận án công tác ĐTBD cho CBCC của Bô Lao  
̣ ̣  
đông - Thương binh va Xa hôi.  
̀
̃
4
         
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 224 trang myanh 22900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_dao_tao_boi_duong_cho_can_bo_cong_chuc_cua_bo_lao_do.pdf
  • pdfQTNL - TTLA - Bui Duc Thinh.pdf
  • pdfTTT - Bui Duc Thinh.pdf