Xác định vị trí và dung lượng máy phát phân tán để tổn thất công suất là nhỏ nhất

XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VÀ DUNG LƯỢNG MÁY PHÁT PHÂN TÁN ĐỂ TỔN THẤT CÔNG SUẤT  
LÀ NHỎ NHẤT  
DETERMINATION OF THE LOCATION AND DIVISION OF POWER GENERATORS FOR  
DISSERTING LOSS OF POWER IS THE LOWEST  
Lê Văn Vũ  
Sở Công Thương tỉnh Bến Tre  
Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Bài báo này đề xuất sử dụng phương pháp PSO kết hợp với phương pháp Backward /Forward trong bài toán tối ưu vị  
trí và công suất cho lưới điện phân phối hình tia thay thế cho phương pháp hiện nay đang được sử dụng. Phương pháp  
đề xuất sử dụng kết hợp phương pháp PSO kết hợp với phương pháp tính phân bố công suất bằng Backward / Forward  
đã giảm thiểu thời gian tính toán và tăng tính hội tụ cho bài toán tái cấu hình hệ thống điện phân phối hình tia khi có  
máy phát điện phân tán với lưới điện phân phối nhiều nút. Phương pháp đề xuất đã được kiểm nghiệm trên hệ thống  
lưới điện phân phối hình tia IEEE 33 thông qua sử dụng phần mềm MATLAB và đã cho thấy tính hiệu quả so với các  
phương pháp truyền thống.  
Từ khóa: Lưới điện phân phối, nguồn điện phân tán, tổn thất công suất, tái cấu hình lưới điện phân phối  
ABSTRACT  
This paper proposes the use of the PSO method in conjunction with the Backward/Forward method in position  
optimization and the power for the beam distribution grid to replace the current method being used. The proposed  
method of combining the PSO method with the Backward / Forward power density calculation method minimizes the  
computational time and convergence for the reconfiguration of the power distribution system. When there are  
dispersed generators with multiple node distribution grid. The proposed method has been tested on the IEEE 33 grid  
using MATLAB software and has shown efficiencies compared to traditional methods.  
Keywords: Backward/Forward; Newton-Graphson; Gauss-Seidel; Reconfiguration; Distribution system  
thụ đảm bảo chất lượng điện năng, nâng cao độ tin  
cậy cung cấp điện, một số yêu cầu an toàn trong  
giới hạn cho phép. Đồng thời, mang lại nhiều lợi  
ích khác: giảm tải trên đường dây, cải thiện điện  
áp tại các nút, giảm thiểu tổn thất và hỗ trợ lưới  
điện trong quá trình vận hành lưới điện.  
Bài báo này trình bày việc áp dụng thuật toán  
PSO cải tiến áp dụng vào tối ưu vị trí và dung dụng  
lượng của các DG có xét đến tái cấu hình lưới điện  
phân phối. Phương pháp PSO cải tiến này, sử dụng  
tính toán phân bố công suất là công cụ tính toán  
Back – Forward thay thế cho công cụ tính bằng  
Newton - Graphson hoặc Gauss – Seidel nhằm  
giảm tối đa thời gian giải bài toán.  
1. GIỚI THIỆU  
Trong những năm gần đây, bài toán tái cấu hình  
trong lưới điện phân phối thường được gắn với sự  
phát triển của thị trường điện với lý do kỹ thuật  
cũng như kinh tế. Lưới điện phân phối tham gia  
vào trong thị trường điện cần phải vận hành một  
cách tối ưu như giảm thiểu tổn hao, ổn định điện  
áp, cân bằng công suất trên các nhánh, chống quá  
tải…[1]. Cấu trúc hệ thống điện truyền thống có  
dạng dọc, lưới điện phân phối sẽ nhận điện từ lưới  
truyền tải hoặc truyền tải phụ sau đó cung cấp đến  
hộ tiêu thụ điện. Lưới điện hiện naycó cấu trúc  
hình tia hoặc dạng mạch vòng nhưng luôn vận  
hành trong trạng thái hình tia. Vì vậy, việc truyền  
tải điện năng từ nhà máy điện đến hộ tiêu thụ sẽ  
sinh ra tổn hao trên lưới truyền tải và lưới điện  
phân phối. Lưới điện do có sự tham gia của các  
máy phát điện phân tán (distributed generation -  
DG), dòng công suất không chỉ đổ về từ hệ thống  
truyền tải mà còn lưu thông giữa các phần của lưới  
điện phân phối với nhau, thậm chí đổ ngược về  
lưới truyền tải. Cấu trúc này được gọi là cấu trúc  
ngang.  
2. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN  
Để giải bài toán tái cấu hình lưới điện có xét  
đến các DG kết nối vào lưới điện phân phối thì cần  
phải giải các bài toán lưới điện hình tia có cấu trúc  
thay đổi liên tục thì mới tìm ra cấu trúc tối ưu phù  
hợp với mục tiêu của bài toán. Các công trình  
nghiên cứu về bài toán tái cấu hình với hàm mục  
tiêu giảm tổn thất trên lưới điện khi có kết nối với  
nhiều DG hoặc không có kết nối DG. Các phương  
pháp chủ yếu giải quyết bài toán thông qua kỹ  
thuật heuristic hoặc meta-heuristic. Tái cấu hình  
lưới điện phân phối được phát triển do đầu tư về  
Với cấu trúc lưới điện khi có sự tham gia của  
các DG, lưới điện phân phối thực hiện tốt hơn  
nhiệm vụ cung cấp năng lượng điện đến hộ tiêu  
1
chi phí là thấp hơn so với các phương pháp khác  
vì khi vận hành lưới điện phân phối thì tận dụng  
cấu trúc mạch vòng nhưng vận hành hình tia chỉ  
thực hiện bằng việc thay đổi đóng/mở các khóa  
nhằm tối ưu được các mục tiêu của bài toán.  
Mục tiêu của các bài toán tái cấu hình chủ yếu  
là tính toán nhằm giảm thiểu tổn thất trên lưới điện  
phân phối và các yếu tố khác như: độ tin cậy, nâng  
cao chất lượng điện năng... Vì vậy, với sự thay đổi  
cấu hình của lưới điện làm cho dòng công suất trên  
các nhánh bị thay đổi và cần phải tính lại để đáp  
ứng với thay đổi quá trình đóng/mở của các khóa  
của lưới điện phân phối.  
chất lượng điện năng mà giảm thiểu tổng thời gian  
giải bài toán trên lưới điện phân phối.  
Bài báo này tiếp cận bài toán xác định vị trí và  
công suất của các DG trên lưới điện phân phối có  
xét đến bài toán tái cấu hình vận hành lưới điện  
với mục tiêu là giảm tổn thất công suất tác dụng  
và thỏa mãn công suất bơm vào lưới của các khách  
hàng. Giải pháp xác định vị trí và công suất của  
các DG tối ưu và xác định cấu hình vận hành được  
thực hiện bằng phương pháp PSO đồng thời sử  
dụng công cụ tính phân bố công suất Back –  
Forward.  
3. PHƯƠNG PHÁP ĐỀ XUẤT  
Gần đây nghiên cứu [7] đã áp dụng bài toán  
tính toán phân bô công suất Back – Forward cho  
lưới điện hình tia, nhưng được thực hiện với lưới  
điện phân phối cố định. Như vậy, phương pháp  
này khó có thể áp dụng vào trong bài toán tái cấu  
hình lưới điện. Phương pháp tái cấu hình lưới điện  
có xét đến các DG chủ yếu được áp dụng là thuật  
toán: thuật toán di truyền (genetic algorithm - GA)  
[2], thuật toán PSO [3], thuật toán CSA [4], thuật  
toán HSA [5], thuật toán RRA [6]... Trong các  
nghiên cứu này, bài toán tái cấu hình lưới điện có  
xét đến vị trí và dung lượng của các DG chủ yếu  
sử dụng công cụ tính phân bố công suất là  
Matpower, công cụ này tính toán mất khá lớn thời  
gian giải vì chúng phụ thuộc vào ma trận tổng dẫn  
nút, số nút càng tăng thì thời gian giải càng tăng.  
Công cụ tính phân bố công suất trên lưới điện  
phân phối [2-6] chủ yếu sử dụng phương pháp tính  
Newton - Graphson hoặc Gauss - Seidel. Khi sử  
dụng các phương pháp này thì khi tính toán thì mất  
khá nhiều thời gian và hội tụ chậm nên không  
mang lại hiệu quả cao khi vận hành lưới điện phân  
phối trong thị trường điện. Vì vậy, Newton–  
Graphson chưa thật sự tối ưu về thời gian và độ  
hội tụ khi giải bài toán tái cấu hình. Do đó, công  
cụ tính phân bố công suất theo Matpower khó áp  
dụng đối với lưới điện thực tế vì có số nút khá lớn.  
Chính vì vậy, để đáp ứng với bài toán cần giải:  
tái cấu hình lưới điện phân phối có xét đến các DG  
kết nối vào lưới thì cần sử dụng phương pháp  
meta-heuristic như GA, PSO, RRA, HSA... nhưng  
cần phải cải tiến công cụ tính phân bố công suất  
như cải tiến phương pháp Back – Forward tính  
toán được trên lưới điện hình tia thay đổi với mục  
tiêu là giảm thiểu tổn thất công suất và nâng cao  
Bài báo này đề xuất sử dụng phương pháp  
Backward/Forward trong tính phân bố công suất  
nhằm tái cấu hình lưới điện phân phối thông qua  
việc tìm ra tất cả các điện áp nút. Từ các điện áp  
này, có thể tính trực tiếp dòng điện, tổn thất hệ  
thống và các trạng thái ổn định khác cho hệ thống  
điện phân phối hình tia thay thế cho phương pháp  
truyền thống nhằm giảm thời gian tính toán.  
3.1. Phương pháp Backward/Forward  
Phân bố công suất trong lưới điện phân phối được  
tính toán bằng các phương trình đệ quy đơn giản  
hóa có nguồn gốc từ đồ thị đơn tuyến, Hình 1.  
Phân bố công suất được sử dụng để thu được các  
giá trị điện áp, tổn thất công suất trong hệ thống  
với hàm mục tiêu là tìm dòng công suất trên các  
nhánh.  
P P PLoss,k P  
k1  
k
Lk1  
(1)  
(2)  
Qk1 Qk QLoss,k QLk1  
Trong đó:  
Pk là dòng công suất tác dụng chạy ra khỏi nút;  
Qk là dòng công suất phản kháng chạy ra khỏi nút;  
PLk+1 là công suất tác dụng của tải tại nút k+1;  
QLk+1 là công suất phản kháng của tải tại nút k+1.  
Hình 1. Sơ đồ đơn tuyến  
P2 Qk2  
Vk2  
k
P
Loss (k,k1) Rk  
(3)  
(4)  
P2 Qk2  
k
QLoss (k,k1) Xk  
Vk2  
Trong đó: Ploss (k, k+1) là tổn thất công suất tác  
dụng trên đường dây kết nối giữa k và (k+1);  
2
P2 Qk2  
Qloss(k, k+1) là tổn thất công suất phản kháng trên  
đường dây kết nối giữa k và (k+1).  
Tổng tổn thất công suất của nguồn PT, loss có thể  
được xác định bằng tổng tổn thất trên tất cả các  
P P' Rk  
k
k
k1  
Vk2  
(7)  
P2 Qk2  
Qk Qk' 1 Xk  
k
Vk2  
(8)  
(9)  
đường dây và được tính như sau:  
P' P P  
n
k1  
Lk1  
k1  
P
(k,k1)   
PLoss (k,k1)  
k1  
T ,Loss  
(5)  
(6)  
Q' Qk1 QLk1  
n
k1  
(10)  
QT ,Loss (k,k1)   
QLoss (k,k1)  
k1  
Bắt đầu  
Với PT,loss (k,k+1), QT,loss (k, k+1) là tổn thất công suất  
tác dụng và phản kháng trên đường dây.  
Đọc dữ liệu đường dây và tải  
Chúng ta xem xét trong một lưới điện hình tia,  
phương pháp Backward/Forward tính toán dòng  
công suất là một phương pháp lặp, ở đây mỗi lần  
lặp được tính toán là dòng công suất của một mạng  
điện chỉ có một nguồn có thể được giải quyết bằng  
phương pháp lặp từ hai phương trình đệ quy:  
- Phương pháp Forward về cơ bản là tính sụt  
áp với dòng điện hoặc dòng công suất cập nhật.  
Điện áp nút được cập nhật trong Forward bắt đầu  
từ nút gốc đến nút cuối cùng. Mục đích của  
Forward là điện áp tại mỗi nút bắt đầu từ nút gốc  
với điện áp các nút phụ được đặt giá trị thực tế.  
Trong suốt Forward giá trị kết quả công suất trong  
mỗi nhánh đạt được từ Backward thì được giữ  
nguyên.  
- Phương pháp Backward về cơ bản là tính  
dòng điện hoặc dòng công suất với điện áp được  
cập nhật. Nó bắt đầu từ nhánh ở lớp cuối cùng và  
di chuyển hướng về nhánh kết nối với nút gốc. Kết  
quả các dòng công suất được cập nhật trong mỗi  
nhánh đạt được trong tính toán Backward bằng  
cách xem xét điện áp nút của phương pháp lặp  
trước đó. Có nghĩa là giá trị điện áp đạt được trong  
Forward thì được giữ nguyên trong suốt Backward  
và các dòng công suất được cập nhật trong mỗi  
nhánh trong suốt Backward. Điều này cho thấy  
Backward bắt đầu từ nút cuối cùng hướng về nút  
gốc.  
Đặt điện áp tại tất cả các nút là 1 pu  
Tính toán dòng công suất P và Q cho tất cả các  
nhánh sử dụng phương pháp Backward  
Cập nhật điện áp và góc pha sử dụng  
phương pháp Forward  
Dòng tải hội tụ?  
Tính toán tổn thất công suất nhánh, tổng tổn thất  
công suất và in kết quả  
Kết thúc  
Hình 1. Sơ đồ nguyên lí Backward/Forward  
Trong đó: PLk+1 và QLk+1là tải, được kết nối tại nút  
k+1, Pk+1 và Qk+1 là công suất tác dụng và phản  
kháng từ nút k+1; Điện áp và góc pha tại mỗi nút  
được tính toán trong Forward. Xem xét điện áp  
Vk<δk tại nút k và Vk+1<δk+1 tại nút k+1, sau đó  
dòng điện qua nhánh có trở kháng zk = rk+xk kết  
nối giữa k và k+1 được thể hiện:  
Vk  k Vk1  k1  
Ik   
Rk jXk  
(11)  
Độ lớn và góc pha của các phương trình có thể  
được sử dụng phương pháp đệ quy trong Forward  
để tìm điện áp và góc pha tương ứng trong tất cả  
các nút trong hệ thống phân phối hình tia. Ban đầu,  
tất cả các nút giả thiết cho bằng 1pu. Công suất  
các nhánh được tính toán lặp với điện áp đã được  
cập nhật tại mỗi nút. Trong phương pháp dòng tải  
đã được đề xuất, công suất được tính toán trong  
Backward, điện áp được tính toán trong Forward.  
Hình 2 thể hiện chi tiết hoạt động tính phân bố  
công suất sử dụng thuật toán Backward/Forward.  
cấu trúc lưới được thực hiện như sau:  
Bằng cách so sánh điên áp đạt được trong các  
vòng lặp trước đó và hiện tại. Hội tụ có thể đạt  
được nếu chênh lệch điện áp thấp hơn dung sai  
0.0001. Backward/Forward được dựng lại theo  
một cách thích hợp độ hội tụ của phương pháp lặp.  
Hình 1, một nhánh kết nối giữa k và k+1. Công  
suất tác dụng (Pk) và phản kháng (Qk) đi qua nhánh  
từ nút k đến nút (k+1) được tính toán Backward từ  
nút cuối:  
Bước 1: Nhập các thông số lưới điện (tổng trở  
đường dây, thông số phụ tải, DG, các khóa điện)  
Bước 2: Thiết lập các thông số của PSO như số cá  
thể N, các hệ số C1, C2. Quần thể các cá thể được  
3
lựa chọn bằng các khóa điện mở.  
X particle = {S1, S2, …Sβ}  
Trong đó, β là số khóa điện mở trong lưới điện.  
Bước 3. Giải bài toán phân bố công suất bằng  
phương pháp Newton-Raphson.  
Bước 4. Khởi tạo ngẫu nhiên quần thể ban đầu với  
vị trí và vận tốc ngẫu nhiên trong không gian tìm  
kiếm (các cấu hình lưới có thể có). Thiết lập số  
vòng lặp Itr = 0.  
Bước 5. Với mỗi cá thể, nếu điện áp các nút nằm  
trong giới hạn cho phép, tính toán tổn thất công  
suất bằng bài toán phân bố công suất.  
Bước 6. Tính toán các giá trị Pbest và Gbest  
Bước 7. Cập nhật vận tốc và vị trí của cá thể theo  
biểu thức vận tốc và vị trí của các cá thể bằng  
(3.17) và (3.18). Vận tốc của các khóa mở thể hiện  
sự di chuyển của các khóa mở.  
trên nhánh thứ i, Ploss: tổn thất công suất tác dụng  
của hệ thống, ki: trạng thái của của các khóa điện,  
nếu ki = 0, khóa điện thứ i mở và ngược lại.  
Điều kiện ràng buộc: Phương pháp đề xuất  
được thực hiện: xác định các vị trí khóa mở, vị trí,  
dung lượng để tổn thất công suất là bé nhất. Giới  
hạn công suất phát của DG:  
PDGi,min ≤ PDG,i ≤ PDGi,max, với i = 1, 2, … , NDG(13)  
Trong đó PDGi,min và PDGi,max lần lượt là  
giới hạn công suất nhỏ nhất và lớn nhất của DG  
thứ i, PDG,i là công suất phát của DG thứ i, NDG  
là số lượng DG kết nối trên lưới điện phân phối.  
Giới hạn dòng điện trên các nhánh và điện áp các  
nút:  
(12)  
| |  
Ii ≤ Ii,max, với i = 1, 2, … , Nbus  
(14)  
| |  
≤ V ≤ Vi,max, với i = 1, 2, … , Nbus (15)  
V
i,min  
i
Trong đó, Nbus là số nút trong LĐPP, Ii,max là  
Bước 8: Lặp lại bước 3 cho đến khi thỏa mãn điều  
kiện ngừng lặp  
Bước 9: Xuất kết quả  
giới hạn dòng điện trên nhánh thứ i,Vi,min và  
Vi,max lần lượt là giới hạn điện áp nút nhỏ nhất  
và lớn nhất cho phép.  
Bước 10: Kết thúc  
3.2. Tối ưu vị trí và dung lượng DG bằng giải  
thuật PSO  
Xét lưới điện đơn giản như Hình 3. Với 3 vị trí  
có lắp DG cho phép không làm mất tính tổng quát  
khi mô tả tất cả các trường hợp vị trí khóa mở và  
vị trí DG. Ở đây, cần phải:  
- Tối ưu cấu trúc vận hành lưới điện sử dụng các  
thuật toán tối ưu sao cho tổn thất công suất trên hệ  
thống là bé nhất;  
- Tối ưu vị trí và công suất các nguồn phân tán  
trên lưới điện sử dụng các thuật toán tối ưu sao  
cho tổn thất công suất bé nhất.  
Hình 3. LĐPP hở có 3 nguồn DG  
Hàm mục tiêu: Tổn thất công suất của hệ  
Hình 4.Lưu đồ giải thuật PSO  
thống bằng tổng tổn thất trên các nhánh.  
4. KIỂM CHỨNG GIẢI THUẬT  
P2i +Q2i  
Vi2  
Nbr  
i=1  
Nnr  
i=1  
Nbr kiRi  
∑
∑
| |2  
∑
Hệ thống phân phối 33 nút, bao gồm 37  
nhánh, 32 khóa điện thường đóng và 5 khóa điện  
thường mở. Sơ đồ đơn tuyến được trình bày trong  
Hình 5. Tổng công suất thực của tải và công suất  
phản kháng của hệ thống tương ứng là 3.72MW  
và 2.3 MVAR. Tổng tổn thất công suất thực và  
Ploss  
=
ki∆P =  
ki. Ri. Ii  
=
i
i=1  
(12)  
Trong đó, ΔPi: tổn thất công suất tác dụng trên  
nhánh thứ i, Nbr: tổng số nhánh, Pi, Qi: công suất  
tác dụng và công suất phản kháng trên nhánh thứ  
i, Vi, Ii: điện áp nút kết nối của nhánh và dòng điện  
4
công suất phản kháng đối với các trường hợp ban  
đầu tính từ phân bố công suất tương ứng là 202.68  
kW và 135.14 kVAr.  
0.536  
7,  
0.615  
8,  
0.531  
5
P∑=1  
.68  
0.8234  
,
0.8968  
,
1.4381  
,
0.9646  
P∑=3.  
299  
0.5258,  
1.1047 0.5586,  
0.5840  
1.1074 P∑=1.6  
PDG(M  
W)  
1
,
1
2
19  
3
20  
8
23  
23  
2
18  
P∑=3.  
036  
684  
19  
7
22  
21  
24  
24  
3
20  
25  
4
21  
4
33  
37  
7, 14,  
11,  
32,  
5
29  
22  
28  
33, 34,  
11, 30, 10, 32,  
28  
7, 14,  
33, 34,  
11, 31,  
28  
7
5
Khóa  
mở  
29  
29  
26  
6
8
27  
6
27  
35  
25  
30  
26  
28  
10  
9
30  
11  
28  
9
10  
31  
31  
11  
34  
12  
15  
ΔP  
53.56  
73.05  
67.11 53.21  
32  
32  
15  
16  
16  
(kW)  
Umin  
(p.u.)  
12  
13  
33  
14  
14  
18  
17  
0.971  
0.9806  
3
13  
36  
0.9685 0.9700  
17  
Hình 5. Lưới điện 33 nút, một nguồn  
Bảng 1. Kết quả thực hiện hai giai đoạn trên  
LĐPP 33 nút  
Kết quả so sánh với một số phương pháp được  
trình bày trong Bảng 3. Kết quả cho thấy, ở thành  
phần tổn thất công suất, phương pháp đề xuất có  
cấu trúc lưới tối ưu với tổn thất công suất 53.56  
kW so với 73.05 kW khi thực hiện bằng thuật toán  
tìm kiếm hài hòa (harmony search algorithm-  
HSA) và 67.11 kW với thuật toán pháo hoa  
(fireworks algorithm-FWA). Trong khi, điện áp  
nhỏ nhất tại các nút trong hệ thống là gần như  
tương tự nhau với điện áp nhỏ nhất trên hệ thông  
được thực hiện bằng phương pháp đề nghị, HSA  
và FWA lần lượt là 0.9685, 0.9700 và 0.9713 p.u.  
Đối với thuật toán CSA, tổn thất công suất thu  
được của phương pháp đề nghị gần bằng với  
phương pháp CSA với tổn thất công suất của hai  
phương pháp lần lượt là 53.56 kW và 53.21 kW.  
Điện áp nút nhỏ nhất từ phương pháp đề xuất là  
0.9685 p.u. so với 0.9806pu. trong phương pháp  
CSA. Từ kết quả so sánh với một số giải thuật tối  
ưu mới được phát triển như HSA, FWAvà CSAcó  
thể thấy rằng phương pháp đề nghị thực hiện tối  
ưu vị trí và công suất DG kết hợp với xác định cấu  
trúc vận hành LĐPP bằng phương pháp PSO có  
kết hợp tính phân bố công suất Back – Forward là  
một phương pháp khả thi để thực hiện tối ưu LĐPP  
liên quan đến DG và cấu trúc vận hành lưới điện  
phân phối.  
LĐPP ban  
Phương pháp  
đề xuất  
đầu  
-
Vị trí DG (nút)  
PDG (MW)  
32, 8, 25  
0.8234, 1.1047,  
1.1073  
-
Khóa mở  
33, 34, 35,  
36, 37  
202.68  
0.9108  
1
33, 34, 11, 30,  
28  
Tổn thất (kW)  
Umin(pu)  
53.4274  
0.9685  
Umax (pu)  
1
Thời gian tính toán  
trung bình (s)  
52,5  
-
Hình 6. Độ hội tụ của PSO trong quá trình thực  
hiện  
Bảng 3.So sánh kết quả thực hiện với các phương  
pháp trên LĐPP 33 nút  
Phươn  
g pháp  
đề xuất  
5. Kết luận  
Phương  
pháp  
HSA  
[13]  
FWA  
[14]  
CSA  
[15]  
Bài báo này tiếp cận bài toán xác định vị trí  
và công suất máy phát điện phân tán trên lưới điện  
phân phối có xét đến cấu trúc vận hành lưới  
điện vớimụctiêu là giảm tổn thất công suất tác  
dụng trên hệ thống phân phối. Giải pháp xác  
Vị trí  
DG  
(nút)  
32, 8,  
25  
32, 31,  
33  
32,  
29, 18  
18, 25,  
7
5
định vị trí và công suất máy phát điện phân tán tối  
ưu và xác định cấu trúc vận hành được thực hiện  
riêng rẽ bằng hai giai đoạn sử dụng thuật toán PSO  
kết hợp với tính phân bố công suất bằng phương  
pháp Back - Forward. Từ kết quả của việc áp dụng  
thử nghiệm phương pháp vào hệ thống mạng 33  
nút. Ưu điểm của phương pháp thực hiện là đơn  
giản, rút ngắn thời gian thực hiện so với các giải  
thuật khác. Kết qua thực hiện so sánh với một số  
nghiên cứu cho thấy sự phù hợp của phương pháp  
đề xuất.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Merlin A. and Back H , "Search for a Minimal-Loss Operating Spaning Tree Configuration in Urban  
Power Distribution Systems", Proc. Of. 5th Power System Comp. Con., Cambridge, U.K., Sept. 1-5,  
1975.  
[2]. Civanlar, S., J. J. Grainger, Y. Yin and S. S. Lee, “Distribution Feeder Reconfiguration for Loss  
Reduction”, IEEE Transactions on Power Delivery, 3-3, July 1988, pp. 1217-1223.  
[3]. A. Ameli, B. Shahab, K. Farid, and H. Mahmood-Reza, “A Multiobjective Particle Swarm  
Optimization for Sizing and Placement of DGs from DG Owner’s and Distribution Company’s  
Viewpoints,” IEEE Trans. POWER Deliv., vol. 29, no 4, pp. 1831-1840, 2014.  
[4]. D. Shirmohammadi and H. W. Hong, “Reconfiguration of electric distribution networks for resistive  
line losses reduction,” IEEE Trans. Power Deliv., vol. 4, no. 2, pp. 1492–1498, 1989.  
[5] Ameli A, Shahab B, Farid K, Mahmood-Reza H. A multiobjective particle swarm optimization for  
sizing and placement of DGs from DG Owner’s and distribution company’s viewpoints. IEEE Trans  
Power Deliv 2014;29 (4):1831–40.  
[6]. Trương Quang Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Bình, Hồng Bảo Trântrường Đại học Bách Khoa TP.  
HCM đã nghiên cứu đề tài “Xác định dung lượng vàvị trí của máy phát phân bố (DG) tối ưu tổn thất  
lưới phân phối”, tạp chí Phát triển khoa học công nghệ, tập 10, 2007.  
[7] Lê Kim Hùng, Lê Thái Thanh “Tối ưu hóa vị trí đặt và công suất phát của nguồn phân tán trên mô  
hình lưới điện phân phối 22kV” - tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng - số 2(25).2008  
[8]. R. S. Rao, K. Ravindra, K. Satish, and S. V. L. Narasimham, “Power Loss Minimization in  
Distribution System Using Network Reconfiguration in the Presence of Distributed Generation,” IEEE  
Trans. Power Syst., vol. 28, no. 1, pp. 1–9, 2013.  
[9]. A. Mohamed Imran, M. Kowsalya, and D. P. Kothari, “A novel integration technique for optimal  
network reconfiguration and distributed generation placement in power distribution networks,” Int. J.  
Electr. Power Energy Syst., vol. 63, pp. 461–472, 2014.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Lê Văn Vũ  
Đơn vị: Sở Công Thương tỉnh Bến Tre  
Điện thoại: 0911 298 007  
Email: vbtnl06@gmail.com  
6
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 20180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định vị trí và dung lượng máy phát phân tán để tổn thất công suất là nhỏ nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_dinh_vi_tri_va_dung_luong_may_phat_phan_tan_de_ton_that.pdf