Luận án Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng phúc lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG GIANG  
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI LỢN  
ĐẾN CHẤT LƯỢNG PHÚC LỢI ĐỘNG VẬT  
VÀ NĂNG SUẤT CHĂN NUÔI Ở MỘT SỐ TỈNH  
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG GIANG  
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI LỢN  
ĐẾN CHẤT LƯỢNG PHÚC LỢI ĐỘNG VẬT  
VÀ NĂNG SUẤT CHĂN NUÔI Ở MỘT SỐ TỈNH  
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
Chuyên ngành : Chăn nuôi  
Mã số  
: 09 62 01 05  
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Đình Tôn  
HÀ NỘI, 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng để bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cám  
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018  
Tác giả luận án  
Nguyễn Thị Phƣơng Giang  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận đƣợc  
sự hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,  
đồng nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi đƣợc bày tỏ lòng kính trọng và biết  
ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Đình Tôn, đã tận tình hƣớng dẫn, dành nhiều công sức, thời  
gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.  
Tôi xin cảm ơn GS. Marc Vandenheed, Khoa Thú y, Trƣờng Đại học Liege đã  
chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi có thêm nhiều kiến thức chuyên môn và thực tế trong quá  
trình thực hiện đề tài.  
Tôi xin cảm ơn ThS. Vũ Tiến Việt Dũng, Oxford University Clinicl Research  
Unit- Hà Nội, là ngƣời đã đƣa ra giải pháp xử lý số liệu để kết quả luận án đƣợc chặt  
chẽ và có độ tin cậy cao.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ  
môn Chăn nuôi Chuyên Khoa, Bộ môn Sinh lý - Tập tính động vật, Khoa Chăn Nuôi - Học  
viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện  
đề tài và hoàn thành luận án.  
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Chƣơng trình Hợp tác Việt-Bỉ (VNUA-ARES  
CCD) đã cấp nguồn kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu này. Cảm ơn tổ chức HSI  
(Humane Society International) đã tài trợ cho việc xây dựng chuồng trại thí nghiệm.  
Xin chân thành cảm ơn cán bộ Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo nghề Chăn  
nuôi, Phòng thí nghiệm Trung tâm Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam,  
cùng nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học đã tận tình giúp đỡ nhóm tác giả thực hiện đề  
tài này.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, ngƣời thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều  
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./.  
Hà Nội, ngày... tháng... năm 2018  
Nghiên cứu sinh  
Nguyễn Thị Phƣơng Giang  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt Viết đầy đủ  
Nghĩa tiếng Việt  
ACTH  
CRH  
EC  
Adrenocorticotropic Hormone  
Corticotropin Releasing Hormone  
European Commission  
Kích vỏ thƣợng thận tố  
Hormone giải phóng corticotropin  
Ủy ban Châu Âu  
ELISA  
Enzyme Linked ImmunoSorbent Assay  
Phân tích hấp phụ miễn dịch  
gắn enzym  
EU  
European Union  
Liên minh Châu Âu  
F1(LxY)  
HSUS  
HSI  
F1(LandracexYorkshire)  
Humane Society of the United States  
Humane Society International  
Lợn lai Landrace và Yorkshire  
Tổ chức nhân đạo của Mỹ  
Tổ chức nhân đạo quốc tế  
OIE  
World Organisation for Animal Health Tổ chức thú y thế giới  
RSPCA  
Royal Society for Prevention of  
Cruelty to Animals  
Hiệp hội Hoàng gia phòng  
chống ngƣợc đãi động vật  
Hiệp hội phòng chống ngƣợc đãi  
động vật Thái Lan  
TSPCA  
UDAW  
Thai Society for the Prevention of  
Cruetly to Animals  
Universal Declaration on Aninmal  
Welfare  
Công ƣớc quốc tế về phúc lợi  
động vật  
WAP  
WF  
Welfare Quality  
Tổ chức bảo vệ động vật thế giới  
Chất lƣợng phúc lợi  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
STT  
Tên bảng  
Trang  
lợi®2009  
vii  
 
viii  
DANH MỤC HÌNH  
STT  
Tên hình  
Trang  
ix  
 
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Nguyễn Thị Phƣơng Giang  
Tên luận án: Ảnh hƣởng của phƣơng thức chăn nuôi lợn đến chất lƣợng phúc lợi động  
vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng  
Chuyên ngành: Chăn nuôi Mã số: 09 62 01 05  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các phƣơng  
thức chăn nuôi lợn nái đến năng suất và phúc lợi động vật ở một số tỉnh Đồng bằng  
Sông Hồng, đề xuất các giải pháp chăn nuôi vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đáp  
ứng đƣợc mục tiêu về năng suất, nâng cao giá trị sản phẩm.  
Mục tiêu cụ thể: Đánh giá đƣợc mức độ ảnh hƣởng của các phƣơng thức chăn  
nuôi tại nông hộ và trang trại đến phúc lợi động vật ở lợn nái. Đánh giá năng suất chăn  
nuôi lợn với các phƣơng thức chăn nuôi theo các mô hình thực nghiệm. Từ đó đƣa ra  
những khuyến cáo cho từng phƣơng thức chăn nuôi vừa cải thiện chất lƣợng phúc lợi  
động vật, vừa đáp ứng đƣợc mục tiêu về năng suất và giá trị sản phẩm.  
Phƣơng pháp nghiên cứu và xử lý số liệu  
- Tiến hành điều tra nhằm đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại vùng nghiên cứu  
từ đó phân loại các quy mô chăn nuôi để đánh giá phúc lợi động vật của lợn nái nuôi  
theo hƣớng dẫn của Welfare Quality® 2009 (Chất lƣợng Phúc lợi® 2009).  
Các số liệu điều tra và kết quả đánh giá phúc lợi động vật đƣợc xử lý bằng  
phƣơng pháp thống kê mô tả. Kiểm định Chi bình phƣơng ( ) đƣợc dùng để tính toán  
sự liên quan giữa các chỉ tiêu.  
Ảnh hƣởng của các quy mô chăn nuôi lên các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi theo  
hƣớng dẫn Welfare Quality® 2009 đƣợc đánh giá thông qua hồi quy logistic có thứ tự.  
Chỉ số Odds Ratio (OR) phản ánh sự khác biệt về phân bố điểm phúc lợi của lợn nái  
nuôi theo các quy mô với mức tin cậy α=0,05. Phân tích hồi quy đƣợc thực hiện bởi  
hàm GENMODE.  
- Bố trí thí nghiệm nhằm đánh giá phúc lợi của lợn nái nuôi theo nhóm ở chuồng  
có sân và không có sân. Sự đánh giá đƣợc thực hiện theo 3 phƣơng pháp:1) Đánh giá  
theo hƣớng dẫn Welfare Quality® 2009 (tƣơng tự mục trên); 2) Biến động nồng độ  
cortisol trong nƣớc bọt và trong huyết tƣơng ở lợn nái: Nồng độ cortisol đƣợc biểu thị  
bằng giá trị trung bình bình phƣơng nhỏ nhất (LMS), giá trị nhỏ nhất, lớn nhất và sai số  
tiêu chuẩn (SEM). So sánh các giá trị LSM theo cặp bằng phép so sánh Tukey; 3) Quan  
sát tập tính: Kết quả quan sát tập tính qua camera đƣợc tóm tắt bằng phƣơng pháp thống  
kê mô tả (trung vị); Giá trị nhỏ hơn hoặc bằng trung vị đƣợc quy về giá trị 0, lớn hơn  
xi  
 
trung vị đƣợc quy về giá trị 1, sự khác biệt này đƣợc phân tích bằng kiểm định Chi bình  
phƣơng (χ2), α = 0,05. Ảnh hƣởng của kiểu chuồng đến tập tính đƣợc đánh giá bằng  
phƣơng pháp hồi quy logistic.  
- Bố trí thí nghiệm nhằm đánh giá phúc lợi của lợn nái nuôi ở kiểu chuồng nuôi  
nhóm v chuồng cũi. Sự đánh giá đƣợc thực hiện theo 4 phƣơng pháp: 1) Đánh giá theo  
hƣớng dẫn Chất lƣợng Phúc lợi® 2009 (tƣơng tự mục trên); 2) Biến động nồng độ  
cortisol của lợn nái (tƣơng tự mục trên); 3) Quan sát tập tính (tƣơng tự mục trên); 4)  
Đánh giá năng suất sinh sản: Ảnh hƣởng của yếu tố kiểu chuồng đến các chỉ tiêu năng  
suất sinh sản sử dụng phƣơng pháp phân tích phƣơng sai đơn biến ANOVA 1-Way. So  
sánh cặp đôi các giá trị trung bình theo phƣơng pháp Duncan ở mức ý nghĩa P< 0,05.  
Tất cả các số liệu đƣợc xử lý bằng SAS 9.4  
Kết quả chính và kết luận  
- Ở các hộ quy mô nhỏ nuôi chuồng lợn nái đƣợc tự do đi lại, đƣợc sử dụng  
thức ăn có bổ sung chất xơ phù hợp với tập tính dinh dƣỡng tuy nhiên gặp vấn đề về sức  
khỏe khi thời tiết khắc nghiệt. Ở các hộ nhỏ nuôi cũi và các trang trại quy mô vừa và  
lớn, lợn nái đƣợc nuôi trong các cũi cá thể với chuồng trại hoàn toàn khép kín và thức  
ăn chủ yếu là hỗn hợp hoàn chỉnh, đảm bảo dinh dƣỡng nhƣng lợn không thể di chuyển,  
ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu phúc lợi động vật.  
- Sự khác biệt đáng kể về phúc lợi lợn nái giữa các quy mô chăn nuôi đƣợc xác  
định. Lợn nái ở các quy mô nhỏ có thể trạng tốt hơn, nhƣng có nguy cơ bị thở dốc khi  
gặp thời tiết nóng. Xu hƣớng các vết thƣơng trên cơ thể, tình trạng da và khối viêm cục  
bộ; thể hiện một số tập tính rập khuôn (nhai bã trầu, uốn lƣỡi, cắn thanh chuồng, cắn  
núm uống...) và sợ ngƣời ở lợn nái nuôi tại những hộ quy mô nhỏ nuôi cũi và trang trại  
có quy mô vừa và lớn cao hơn ở quy mô nhỏ nuôi chuồng.  
- Phúc lợi của lợn nái nuôi nhóm ở kiểu chuồng có sân và không có sân là tƣơng  
đƣơng nhau ở các chỉ tiêu đánh giá. Vì vậy, không cần thiết phải bổ sung chuồng có sân  
nền bê tông cho lợn cái nuôi nhóm trong điều kiện khí hậu ở ĐBSH  
- Lợn nái nuôi ở kiểu chuồng nhóm có nhiều chỉ tiêu đánh giá phúc lợi động vật  
tốt hơn lợn nái nuôi cũi nhƣ: điểm tổn thƣơng bờ vai, què, vết thƣơng trên cơ thể, tỷ lệ  
phân dính trên cơ thể, các tập tính rập khuôn và khám phá. Tuy nhiên, với kiểu chuồng  
nuôi nhóm lại gây tăng nồng độ cortisol, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể và hành vi gây hấn  
trong thời gian đầu khi ghép nhóm.  
Trong phạm vi nghiên cứu, kiểu chuồng không ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu sinh  
lý sinh dục, các chỉ tiêu năng suất sinh sản và tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản. Tuy nhiên,  
lợn nuôi cũi có xu hƣớng mắc bệnh kéo dài và dễ tái phát hơn lợn nuôi nhóm.  
xii  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Nguyen Thi Phuong Giang  
Thesis title: The influences of farming methods on welfare quality and production  
performance of sows in some provinces of the Red River Delta  
Major: Animal Science Code: 09 62 01 05  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
General objective: Based on the assessment of impact levels of different farming  
methods on production performance and welfare quality of the sows in some provinces  
of the Red river delta, we aimed to propose solutions for optimal farming methods,  
which not only ensure for animal welfare but also meet the demand for productivity and  
improve values of the products.  
Specific objectives:1) Assessing the impact levels of different farming methods  
in households and conventional farms on welfare quality of the sows. 2) Evaluating  
production performance of the sows in different farming methods by conducting  
experimental trials. 3) From those above results, providing advices for each method in  
order to improve not only animal welfare but also meet the demand for productivity and  
improve values of the products.  
Materials and Methods  
- Sow farming conditions were surveyed in the research area. Thereafter, welfare  
condition of the sows in different scales was assessed in the research area according to  
Welfare Quality® 2009 protocol. Pearson’s chi-square test ( ) was used to test the  
relationship between criteria. The impacts of farming scales on animal welfare criteria  
assessed were analyzed by using Ordered Logistic Regression. Odds Ratio (OR) was  
used to demonstrate the differences in welfare quality scores between different housing  
style with significant level of α = 0.05. Regression analysis was conducted by  
GENMOD function.  
- An experiment was designed to assess welfare of sows kept in grouped pen with  
and without outdoor yard. The assessment was conducted by 3 following methods: 1)  
Welfare assessment according to Welfare Quality® 2009 (similar to survey research);  
2) Varies of plasma and saliva cortisol levels of the sows: cortisol levels of the sows  
were described by Least Median Squares (LMS), Max value, Min value and SD of the  
Mean (SEM). Comparing LMS values by pair using Tuckey test; 3) Behavioural  
observation: Results of sow behaviours observed by camera were summarized by  
descriptive statistic (median). Results were smaller or equal to median were denoted a  
value of zero; otherwise, they were denoted a value of one, the differences between  
groups of zero and one were analyzed by Chi-square test ( ) with significant value of  
α = 0,05. The effects of housing types on behaviours of the sows were analyzed by  
Logistic Regression method.  
xiii  
 
- An experiment was designed to assess the welfare of sows kept in grouped pen  
and kept in crate. The assessment was conducted by 4 following methods:1) Welfare  
assessment according to Welfare Quality® 2009 (similar to survey research); 2) Varies  
of plasma and saliva cortisol levels of the sows (mentioned above) ; 3) Behavioural  
observation (mentioned above); 4) Reproductive performance: Influences of housing  
types on reproductive performance criteria were analyzed by ANOVA. Mean values  
were compared in pair by Duncan method with P-value < 0.05.  
All of the results were analyzed by statistical software: SAS 9.4  
Main results and conclusions  
- In the small households, sows kept in the pen were free to walk and provided  
feed with fiber ingredients which is suitable to their natural nutritional needs; however,  
they had health problem when facing with extreme environmental conditions. In small  
household using farrowing crates and small-to-large scale farms, sows were kept in  
individual crates inside a closing housing system and were mainly fed commercial diets,  
which ensure their nutritional requirements but the sows kept in the crates were not able  
to move hence their welfare was impaired. The significant differences between two  
housing types were determined. Sows in smaller farming scales had better body  
condition scores but had higher panting rate when exposing to hot weather. The  
prevalence of skin lesions, skin conditions and local inflammation; the expression of  
some stereotype behaviours (sham chewing, tongue rolling, teeth grinding, bar biting,  
drinker biting...) and fear of human were higher in sows kept in crates than in those kept  
in pens.  
- Welfare of grouped sows kept in pens with and without outdoor yard were not  
significantly different in all of assessment criteria. Therefore, it is not necessary to  
provide pen with outdoor yard for grouped sows in the climate conditions in the Red  
rival delta.  
- Sows kept in grouped pen had more welfare quality criteria scored betther  
compared to sows kept in crate such as: shoulder score, lameness, wounds on body,  
ratio of manure on the body, stereotype and exploring behaviours. However, sows kept  
in group showed higher cortisol levels, higher body scores and aggressive behaviour in  
the beginning of mixing period.  
Within the scope of our research, housing type did not influence to the criteria of  
physiological reproduction, productive performance and the rate of reproductive  
diseases. However, sows kept in crates tended to suffer the diseases in a longer period  
and easier to relapse than those kept in pens.  
xiv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Trong chăn nuôi lợn công nghiệp, chuồng trại lợn nái mang thai là một  
trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất tại các cuộc thảo luận về phúc lợi  
động vật. Chuồng cũi cá thể để nuôi lợn nái mang thai đƣợc cho là có liên quan  
đến các vấn đề phúc lợi kém vì hệ thống chuồng nuôi không đáp ứng đƣợc phúc  
lợi động vật do bị ngăn cản sự vận động, lợn chỉ có thể đứng lên, nằm xuống mà  
không thể quay lại, hạn chế thể hiện các tập tính tự nhiên và gây ra các phản ứng  
stress mãn tính (Boyle et al., 1999; Lawrence et al., 1994). Trƣớc những quan  
ngại về ảnh hƣởng bất lợi của sự giam hãm lợn nái trong cũi cá thể, hạn chế môi  
trƣờng nuôi, nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, các nhà hoạch định chính  
sách cũng nhƣ cộng đồng ngƣời tiêu dùng ngày càng quan tâm đến việc kêu gọi  
giải pháp thay thế chuồng nuôi mới nhằm cải thiện vấn đề phúc lợi động vật cho  
lợn nái mang thai (Edwards et al., 2014; Ohl and Staay, 2012; Sandilands and  
Petherick, 2006; Verdon et al., 2015). Chính vì vậy, việc cấm nuôi nhốt lợn nái  
trong cũi đã dần đƣợc luật hóa, đầu tiên áp dụng ở Thụy Điển (1994), tiếp theo là ở  
Anh vào năm 1999 (CWFT, 2000), Tasmania (Úc) và ở New Zealand (2010). Ở  
Mỹ, từ năm 2006 đến nay, đã có nhiều bang thông qua điều luật cấm nuôi lợn nái  
trong cũi (HSUS, 2013). Đặc biệt, năm 2001, luật pháp Châu Âu đã ban hành chỉ  
thị từ 01/01/2013 bắt buộc tất cả các trang trại phải sử dụng hệ thống nuôi lợn nái  
theo nhóm, chỉ cho phép nuôi lợn nái trong cũi 4 tuần sau khi phối giống (EU,  
2001). Trƣớc các quy định nhƣ vậy, nhiều nhà khoa học và nhà quản lý cho rằng  
hệ thống nuôi nhóm là giải pháp thay thế và đã đƣợc nhiều quốc gia áp dụng.  
Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho rằng bên cạnh những lợi ích mà chuồng  
nuôi nhóm đem lại nhƣ lợn đƣợc di chuyển tự do, đƣợc vận động, đƣợc thể hiện  
các tập tính tự nhiên thì lợn nái nuôi nhóm thƣờng bị stress bầy đàn và các tổn  
thƣơng trên cơ thể (Brambell, 1965; Geverink et al., 2003; Maes et al., 2016;  
Mendl et al., 1992; Verdon et al., 2015). Ở Việt Nam, năm 2015 đã ban hành  
Luật thú y đầu tiên, trong đó tại điều 21 đã quy định về việc đảm bảo phúc lợi  
động vật, nhƣng vấn đề này vẫn chƣa đƣợc quy định một cách chi tiết và cụ thể  
cho từng đối tƣợng vật nuôi (Nghị quyết 79/2015/QH13, 2015).  
Trong những năm gần đây, do sức ép về lƣợng thực phẩm cung cấp cho  
tiêu dùng, sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nái nói riêng đang có  
1
   
sự chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi thâm canh, quy mô lớn. So  
với năm 2006, mặc dù số hộ chăn nuôi lợn năm 2011 giảm gần 35% song chủ  
yếu là ở nhóm các hộ nuôi nhỏ lẻ. Năm 2014 có 9.897 trang trại chăn nuôi, đến  
năm 2016 là 12.888 tăng trên 30,2%. Theo đó, tổng đầu lợn có mặt thƣờng xuyên  
hiện nay của Việt Nam đã trên 29 triệu con, trong đó đàn nái gần 4,5 triệu con,  
đứng thứ tƣ trên thế giới (Tổng cục Thống kê, 2017). Trong những năm tới chính  
phủ Việt Nam sẽ tiếp tục ƣu tiên phát triển những phƣơng thức chăn nuôi công  
nghiệp đến năm 2020 với định hƣớng phát triển nền chăn nuôi bền vững (Quyết  
định 10/2008/QĐ-TTg, 2008). Trƣớc đây, chăn nuôi bền vững cần đảm bảo 3  
tiêu chí: hiệu quả kinh tế, đảm bảo chất lƣợng môi trƣờng và gìn giữ đƣợc tài  
nguyên nhiên nhiên, đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên,  
trong những năm gần đây, một tiêu chí mới vô cùng quan trọng tham gia cấu  
thành nên nền chăn nuôi bền vững đó là việc đảm bảo phúc lợi cho động vật chăn  
nuôi. Phúc lợi động vật không những cải thiện sức khoẻ; nâng cao sức đề kháng  
cho động vật và giảm chi phí thuốc; giảm nguy cơ mắc bệnh lây truyền từ động  
vật sang ngƣời mà còn nâng cao chất lƣợng sản phẩm; tăng giá trị kinh tế từ  
ngƣời tiêu dùng và đảm bảo đạo đức cho ngƣời chăn nuôi.  
Vì vậy, để hƣớng tới một nền chăn nuôi bền vững, đáp ứng đƣợc yêu cầu  
hội nhập quốc tế cần phải có những nghiên cứu cụ thể làm cơ sở khoa học cho  
ngƣời chăn nuôi, các nhà làm luật, các nhà hoạch định chính sách, ngƣời tiêu  
dùng cùng chung tay thực hiện các biện pháp nâng cao phúc lợi cho động vật nói  
chung và cho lợn nái nói riêng.  
Vấn đề nghiên cứu đƣợc đặt ra hiện nay là thực trạng phúc lợi động vật  
của lợn nái ở Việt Nam nhƣ thế nào? Phƣơng thức chăn nuôi nào đảm bảo phúc  
lợi cho lợn nái hiện nay? Giả thiết đƣa ra là phƣơng thức chăn nuôi lợn nái theo  
nhóm trong chuồng có sân đảm bảo phúc lợi hơn chuồng không có sân. Phƣơng  
thức chăn nuôi lợn nái theo nhóm đảm bảo phúc lợi hơn nuôi lợn nái trong cũi.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Trên cơ sở đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các phƣơng thức chăn nuôi  
đến phúc lợi của lợn nái ở một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng, đề xuất các giải  
pháp chăn nuôi vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đáp ứng đƣợc mục tiêu về  
năng suất, nâng cao giá trị sản phẩm.  
2
 
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá đƣợc mức độ ảnh hƣởng của các phƣơng thức chăn nuôi tại các  
nông hộ và trang trại đến phúc lợi của lợn nái.  
- Đánh giá phúc lợi và năng suất chăn nuôi lợn nái với các phƣơng thức  
chăn nuôi theo mô hình thực nghiệm. Từ đó đƣa ra những khuyến cáo cho từng  
phƣơng thức chăn nuôi vừa cải thiện chất lƣợng phúc lợi động vật, vừa đáp ứng  
đƣợc mục tiêu về năng suất và giá trị sản phẩm chăn nuôi.  
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
- Tình hình chăn nuôi và đánh giá thực trạng phúc lợi động vật ở lợn nái  
nuôi tại các nông hộ, trang trại tại Hà Nội, Hƣng Yên và Hải Dƣơng thuộc Đồng  
bằng Sông Hồng từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2016.  
- Thực nghiệm đƣợc tiến hành nghiên cứu trên đàn lợn nái F1(LxY) nuôi tại  
Trại thực nghiệm, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo nghề Chăn nuôi, Khoa Chăn  
Nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2017.  
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI  
- Đánh giá đƣợc thực trạng phúc lợi động vật của lợn nái nuôi ở một số  
tỉnh Đồng bằng Sông Hồng.  
- Đƣa ra đƣợc những cơ sở khoa học đối việc xây dựng hệ thống chuồng  
trại, phƣơng thức chăn nuôi nhằm nâng cao chất lƣợng phúc lợi cho lợn cái ở giai  
đoạn hậu bị và mang thai.  
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI  
1.5.1. Ý nghĩa khoa học  
- Kết quả nghiên cứu đã đóng góp thêm tƣ liệu cho giảng dạy, nghiên cứu  
khoa học về ảnh hƣởng của các phƣơng thức chăn nuôi tới phúc lợi động vật và  
năng suất sinh sản của lợn nái.  
- Có thêm định hƣớng mới trong nghiên cứu chăn nuôi lợn nái vừa đảm  
bảo phúc lợi động vật vừa nâng cao năng suất sinh sản.  
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Cung cấp các thông tin và thực trạng phúc lợi động vật ở đàn lợn nái  
đƣợc nuôi với các quy mô và phƣơng thức khác nhau ở một số tỉnh Đồng bằng  
Sông Hồng.  
- Đƣa ra đƣợc minh chứng với điều kiện thời tiết khí hậu ở miền Bắc  
3
     
Việt Nam, để đảm bảo phúc lợi cho lợn cái không cần thiết phải nuôi lợn cái  
theo nhóm trong chuồng có sân.  
- Cung cấp các thông tin có căn cứ khoa học chứng minh lợn nái nuôi theo  
kiểu chuồng nhóm có nhiều chỉ tiêu đánh giá phúc lợi động vật tốt hơn lợn nái  
nuôi trong cũi. Trong giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài cho thấy nuôi lợn  
nái theo nhóm chƣa cải thiện đƣợc năng suất sinh sản so với lợn nái nuôi cũi.  
- Với những ý nghĩa thực tiễn trên có thể đƣa ra những khuyến cáo cho  
ngƣời dân trong việc xây dựng mô hình chuồng trại, phƣơng thức chăn nuôi lợn  
nái vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đảm bảo năng suất sinh sản cho lợn nái.  
4
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 151 trang myanh 25300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng phúc lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_anh_huong_cua_phuong_thuc_chan_nuoi_lon_den_chat_luo.pdf
  • pdfTom tat luan an - Nguyen Thi Phuong - 08.01.2018.pdf
  • docTrang thong tin LA tieng Anh - Nguyen Thi Phuong Giang - 08.01.2018.doc
  • docTrang thong tin LA tieng Viet - Nguyen Thi Phuong Giang - 08.01.2018.doc