Luận án Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu khu vực miền Trung Việt Nam

HỌC VIỆN NÔ NG NGHIỆP VIỆT NAM  
NGUYỄN GIA KIÊM  
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY LIÊN KẾT  
TRONG PHÁT TRIỂN RỪNG GỖ NGUYÊN LIỆU  
KHU VỰC MIỀN TRUNG VIỆT NAM  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ  
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔ NG NGHIỆP - 2021  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
NGUYỄN GIA KIÊM  
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY LIÊN KẾT  
TRONG PHÁT TRIỂN RỪNG GỖ NGUYÊN LIỆU  
KHU VỰC MIỀN TRUNG VIỆT NAM  
Ngành  
: Kinh tế Nông nghiệp  
Mã số  
: 9 62 01 15  
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Lê Trọng Hùng  
2. TS. Hoàng Liên Sơn  
HÀ NỘI – 2021  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên  
cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ  
lấy bất kỳ học vị nào.  
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn,  
các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2021  
Tác giả luận án  
Nguyễn Gia Kiêm  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự  
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng  
nghiệp và gia đình.  
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu  
sắc đến thầy PGS.TS. Lê Trọng Hùng và TS. Hoàng Liên Sơn đã tận tình hướng dẫn, dành  
nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện  
đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ  
môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn - Học viện Nông nghiệp  
Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành  
luận án.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Nghiên cứu  
Kinh tế Lâm nghiệp – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện  
cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,  
Chi cục Kiểm lâm và các sở, ban ngành của tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam và Bình Định.  
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo các Hạt Kiểm lâm, các xã thuộc huyện thị, người dân và  
các doanh nghiệp sản xuất, chế biến lâm sản ở tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam và Bình Định  
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra khảo sát thực địa và nghiên cứu  
đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều  
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./.  
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2021  
Nghiên cứu sinh  
Nguyễn Gia Kiêm  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
CCR  
Nghĩa tiếng Việt  
Chứng chỉ rừng  
ĐLN  
Đất lâm nghiệp  
DN  
Doanh nghiệp  
EU  
Liên minh châu Âu  
FSC  
Hội đồng Quản lý rừng (Forest Stewardship Council)  
GNL  
Gỗ nguyên liệu  
HGĐ  
Hộ gia đình  
HQKT  
HTX  
Hiệu quả minh tế  
Hợp tác xã  
LK  
Liên kết  
NN&PTNT  
QLRBV  
SPSS  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Quản lý rừng bền vững  
Phần mềm thống kê SPSS (Statistical Package for the Social  
Sciences)  
SWOT  
Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức (Strengths –  
Weaknesses – Oppotunities – Threats)  
Sản xuất kinh doanh  
SXKD  
TNHH  
Trách nhiệm hữu hạn  
Tr.đ  
Triệu đồng  
VPA/FLEGT  
Hiệp định đối tác tự nguyện về Thực thi lâm luật, quản trị rừng và  
thương mại lâm sản (Forest Law Enforcement, Governance and  
Trade)  
WB3  
Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp  
Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên  
WWF  
vi  
 
DANH MỤC BẢNG  
TT  
Tên bảng  
Trang  
vii  
 
viii  
DANH MỤC SƠ ĐỒ  
Tên sơ đồ  
TT  
Trang  
DANH MỤC HÌNH  
TT  
Tên hình  
Trang  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ  
TT  
Tên biểu đồ  
Trang  
x
     
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN  
Tên tác giả: Nguyễn Gia Kiêm  
Tên Luận án: “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên  
liệu khu vực miền Trung Việt Nam”  
Ngành: Kinh tế Nông nghiệp  
Mã số: 9.62.01.15  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu hướng tới: (i) Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết trong  
phát triển rừng gỗ nguyên liệu; (ii) Đánh giá thực trạng liên kết trong phát triển rừng gỗ  
nguyên liệu tại khu vực miền Trung Việt Nam; (iii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến  
liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu tại khu vực miền Trung Việt Nam; (iv) Đề  
xuất giải pháp thúc đẩy liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu, góp phần nâng cao  
hiệu quả sản xuất lâm nghiệp khu vực miền Trung Việt Nam.  
Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu thu thập số liệu tại 03 tỉnh khu vực miền Trung, bao gồm: tỉnh Bình  
Định, tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Trị; điều tra khảo sát 222 hộ gia đình trồng rừng  
có tham gia liên kết, 02 doanh nghiệp chế biến lâm sản tham gia liên kết phát triển rừng  
gỗ nguyên liệu (GNL) với hộ gia đình trồng rừng trong giai đoạn 2016-2017; tổng hợp  
và phân tích số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2014-2019; Nghiên cứu sử dụng các phương  
pháp tham vấn hộ gia đình trồng rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản tham gia liên  
kết, cán bộ địa phương hỗ trợ phát triển liên kết. Nghiên cứu kết hợp sử dụng các  
phương pháp phân tích bao gồm: thống kê mô tả, thống kê so sánh, phân tích ma trận  
SWOT, phân tích tài chính, phân tích nhân tố khám phá và phương pháp cho điểm để  
phân tích các mô hình liên kết và đề xuất giải pháp thúc đẩy liên kết trong phát triển  
rừng gỗ nguyên liệu khu vực miền Trung Việt Nam.  
Kết quả chính và kết luận  
Đề tài khảo sát thực trạng của 03 mô hình liên kết có tính đại diện cho các hình  
thức liên kết trong khu vực, bao gồm: (1) Liên kết ngang; (2) Liên kết dọc; (3) Liên kết  
hỗn hợp. Rừng trồng liên kết của cả 03 mô hình đã đạt tiêu chuẩn Quản lý rừng bền  
vững (QLRBV); rừng trồng liên kết theo 03 chu kỳ từ 6 năm, 7 năm và 10 năm có hiệu  
quả kinh tế và khả năng sinh lợi nhuận trên vốn đầu tư cao từ NPV>22 triệu  
đồng/ha/chu kỳ 6 năm đến NPV>109 triệu đồng/ha/chu kỳ 10 năm, BCR>1,49 lần,  
IRR>21,6%, AEV> 4,27 triệu đồng/ha/năm. Mô hình liên kết dọc và liên kết hỗn hợp  
có đơn vị liên kết là doanh nghiệp chế biến lâm sản cam kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm  
gỗ nguyên liệu với mức giá tiêu thụ cao hơn từ 10%-18% so với giá thị trường của GNL  
xi  
 
có cùng quy cách nhưng không có chứng chỉ Quản lý rừng bền vững; chênh lệch lợi  
nhuận giữa rừng liên kết có chứng chỉ Quản lý rừng bền vững với rừng không liên kết  
không có chứng chỉ Quản lý rừng bền vững đạt 29,494 triệu đồng/ha/chu kỳ 10 năm.  
Liên kết ngang được hình thành với sự hỗ trợ của dự án WB3. Sự sẵn sàng tham  
gia liên kết của hộ gia đình (HGĐ) chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố; trong đó, yếu tố  
Hiệu quả kinh tế tác động 31,54%, yếu tố Hỗ trợ từ tổ chức bên ngoài tác động 20,64%,  
yếu tố thị trường sản phẩm tác động 19,17%, yếu tố về Chính sách nhà nước tác động  
10,78%, yếu tố Tác động của chính quyền địa phương đóng góp 10,35% và yếu tố về  
Cơ chế liên kết tác động 7,52% đến quyết định sẵn sàng tham gia liên kết của HGĐ.  
Liên kết có nền tảng lớn về diện tích rừng và số lượng HGĐ tham gia, tuy nhiên mức độ  
bền vững và phát triển của liên kết còn rất thấp vì lý do: các nhóm hộ chưa kết nối thành  
một khối tổ chức vững mạnh, không duy trì được số lượng thành viên, chưa xây dựng  
được nguồn quỹ duy trì hoạt động nhóm và kinh phí tham gia cấp chứng chỉ QLRBV  
cho các chu kỳ trồng rừng tiếp theo, và luôn phụ thuộc sự hỗ trợ của tổ chức bên ngoài;  
bên cạnh đó, gỗ nguyên liệu có chứng chỉ QLRBV của các nhóm hộ chưa được đảm bảo  
có nơi tiêu thụ ổn định, giá bán bấp bênh. Mô hình liên kết không bền vững.  
Liên kết dọc chịu ảnh hưởng lớn bởi yếu tố Đặc điểm hộ tham gia liên kết với sự  
tác động 30,47% và yếu tố Tăng thu nhập tác động 25,04% đến sự sẵn sàng tham gia  
liên kết của các bên. Liên kết có khả năng duy trì và phát triển trong tương lai bởi tiềm  
lực kinh tế của công ty chế biến lâm sản lớn, có thể duy trì hoạt động trồng rừng có  
chứng chỉ Quản lý rừng bền vững.  
Liên kết hỗn hợp chịu ảnh hưởng lớn bởi yếu tố Thị trường tiêu thụ sản phẩm và  
yếu tố Hỗ trợ từ tổ chức bên ngoài, từ đơn vị liên kết. Liên kết là một điển hình tiên tiến  
trong liên kết phát triển rừng GNL có chất lượng tốt; liên kết có tiềm năng phát triển lớn  
trong tương lai nhờ sự tham gia và tuân thủ tốt của các bên liên kết, duy trì được số  
lượng thành viên tham gia, đa dạng nguồn tài chính cho liên kết, sự vào cuộc của chính  
quyền địa phương đã thúc đẩy liên kết và liên kết có khả năng tự xây dựng quỹ hoạt  
động rất lớn của nhóm hộ và hình thành Hội Các nhóm hộ có chứng chỉ rừng cấp tỉnh.  
Để thúc đẩy liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu khu vực miền Trung  
Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ 05 nhóm giải pháp sau: (1) Khuyến khích phát triển  
liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm gỗ có chứng chỉ Quản lý rừng bền vững; (2) Nâng  
cao năng lực tự vận hành liên kết và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia liên  
kết; (3) Đổi mới chiến lược kinh doanh rừng gỗ nguyên liệu; (4) Nâng cao hiệu lực,  
hiệu quả và vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển liên kết trồng rừng có  
chứng chỉ Quản lý rừng bền vững; (5) Khuyến nghị chính sách thúc đẩy phát triển liên  
kết trong kinh doanh rừng gỗ nguyên liệu.  
xii  
THESIS ABSTRACT  
PhD candidate: Nguyen Gia Kiem  
Thesis title: “Research on solutions to promote linkages in the development of material  
wood forests in the Central region of Vietnam”  
Major: Agriculture Economics  
Code: 9.62.01.15  
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)  
Research Objectives  
The thesis aims to: (i) Explain the theoretical and practical basis of the linkages in  
the development of material wood forests; (ii) Assess the current status of linkages in  
the development of material wood forests in the Central region of Vietnam; (iii)  
Analyze the factors affecting the linkages in the development of material wood forests;  
(iv) Propose solutions to promote linkages in the development of material wood forests,  
contribute to improving the efficiency of forestry production in the Central region of  
Vietnam.  
Materials and Methods  
The thesis collected data in 03 provinces in the Central region, including: Binh  
Dinh, Quang Nam and Quang Tri province; Surveyed 222 plantation households  
participating in the linkage, 02 forest product processing enterprises participating in the  
development of material timber forests with households in the 2016-2017 period;  
synthesizing and analyzing secondary data in the period 2014-2019; The thesis used  
consultation method with forest planting households and processing enterprises  
participating in the linkage and local officials encouraging linkage development. The  
thesis used analytical methods including: descriptive statistics, comparative statistics,  
SWOT matrix analysis, financial analysis, factor analysis and scoring method to analyze  
linkage models and propose solutions to promote linkage in the development of material  
wood forests in the Central region of Vietnam.  
Main findings and conclusions  
The thesis investigated the current status of three linkage models that are  
representative of all forms of linkage in the region, including: (1) Horizontal linkage;  
(2) Vertical linkage; (3) Mixed linkage. The linked plantation forests of all three models  
have met the standards of sustainable forest management; linked plantation forest in  
three cycles from 6 years, 7 years and 10 years with high economic efficiency and  
profitability on investment from NPV>22 million VND/ha/cycle of 6 years to NPV>109  
million VND/ha/10-year cycle, BCR>1.49 times, IRR>21.6%, AEV>4.27 million  
VND/ha/year. The vertical and mixed linkage model had forest product processing  
enterprises committed to purchase all material wood with a 10% -18% higher  
consumption price compared with material timber of the same specification but without  
certification of sustainable forest management (Sustainable forest management  
certification); The profit gap between the Sustainable forest management certified  
xiii  
 
linked forest and the non- Sustainable forest management certified unlinked forest is  
29,494 million VND / ha / 10 year cycle.  
Horizontal linkage was established with the support of the WB3 project.  
Household's willingness to join the linkage was affected by many factors; of which,  
factors of economic efficiency constituted 31.54% of the HH’s decision, factors of  
external organizations’ supports constituted 20.64%, factors of product market  
constituted for 19.17%, factors of policy constituted for 10.78%, local government's  
impact factor constituted 10.35% and the linking mechanism factor constituted 7.52%  
of households' willingness. The linkage has a great foundation in terms of forest area  
and number of households involved, but the sustainability and development of the  
linkage is still very low due to some reasons: household groups are not a strong  
organizational unit, unable to maintain the number of members, no funds to maintain  
group activities and participating in Sustainable forest management certification for the  
next plantation cycle, and always depend on support from outside organizations;  
Besides, material wood with sustainable forest management certificates of household  
groups is not guaranteed to have a stable consumption and stable selling price. The  
linkage model is not sustainable.  
Vertical linkage was strongly influenced by the factor of The characteristics of  
participating households with the impact of 30.47% and the factor “Increasing income”  
accounted for 25.04% of the willingness of parties to participate in the association. The  
linkage is able to maintain and develop in the future because of the economic potential of  
a large processing company which is able to maintain Sustainable forest management  
certified forest plantation.  
The mixed linkage is strongly influenced by these factors: the consumer market of  
the product and the support from external organizations, linkage partners. The linkage  
model is an advanced point in linking development of good quality material forest; The  
linkage has great potential for growth in the future thanks to the participation and good  
compliance of the participants, the maintenance of the number of participants, the  
diversity of financial sources for the linkage operation, the involvement of local  
authorities in promoting linkages and linkages and the Association of Provincial Forest  
Certifications has a great ability to self-build funds for linkage’s activities.  
In order to promote linkages in the development of material forests, it is necessary  
to synchronously implement these five groups of solutions: (1) Encourage the  
development of linkage along the value chain of timber products with sustainable forest  
management certification; (2) Improving self-management capacity of the linkage and  
encourage all economic sectors to participate in the linkaget; (3) Innovating the strategy  
of trading material timber forests; (4) Improve the effectiveness, efficiency and role of  
local authorities in the development of linkage for forest plantation with sustainable  
forest management certification; (5) Policy recommendations to promote development  
of linkages in material timber forest trading.  
xiv  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Theo Quyết định 1423/QĐ/BNN-TCLN ngày 15 tháng 4 năm 2020 về công  
bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2019, nước ta có khoảng 14,609 triệu ha.  
Trong đó, diện tích rừng trồng là 4,317 triệu ha được giao quản lý và sử dụng cho  
09 nhóm chủ thể, gồm các tổ chức và hộ gia đình. Chỉ tính riêng cho các hộ gia  
đình (HGĐ), diện tích rừng trồng là 1,594 triệu ha, được quản lý bởi 1,4 triệu hộ  
(Tek & cs., 2017), bình quân mỗi HGĐ có khoảng 1,1 ha rừng trồng, nhưng có  
đến trên trên 60% số HGĐ có diện tích nhỏ hơn 1 ha (Hoàng Liên Sơn & Vũ  
Duy Hưng, 2018). Tuy vậy, năng lực sản xuất gỗ nguyên liệu của các hộ gia đình  
rất lớn, (đạt khoảng 10 triệu m3 gỗ/năm) chiếm khoảng 50% tổng sản lượng gỗ  
rừng trồng khai thác hàng năm. Theo Điều 27, Luật Lâm nghiệp 2017, các chủ  
thể là HGĐ được khuyến khích xây dựng phương án Quản lý rừng bền vững  
(QLRBV) trên diện tích đất lâm nghiệp trồng rừng gỗ nguyên liệu được giao.  
Tuy nhiên, với sự tham gia đông đảo và sự nhỏ lẻ về diện tích rừng trồng của các  
HGĐ, các giải pháp chính sách khuyến khích thực hiện QLRBV đối với HGĐ là  
rất khó khả thi. Do đó, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tham gia chuỗi giá trị gỗ  
và sản phẩm gỗ có giá trị gia tăng cao với sự đòi hỏi nghiêm túc về QLRBV và  
chứng chỉ rừng. Kinh doanh rừng trồng của HGĐ sẽ gặp phải nhiều rào cản kỹ  
thuật của thị trường và hiệu quả kinh tế không được cải thiện nếu các hộ không  
hợp tác liên kết mở rộng quy mô diện tích theo nhóm hộ trồng rừng có chứng chỉ  
Quản lý rừng bền vững (Hoàng Liên Sơn & Vũ Duy Hưng, 2018).  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, Việt Nam đã ký kết và thực hiện  
16 hiệp định thương mại tự do, trong đó Hiệp định đối tác tự nguyện về Thực thi  
lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (gọi tắt là Hiệp định VPA/FLEGT)  
chính thức đàm phán giữa Việt Nam và EU từ năm 2010 và có hiệu lực từ ngày  
01/06/2019. Đây là hiệp định thương mại có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý  
nhằm mục tiêu để đảm bảo tính hợp pháp của gỗ khi xuất khẩu sang thị trường  
EU, một thị trường khó tính về chất lượng, thúc đẩy Quản lý rừng bền vững,  
nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất lâm nghiệp, khuyến khích những  
chủ rừng nhỏ là các hộ gia đình thay đổi phương án và mục tiêu kinh doanh rừng  
trồng phục vụ chế biến xuất khẩu.  
1
   
Giá trị xuất khẩu lâm sản, chủ yếu là gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tăng  
trưởng liên tục cao trong suốt 2 thập kỷ qua. Chỉ tính riêng giai đoạn 2010 –  
2020, từ khoảng 3,64 tỷ USD năm 2010 đã tăng lên khoảng 12,05 tỷ USD năm  
2020 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2020), đã giúp cho hàng hóa lâm  
sản trở thành một trong ba trụ cột ngành hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam.  
Sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường 120 quốc gia và vùng  
lãnh thổ. Việt Nam trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản ở vị trí thứ 5 trên  
thế giới, thứ 2 châu Á, thứ nhất Đông Nam Á. Giá trị kim ngạch xuất khẩu lâm  
sản cần tiếp tục bứt phá để đạt khoảng 20 tỷ USD vào năm 2025. Do đó, chứng  
chỉ QLRBV ngày càng trở nên quan trọng để đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu có  
chất lượng, hợp pháp và có nguồn gốc từ những khu rừng được thực hiện  
QLRBV. Tuy vậy, tính đến tháng 02 năm 2019, tổng diện tích rừng của Việt  
Nam được cấp chứng chỉ là 209.239 ha (FSC, 2019); trong đó, rừng trồng là  
152.281 ha, đạt 7,7% mục tiêu của Chính phủ đặt ra. Đặc biệt, diện tích rừng  
trồng có chứng chỉ rừng của nhóm hộ gia đình khoảng 12.000 ha, chiếm 7,9%  
tổng diện tích rừng trồng đạt chứng chỉ rừng, so với diện tích rừng trồng gỗ  
nguyên liệu hiện có của hộ gia đình là rất nhỏ bé, chỉ chiếm 0,8%. Do đó, hoạt  
động sản xuất lâm nghiệp phải tăng cường liên kết giữa các tác nhân, bao gồm:  
liên kết giữa các chủ rừng để tạo quy mô diện tích lớn, liên kết theo chuỗi giá trị  
giữa chủ rừng với cơ sở chế biến, thương mại sản phẩm gỗ để hình thành những  
diện tích rừng đạt chứng chỉ QLRBV, khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của các  
bên, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới (Bộ Nông nghiệp và  
Phát triển Nông thôn, 2013).  
Khu vực miền Trung Việt Nam có diện tích rừng trồng gỗ nguyên liệu  
khoảng 1,728 triệu ha, chiếm 40,79% tổng diện tích rừng trồng cả nước (Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2019c). Loài cây trồng rừng sản xuất chủ lực của  
vùng là Keo lai và Keo Tai tượng, chiếm tỷ lệ trên 90% diện tích rừng gỗ nguyên  
liệu (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2014b). Từ thực tiễn sản xuất và  
tác động của chính sách phát triển rừng trồng gỗ nguyên liệu, trong khu vực đã  
hình thành một số liên kết trong kinh doanh rừng gỗ nguyên liệu giữa các HGĐ  
theo nhóm hộ trồng rừng đạt chứng chỉ QLRBV và liên kết theo chuỗi giá trị giữa  
các tác nhân từ khâu trồng rừng, đến khâu chế biến, thương mại sản phẩm gỗ. Các  
liên kết này đã nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của một số dự án (KFW2, WWF,  
WB3, v.v…) và kết quả đã hình thành nên các liên kết, như: Hội các nhóm hộ  
2
trồng rừng đạt chứng chỉ rừng QLRBV ở Quảng Trị có lịch sử phát triển lâu dài,  
với sự tham gia của nhiều bên, gồm HGĐ, hợp tác xã, doanh nghiệp. Quy mô diện  
tích tăng dần từ 300 ha năm 2008 đến trên 1.722,4 ha năm 2016, với sự tham gia  
của trên 500 hộ gia đình (Hội Các nhóm hộ có chứng chỉ rừng Quảng Trị, 2016).  
Ngoài ra, Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp (Dự án WB3) triển khai tại 06 tỉnh  
miền Trung trong giai đoạn 2005 – 2015 đã thành lập được 806 nhóm với 26.968  
hộ tham gia trồng 76.571 ha rừng, trong đó 1.052,5 ha rừng của 342 HGĐ đã được  
cấp chứng chỉ Quản lý rừng bền vững (Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp, 2015).  
Theo đánh giá bước đầu, rừng trồng gỗ nguyên liệu có chứng chỉ Quản lý rừng bền  
vững đáp ứng yêu cầu theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản lý rừng (FSC). Các  
nhóm hộ tham gia đã nâng cao hiệu quả kinh tế kinh doanh rừng trồng, từ đó góp  
phần vào công tác xóa đói giảm nghèo và có tích lũy để tái sản xuất đầu tư phát  
triển rừng trồng và kinh tế hộ theo hướng bền vững. Tuy nhiên, số lượng HGĐ và  
diện tích rừng tham gia liên kết còn rất nhỏ so với tiềm năng và nhu cầu tiêu dùng  
gỗ nguyên liệu có chứng chỉ QLRBV, các mối quan hệ hợp tác giữa các bên thiếu  
bền vững, trong đó liên kết nhóm hộ tại 06 tỉnh miền Trung dễ dàng tan vỡ khi dự  
án WB3 kết thúc. Mặt khác, các nghiên cứu đánh giá tổng kết về liên kết tại khu  
vực chưa thấu đáo về tính bền vững của liên kết, chưa lượng hóa được các yếu tố  
ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển và phá vỡ liên kết, chưa xây dựng được hệ  
thống giải pháp đồng bộ thúc đẩy phát triển liên kết trong kinh doanh rừng gỗ  
nguyên liệu của khu vực. Do đó, những câu hỏi được đặt ra trong nghiên cứu này  
là: (1) Có những hình thức và mô hình liên kết phát triển rừng gỗ nguyên liệu nào  
tại khu vực miền Trung Việt Nam?; (2) Các liên kết hiện nay tại khu vực miền  
Trung được triển khai thực hiện như thế nào, đã đạt được kết quả và lợi ích cho  
các tác nhân tham gia liên kết như thế nào?; (3) Yếu tố nào ảnh hưởng tới việc  
tham gia liên kết và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó ra sao?; (4) Giải pháp  
nào cần được thực hiện để thúc đẩy liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu  
tại khu vực miền Trung Việt Nam?.  
Vì vậy, thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy liên kết trong  
phát triển rừng gỗ nguyên liệu khu vực miền Trung Việt Nam” là hết sức cần  
thiết, nhằm cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp thúc đẩy liên  
kết trong kinh doanh rừng trồng gỗ nguyên liệu.  
3
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy liên kết trong phát triển  
rừng gỗ nguyên liệu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp khu vực miền  
Trung Việt Nam.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết trong phát triển rừng gỗ  
nguyên liệu.  
- Đánh giá thực trạng liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu tại khu  
vực miền Trung Việt Nam.  
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong phát triển rừng gỗ  
nguyên liệu tại khu vực miền Trung Việt Nam.  
- Đề xuất giải pháp thúc đẩy liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu,  
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp khu vực miền Trung Việt Nam.  
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về liên  
kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu. Các hình thức liên kết bao gồm, liên kết  
ngang tạo quy mô về sản lượng, hình thức liên kết dọc theo chuỗi giá trị ngành  
hàng gỗ rừng trồng và hình thức liên kết hỗn hợp.  
Đối tượng khảo sát của đề tài bao gồm: (i) Hộ gia đình trồng rừng liên kết;  
(ii) Doanh nghiệp chế biến lâm sản tham gia liên kết; (iii) Cán bộ chính quyền  
địa phương.  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
a. Nội dung nghiên cứu  
Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng liên kết  
trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu tại khu vực miền Trung Việt Nam, bao gồm  
liên kết giữa các hộ gia đình trồng rừng, doanh nghiệp trồng rừng và chế biến gỗ  
theo 03 mô hình liên kết cụ thể là (1) Mô hình liên kết ngang, (2) Mô hình liên  
kết dọc, và (3) Mô hình liên kết hỗn hợp. Do giới hạn về thời gian và nguồn lực  
nên đề tài tập trung nghiên cứu các mô hình liên kết trong phát triển rừng gỗ  
nguyên liệu có chứng chỉ Quản lý rừng bền vững.  
4
           
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 232 trang myanh 22680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy liên kết trong phát triển rừng gỗ nguyên liệu khu vực miền Trung Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_giai_phap_thuc_day_lien_ket_trong_phat_tr.pdf
  • pdfKTNN - TTLA - Nguyen Gia Kiem.pdf
  • pdfTTT - Nguyen gia Kiem.pdf