Bài giảng Quản trị kinh doanh cho kỹ sư - Chương 6: Quản lý sản xuất và vận hành

CHƢƠNG 6: QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ VẬN HÀNH  
Thời lƣợng: 6 tiết  
I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ VẬN HÀNH  
II. GIỚI THIỆU VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ VẬN HÀNH (POM)  
2.1 Sản xuất là quá trình chuyển hóa  
2.2 Một số lĩnh vực ra quyết định tác vụ trong quản lý sản xuất  
III. GIỚI THIỆU MỘT SỐ HỆ THỐNG SẢN XUẤT  
3.1 Sản xuất đơn chiếc  
3.2 Sản xuất theo lô  
3.3 Sản xuất khối lớn  
IV. MỘT SỐ DẠNG BỐ TRÍ MẶT BẰNG TRONG SẢN XUẤT  
4.1 Những ảnh hưởng của mặt bằng đến hoạt động sản xuất  
4.2 Các nhân tố phải cân nhắc khi lựa chọn cách bố trí mặt bằng  
4.3 Các kiểu bố trí măt bằng tiêu chuẩn  
V. KHÁI NIỆM VỀ HOẠCH ĐỊNH TỔNG HỢP  
Các giải pháp trong hoạch định tổng hợp:  
5.1 Thay đổi công nhân  
5.2 Thay đổi lượng tồn kho  
5.3 Dùng hợp đồng phụ  
5.4 Tăng giãn ca  
VI. QUẢN LÝ TỒN KHO  
6.1 Các loại hàng tồn kho  
6.2 Chức năng tồn kho  
6.3 Chi phí tồn kho  
6.4 Hệ thống kiểm soát tồn kho  
6.5 Mô hình tối ưu cơ bản EOQ  
6.6 Điểm tái đặt hàng  
VII. HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU  
I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ VẬN HÀNH  
Xét theo quan điểm kinh doanh, thì mục tiêu chính của doanh nghiệp sau cùng vẫn là lợi  
nhuận. Lợi nhuận có được thường thông qua sản phẩm và/hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp đưa  
ra thị trường. Giá trị lợi nhuận ở đây chính là giá trị gia tăng (hay giá trị chênh lệch) giữa giá  
trị sản phẩm và/hoặc dịch vụ sau cùng (output) với giá trị đầu vào (input) (yếu tố tham gia  
vào quá trình tạo ra giá trị gia tăng) và Quản lý sản xuất và vận hành chính là quản lý và tham  
gia quá trình tạo giá trị gia tăng cho doanh nghiệp (quá trình sản xuất).  
Bài toán đặt ra chính là hiệu quả của quá trình tạo giá trị gia tăng này, đây cũng là một trong  
những tiêu chuẩn đánh giá mức độ thành công của doanh nghiệp, và tạo lợi thế cạnh tranh  
của doanh nghiệp trên thương trường. Như vậy, nhiệm vụ của quản lý sản xuất và vận hành là  
làm cho quá trình tạo giá trị gia tăng có hiệu quả hơn. Để làm được điều này, người quản lý  
sản xuất phải tạo chủ động trong công việc bằng cách hoạch định trước kế hoạch cho tất cả  
các công việc tham gia vào quá trình sản xuất. Cụ thể, người quản lý sản xuất có thể tham gia  
vào một số quá trình hoạch định như sau:  
Quyết định cấp công ty:  
Hoạch định về năng lực sản xuất (công suất nhà máy – capacity planning)  
Hoạch định về mặt bằng nhà xưởng và bố trí trang thiết bị (facility planning and layout)  
Mở rộng đầu tư (công nghệ mới), phát triển sản phẩm mới,…  
Quyết định cấp phân xƣởng:  
Hoạch định tổng hợp khi nhu cầu thay đổi (aggregate planning)  
Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, kho bãi (material requirements planning)  
Điều độ tác nghiệp, tổ chức sản xuất (sắp xếp, phân công công việc, tận dụng nguồn lực sản  
xuất,…).  
II. GIỚI THIỆU VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ VẬN HÀNH (POM)  
2.1 Sản xuất là quá trình chuyển hóa:  
Sản xuất là một quá trình chuyển hóa đầu vào (chẳng hạn như nguyên liệu, lao động, máy  
móc, kỹ năng quản lý, vốn) thành đầu ra (hàng hóa hoặc dịch vụ).  
Quá trình chuyển hóa được gọi là có hiệu năng khi giá trị đầu ra lớn hơn giá trị đầu vào, và  
trong trường hợp này ta nói quá trình chuyển hóa tạo ra giá trị gia tăng.  
Trong đó:  
Yếu tố đầu vào có thể là: Nhà xưởng, máy móc thiết bị để gia công, lao động để vận hành và  
quản lý, vốn hoạt động, năng lượng cung cấp, nguyên vật liệu,…  
Yếu tố đầu ra có thể là: Bán thành phẩm cho những công ty hoặc phân xưởng khác, hoặc  
hàng hóa bán ra thị trường hoặc dịch vụ cung cấp.  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
1
Giaù trò gia taêng  
Phanû hoài  
Caùc yeáu toá  
ñaàu vaøo  
Ñaàu ra  
Con ngöôøi  
Quaù trình Xöû lyù vaø  
chuyeån hoùa  
Haøng hoùa  
Dòch vuï  
Vaät lieäu  
Thieát bò  
Voán  
Quaûn lyù  
Phaûn hoài  
Phaûn hoài  
Hình 7.1: Sản xuất là quá trình chuyển hóa  
Theo quan điểm của quản lý sản xuất thì hoạt động của doanh nghiệp bao gồm 3 chức năng  
chính và quản lý sản xuất đóng vai trò chính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.  
Doanh nghieäp  
Saûn xuaát/  
Dòch vuï  
Tieáp thò  
Taøi chính  
Hình 7.2: Các chức năng chính của một doanh nghiệp  
Tiếp thị đưa ra nhu cầu cho sản xuất,  
Bộ phận tài chính cung cấp tiền,  
Bộ phận sản xuất mới thật sự sản xuất ra sản phẩm hoặc trực tiếp phục vụ.  
Trong cách nhìn này, sản xuất sử dụng nhân lực nhiều nhất và nguồn đầu tư tài sản lớn nhất.  
Và như vậy, chúng ta thấy rằng quản lý sản xuất được xem như hạt nhân kỹ thuật  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
2
Thò tröôøng voán  
Taøi chính  
Saûn xuaát/  
Dòch vuï  
TIeáp thò  
Khaùch haøng  
Hình 7.3: Sản xuất là hạt nhân kỹ thuật của một tổ chức  
Tất cả các chức năng khác có mặt để hỗ trợ cho chức năng điều hành tác nghiệp-sản xuất  
Tiếp thị: nhận các dự báo về nhu cầu khách hàng cũng như thông tin phản hồi từ khách hàng.  
Tài chính: xem xét các vấn đề liên quan đến đầu tư tài chính, kinh phí, và những yêu cầu của  
cổ đông  
Nhân sự: các vấn đề liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, thuê mướn cũng như sa thải công  
nhân  
Cung tiêu: các vấn đề liên quan đến đặt hàng, mua vật tư và nguyên vật liệu cho sản xuất.  
2.2 Một số lĩnh vực ra quyết định tác vụ trong quản lý sản xuất:  
Chất lƣợng: Chất lượng sản phẩm và dịch vụ là mối quan tâm chính trong các quyết định về  
tác nghiệp ở nhiều doanh nghiệp.  
Thiết kế hàng hóa và dịch vụ: Thiết kế sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thay đổi của  
thị trường là bước đầu tiên trong quá trình sản xuất.  
Hoạch định quá trình sản xuất: Xây dựng qui trình sản xuất nhằm sản xuất sản phẩm theo  
đúng thiết kế.  
Bố trí trang thiết bị sản xuất: Việc bố trí trang thiết bị, máy móc và nguồn lực thích hợp  
sao cho quá trình sản xuất hoạt động tốt và hiệu quả.  
Vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm: Bố trí, sắp xếp công việc để đường đi của nguyên  
liệu và bán thành phẩm thuận lợi nhất trong quá trình sản xuất.  
Thiết kế công việc: Thiết kế công việc mới và tái thiết kế công việc đang thực hiện để đạt  
hiệu quả hơn là một phần trách nhiệm của những người quản lý sản xuất. Thiết kế công việc  
tốt sẽ tạo hiệu quả lao động tốt và cho chất lượng sản phẩm tốt hơn.  
Dự báo nhu cầu hàng hóa và dịch vụ: Dự báo nhu cầu thị trường nhằm hoạch định cho  
những kỳ san xuất tiếp theo là một trong những quyết định quan trọng không những chỉ của  
những nhà quản lý sản xuất mà còn là quyết định của bộ phận kinh doanh và cả những người  
quản lý cấp cao.  
Hoạch định và lập tiến độ sản xuất: Cần phải hoạch định và lập tiến độ sản xuất nhằm đáp  
ứng được nhu cầu khách hàng.  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
3
III. GIỚI THIỆU MỘT SỐ HỆ THỐNG SẢN XUẤT (manufacturing system)  
Để hiểu rõ hơn quá trình tổ chức và điều hành sản xuất, trước tiên chúng ta nghiên cứu một  
số dạng hệ thống sản xuất đã và đang được sử dụng hiện nay.  
Hiện nay, người ta có thể có nhiều cách phân biệt các hệ thống sản xuất khác nhau, có thể  
theo đặc thù của từng dạng (sản xuất linh hoạt, sản xuất với sự trợ giúp của máy tính, sản  
xuất tự động, bán tự động, sản xuất kiểu Mỹ, sản xuất kiểu Nhật Bản, sản xuất theo kỹ thuật  
nhóm,…) có thể theo sản lượng sản xuất (sản xuất đơn chiếc, sản xuất theo lô, sản xuất khối  
lớn,…). Tuy nhiên, kiểu phân loại theo sản lượng vẫn thường được dùng để phân loại hệ  
thống sản xuất hiện nay. Trong kiểu phân loại này, có một số tác giả còn phân loại dạng sản  
xuất khối lớn thành 2 hoặc 3 dạng sản xuất khác nữa đó là sản xuất liên tục, sản xuất hàng  
loạt, sản xuất theo dây chuyền,… Tuy nhiên, đặc điểm chính của nó cũng là sản xuất với sản  
lượng lớn (mass production). Ở đây chúng ta chia hệ thống sản xuất thành 3 dạng đó là đơn  
chiếc (jobbing, project), theo lô (batch), khối lớn (mass).  
3.1 Sản xuất đơn chiếc: đây là dạng sản xuất lâu đời nhất, sản xuất với sản lượng rất nhỏ (một  
hoặc vài sản phẩm), theo yêu cầu trực tiếp từ khách hàng.  
3.2 Sản xuất theo lô: dạng sản xuất có sản lượng lớn hơn thường từ vài chục sản phẩm trở  
lại, đây là dạng sản xuất rất linh hoạt trong việc thay đổi mẫu mã, sản lượng nên rất phù  
hợp với sản xuất hiện đại ngày nay.  
3.3 Sản xuất khối lớn: đây là dạng sản xuất với sản lượng rất lớn phù hợp với những loại sản  
phẩm đã ổn định trên thị trường.  
Bảng 7.1: Đặc điểm của 3 dạng hệ thống sản xuất  
Đặc điểm  
Sản lượng  
Thiết bị  
Kỹ năng công nhân  
Dạng bố trí thiết bị  
Giá thành đơn vị  
Đơn chiếc  
Rất ít  
Đa năng  
Cao  
Theo quy trình  
Cao  
Theo lô  
Vừa phải  
Đa năng, chuyên dùng  
Trung bình  
Theo quy trình  
Trung bình  
Khối lớn  
Rất lớn, ổn định  
Chuyên dùng  
Vừa phải  
Theo sản phẩm  
Thấp  
Đặc điểm sản phẩm Theo khách hàng  
Tiêu chuẩn hóa thấp  
Trung bình  
Tiêu chuẩn hoá cao  
Ngắn  
Thời gian sản xuất  
Nhóm sản phẩm  
Dài  
Cơ khí, bảo trì, máy Bánh, kẹo, ôtô, máy Nước giải khát, sơn,  
công cụ, sản phẩm bay, máy tính…  
dược phẩm, giấy  
chuyên dùng  
Như vậy việc lựa chọn dạng sản xuất phụ thuộc vào sản lượng và mức độ ổn định của nó trên  
thị trường. Đối với những sản phẩm sản xuất theo yêu cầu trực tiếp từ phía khách hàng thì  
thường sử dụng dạng sản xuất đơn chiếc, còn đối với những sản phẩm đã phổ biến trên thị  
trường thì thường sản xuất khối lớn với mức độ tiêu chuẩn hóa cao. Hiện nay, nhu cầu của  
khách hàng ngày càng đa dạng và phong phú, đòi hỏi mức độ đáp ứng nhanh, giá cả vừa phải  
do đó dạng sản xuất thích hợp là sản xuất theo lô. Sản xuất theo lô thì linh động hơn, khắc  
phục được những nhược điểm của 2 dạng sản xuất đơn chiếc và khối lớn.  
IV. MỘT SỐ DẠNG BỐ TRÍ MẶT BẰNG TRONG SẢN XUẤT (Layout)  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
4
Để việc tổ chức sản xuất được tốt hơn, hiệu quả hơn, thường người quản lý sản xuất phải có  
kế hoạch bố trí mặt bằng và các trang thiết bị sao cho phù hợp và có hiệu quả về chi phí.  
Bài toán quy hoạch tính toán mặt bằng cho phân xưởng mới thì thường rất phức tạp, người  
thiết kế phải có đầy đủ thông tin về quá trình triển khai sản xuất, và phải ước lượng trước  
những thông số làm thay đổi thiết kế mặt bằng có thể xảy ra, sau đó sử dụng phần mềm máy  
tính để tính toán ra mặt bằng, kiểm tra lại tất cả các điều kiện triển khai và bắt đầu cho xây  
dựng. Đây là bài toán rất phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, do vậy trong chương  
này chúng ta chỉ chủ yếu xem xét về những yếu tố ảnh hưởng đến việc bố trí mặt bằng, trang  
thiết bị trong quá trình vận hành và đưa ra một số dạng mặt bằng chuẩn, ưu nhược điểm và  
những ứng dụng của nó.  
4.1 Những ảnh hƣởng của mặt bằng đến hoạt động sản xuất:  
Việc bố trí mặt bằng hợp lý có thể giúp cho xí nghiệp:  
Giảm chi phí sản xuất: nhờ vào giảm thời gian chờ, nâng cao sản lượng, tiết kiệm năng  
lượng, giảm di chuyển của nguyên vật liệu…)  
Tăng Hiệu quả của hoạt động: do tận dụng khả năng người-máy, phối hợp tốt giữa các bộ  
phận…  
Thích ứng tốt trong việc thay đổi sản phẩm dịch vụ: việc điều chỉnh ít nhất khi sản phẩm  
thay đổi…  
Tăng Chất lƣợng: do thao tác công nhân thuận lợi hơn, quy trình chuẩn hơn…  
Thuận lợi cho ngƣời lao động: do thoải mái hơn, thao tác chính xác hơn, an toàn hơn…  
Giảm sự lƣu chuyển của nguyên vật liệu, bán thành phầm: hạn chế tối đa sự di chuyển  
của Nguyên vật liệu giữa các trạm làm việc…  
Giải quyết điểm ứ đọng (bottleneck): tăng cường máy hoặc công nhân ở những trạm làm  
việc bị ứ đọng bán thành phẩm…  
An toàn hơn cho ngƣời lao động: nếu điều kiện làm việc thoải mái, tầm quan sát của công  
nhân là lớn nhất, giảm thiểu tai nạn do sự di chuyển nguyên vật liệu…  
Việc chọn lựa thiết bị: phù hợp giữa các trạm có thể giúp tránh điểm ứ đọng…  
Tạo tính linh hoạt của hệ thống: khi dễ thay đổi mặt bằng cũng như trang thiết bị khi điều  
kiện sản xuất thay đổi…  
4.2 Các nhân tố phải cân nhắc khi chọn lựa cách bố trí mặt bằng:  
1. Dễ dàng thu hẹp hoặc mở rộng: dễ dàng tăng hoặc giảm không gian khi cần thiết  
2. Khả năng thích nghi và thay đổi (linh hoạt của mặt bằng): giảm thiểu sự sắp xếp lại mặt  
bằng khi có sự thay đổi về chủng loại sản phẩm  
3. Hiệu quả của việc di chuyển nguyên vật liệu: giảm thiểu sự di chuyển của nguyên vật liệu  
giữa các trạm làm việc  
4. Hiệu quả của thiết bị nâng chuyển vật liệu: tận dụng tốt không gian của thiết bị nâng chuyển  
trong quá trình sản xuất  
5. Hiệu quả tồn kho: giảm lượng tồn kho trung gian và kho bán thành phẩm  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
5
6. Hiệu quả của tất cả các dịch vụ cung cấp: tạo sự phối hợp tốt giữa khu vực không sản xuất  
và khu vực sản xuất  
7. Anh hưởng đối với an toàn lao động và điều kiện làm việc: tránh tai nạn lao động do bố trí  
mặt bằng, tạo thoải mái và thuận lợi trong thao tác.  
8. Sự dễ dàng trong việc điều khiển và kiểm soát: dễ dàng cho người quản lý trong hướng dẫn  
và kiểm soát hoạt động  
9. Giá trị khuyếch trương đối với công chúng và chính quyền: làm nổi bật hình tượng sản  
phẩm của công ty đối với công chúng  
10. Anh hưởng đối với chất lượng sản phẩm, dịch vụ: dễ dàng trong thao tác công nhân, kiểm  
tra chất lượng bán thành phẩm và sản phẩm.  
11. Anh hưởng đối với công tác bảo trì: tạo thuận lợi cho việc bảo trì định kỳ cũng như sửa  
chữa khi cần thiết  
12. Phù hợp với tổ chức nhà máy: mặt bằng nên thích hợp với cấu trúc của tổ chức nhà máy  
13. Sử dụng thiết bị: tận dụng hết khả năng của thiết bị sẵn có trong công ty  
14. Sử dụng các điều kiện tự nhiên: tận dụng ánh sáng, không khí tự nhiên  
15. Khả năng đáp ứng về công suất: tận dụng hết khả năng của trang thiết bị và con người để  
đáp ứng nhu cầu về sản lượng  
16. Sự tương thích đối với kế hoạch dài hạn: dễ dàng thích ứng với sự thay đổi trong tương lai  
4.3 Các kiểu bố trí mặt bằng tiêu chuẩn:  
1. Bố trí mặt bằng theo quy trình  
Đặc điểm:  
– Máy móc và các công việc được tập hợp theo chức năng  
– Sản phẩm được di chuyển từ khu làm việc này sang khu khác tùy theo yêu cầu riêng của  
từng sản phẩm.  
Lợi thế của việc bố trí theo quy trình  
– Tính linh hoạt cao  
– Việc bảo trì định kỳ thiết bị dễ dàng hơn bởi vì các thiết bị cùng loại.  
– Nếu một máy bị hỏng thì các máy khác vẫn có thể tiếp tục đảm nhiệm công việc.  
Bất lợi của việc bố trí theo quy trình  
– Phải phân bố các công đoạn  
– Phải lập phương án gia công của các bán thành phẩm  
2. Bố trí theo sản phẩm (Bố trí theo đƣờng)  
Đặc điểm:  
– Mặt bằng bố trí theo dòng vật liệu  
– Thiết bị bố trí theo yêu cầu của sản phẩm  
– Số lượng sản phẩm phải đủ lớn để bảo đảm cho việc bố trí này  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
6
Lợi thế của việc bố trí theo sản phẩm  
– Năng suất cao do tính chuyên môn hóa theo sản phẩm  
– Chi phí đơn vị thấp hơn  
Bất lợi của việc bố trí theo sản phẩm  
– Tính linh hoạt (về chủng loại sản phẩm) kém  
– Số lượng sản phẩm mỗi lô lớn và ổn định (phù hợp SX liên tục và loạt lớn)  
– Phải thiết kế dây chuyền sản xuất.  
3. Một số dạng bố trí mặt bằng  
Bố trí theo quy trình (process focus)  
A
B
B
A
M1  
M4  
M2  
M5  
M3  
M6  
Bố trí theo sản phẩm (product focus)  
Dạng đƣờng thẳng  
M1  
M2  
M3  
M4  
M5  
M6  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
7
Dạng zig-zag: áp dụng cho dây chuyền ngắn, ít thiết bị  
M1  
M4  
M5  
M6  
M2  
M3  
Dạng tròn: áp dụng cho dây chuyền dài, nguyên liệu và thành phẩm vào ra cùng nơi  
M4  
M1  
M5  
M2  
M6  
M3  
Dạng chữ U: áp dụng cho dây chuyền dài, iệu và thành phẩm ra vào cùng nơi  
M1  
M2  
M4  
M3  
M5  
M6  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
8
Một số lƣu ý:  
1. Đối với dạng bố trí theo quy trình, nếu chúng ta bố trí nhiều máy giống nhau vào từng ô  
thì chúng có tên gọi khác là bố trí dạng ô hay trạm làm việc theo nhóm công nghệ (cell  
layout / center layout).  
2. Đối với dạng dây chuyền thẳng người ta có thể bố trí song song nhiều dây chuyền, những  
dây chuyền này có thể sản xuất một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Khi đó, những  
trạm làm việc giống nhau của những dây chuyền này được bố trí theo từng cụm thì dạng  
bố trí này có tên gọi khác là bố trí theo nhóm công nghệ (flow line layout).  
3. Đối với dạng zig-zag, chữ U, hoặc tròn thì công nhân hoặc bán thành phẩm có thể di  
chuyển trong khu vực trống trong quá trình vận hành, như vậy có thể tiết kiệm được  
không gian và công nhân có thể vận hành được nhiều máy. Tuy nhiên, nếu đặt bán thành  
phẩm nhiều thì có thể tầm nhìn của công nhân bị che khuất.  
4. Đối với dạng đường thẳng và zig-zag thì nguyên vật liệu và thành phẩm ở hai đầu chuyền  
tách biệt, thuận lợi cho những sản phẩm “sạch” như thực phẩm, dược phẩm. Tuy nhiên,  
nếu bố trí theo dạng này thì chúng ta phải xây dựng 2 đường đi, một cho việc đưa nguyên  
vật liệu vào và một cho việc lấy thành phẩm ra, có thể gây tốn kém hơn cho xây dựng và  
đầu tư. Bố trí dạng này thuận lợi hơn trong việc phòng chống cháy nổ.  
5. Đối với dạng chữ U, và dạng tròn thì nguyên vật liệu đầu vào và thành phẩm đầu ra có thể  
tập trung tại cùng một cửa ra vào, loại này ít thích hợp đối với sản phẩm “sạch” đòi hỏi  
phải sử lý vi sinh giữa nguyên vật liệu và thành phẩm. Tuy nhiên chúng ta chỉ đầu tư 1  
đường đi cho cả nguyên vật liệu và thành phẩm.  
6. Thực tế người ta có thể kết hợp những dạng mặt bằng nói trên sao cho phù hợp với đặc  
điểm của từng xí nghiệp riêng biệt.  
V. KHÁI NIỆM VỀ HOẠCH ĐỊNH TỔNG HỢP (aggregate planning):  
Trong thực tế sản xuất việc hoạch định năng lực cho sản xuất thường có giới hạn trong một  
giai đoạn nhất định. Việc hoạch định tất cả các nguồn lực thường phụ thuộc vào số liệu dự  
báo, khả năng tài chính, công nghệ sản xuất, năng lực quản lý, xu hướng của ngành ,… ngoài  
ra nó còn phụ thuộc quyết định chủ quan của người ra quyết định. Như vậy chúng ta thấy  
rằng việc hoạch định nguồn lực trong một giai đoạn nào đó thường có sự chênh lệch so với  
nhu cầu thực tế. Trong trường hợp này, người quản lý sản xuất thường sử dụng kỹ thuật  
hoạch định tổng hợp để khắc phục sự chênh lệch trên.  
Một số giải pháp trong hoạch định tổng hợp thƣờng đƣợc sử dụng nhƣ sau:  
5.1 Thay đổi nhân công:  
Giải pháp này chúng ta có thể tuyển mới nhân viên hoặc sa thải họ khi nhu cầu thay đổi. Giải  
pháp này khi áp dụng cần xem xét một số lưu ý sau:  
1. Thị trường lao động có thuận lợi trong tuyển dụng hay không? Ở một số nơi không có  
nguồn lao động thì giải pháp này rất khó áp dụng. Ở Thành phố Hồ Chí Minh thì nhiều xí  
nghiệp may, hoặc thủ công khác có thể áp dụng được vì nguồn lao động từ các tỉnh đổ về  
rất nhiều, nhưng một số xí nghiệp ở tỉnh thì rất khó áp dụng biện pháp này.  
2. Lao động có đòi hỏi kỹ năng hay không? có yêu cầu phải huấn luyện hay không? nếu đòi  
hỏi kỹ năng hoặc huấn luyện thì những người mới tuyển vào cần phải có thời gian để  
thích nghi, rất khó trong việc đòi hỏi tăng sản lượng đáp ứng nhu cầu trong thời gian  
ngắn.  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
9
3. Người quản lý sản xuất phải xét xem nhu cầu có lâu dài và ổn định hay không vì khi  
tuyển nhiều công nhân trong giai đoạn nhu cầu cao và sa thải họ khi nhu cầu thấp thì tốn  
kém nhiều chi phí và gây mất ổn định trong sản xuất.  
4. Thường những người được tuyển vào là lao động thời vụ, lao động phổ thông nên thường  
người ta sử dụng hợp đồng lao động ngắn hạn rất thích hợp đối với những xí nghiệp thủ  
công hoặc làm việc theo thời vụ như may mặc, chế biến thủy sản, lắp ráp thủ công,…  
5.2 Thay đổi lƣợng tồn kho:  
Giải pháp này thường giữ nguyên tốc độ sản xuất, trong giai đoạn nhu cầu thấp thì lượng sản  
xuất dư sẽ được tồn kho và đáp ứng nhu cầu trong những giai đoạn nhu cầu cao. Đối với giải  
pháp này chúng ta có một số lưu ý sau  
1. Thường áp dụng cho những ngành sản xuất mà việc thay đổi tốc độ sản xuất có chi phí  
cao, hoặc sản phẩm giá trị thấp, khi tồn kho ít bị ứ đọng vốn.  
2. Một số sản phẩm đã ổn định trên thị trường cũng có thể áp dụng giải pháp này.  
3. Đối với những sản phẩm dễ hư hỏng (thực phẩm,…), hoặc điều kiện bảo quản khó khăn,  
thời gian bảo quản ngắn, hoặc sản phẩm mang tính “thời trang” (quần áo, vải,…) thì rất  
khó áp dụng giải pháp này.  
5.3 Dùng hợp đồng phụ:  
Một số doanh nghiệp vẫn thường dùng cách này trong chiến lược sản xuất kinh doanh của  
mình, bằng cách dùng những vệ tinh, xí nghiệp nhỏ. Khi nhu cầu tăng cao người ta thường  
chia bớt hợp đồng cho những xí nghiệp này. Giải pháp này có lợi thế là có thể gia tăng năng  
lực sản xuất nhưng không phải đầu tư nhiều vốn. Tuy nhiên, giải pháp này cũng có một số  
lưu ý sau:  
1. Giá thành có thể cao hơn nếu chúng ta mua nhiều chi tiết từ nhà thầu phụ.  
2. Đối với những sản phẩm cần đòi hỏi giữ bí quyết công nghệ thì rất khó sử dụng giải pháp  
này, thông thường công ty chỉ đặt gia công một vài chi tiết, ví dụ như những hãng sản  
xuất ôtô, xe máy thì hầu hết những chi tiết, phụ tùng nhựa, hoặc những chi tiết phụ được  
gia công bên ngoài. Đối với những công ty sản xuất dược phẩm, thực phẩm có công thức  
pha chế đặc thù thì thường không sử dụng giải pháp này.  
3. Một dạng khác của vệ tinh là nhà máy ảo, đây là dạng đặc biệt trong kinh doanh, thường  
người kinh doanh dạng này không cần có nhà máy, và không cần phải đầu tư, đảm bảo  
công ăn việc làm cho công nhân, họ thường quan hệ đặt hàng với nhà máy theo từng hợp  
đồng riêng biệt, vơí phương thức này, họ giống như là người cung cấp hàng mà không  
phải sản xuất.  
4. Đối với giải pháp này thường đưa đến quyết định mua hay sản xuất.  
5. Đối với nhiều công ty, hiện nay, người ta thường sản xuất những chi tiết chính mang nét  
đặc thù của sản phẩm còn những chi tiết phụ thì đặt hàng bên ngoài, những chi tiết này  
thường thay đổi hình dáng, màu sắc. Như vậy, sản phẩm cuối cùng của công ty sẽ thay  
đổi màu sắc, hình dáng nhưng thực chất thì công nghệ sản xuất những chi tiết cốt lõi thì  
rất ít thay đổi và có thể sản xuất hàng loạt.  
5.4 Tăng giãn ca:  
Đây là giải pháp thường được áp dụng nhất hiện nay, những nhà quản lý trong một số công ty  
thường rất thích sử dụng giải pháp này vì nó ít làm thay đổi hoạt động sản xuất, nhân sự,  
hàng tồn kho, đặc biệt, tăng giãn ca trong thời gian ngắn có thể làm tăng thu nhập cho công  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
10  
nhân. Tuy nhiên, khi tăng, giãn ca cũng gặp phải một ít khó khăn nhất định. Việc tăng giãn ca  
chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn, vì nếu kéo dài thì hiệu quả của việc tăng giãn ca sẽ rất  
thấp do mệt mỏi, luật lao động không cho phép. Hơn nữa việc tăng giãn ca thường chi phí  
cho giờ lao động cao hơn bình thường (khoảng 1,5 lần) và khi giãn ca thường thì năng suất  
trong thời gian giãn ca cũng không cao.  
Trên thực tế, một số xí nghiệp sử dụng cả 3 ca thì không thể áp dụng biện pháp này, thông  
thường người quản lý sản xuất phải linh động chọn một hoặc nhiều giải pháp cùng lúc sao  
cho có lợi nhất. Trong thực tế sản xuất, người ta đặt ra mục tiêu cuối cùng trước như đúng  
ngày giao hàng, đúng số lượng, … sau đó người ta tìm giải pháp đạt mục tiêu đó với chi phí  
thấp nhất. Nói chung, tất cả các giải pháp trên dùng để khắc phục sự sai lệch giữa kế hoạch  
và nhu cầu thực tế, do vậy nếu chúng ta dự báo tốt, hoạch định chính xác thì người quản lý  
sản xuất rất chủ động trong công việc của mình.  
VI. QUẢN LÝ TỒN KHO (inventory management)  
Hàng tồn kho là những loại hàng hóa được bảo quản trong kho nhằm đáp ứng những nhu cầu  
của chính doanh nghiệp hay của khách hàng. Tồn kho là một trong những công tác quan  
trọng của nhà quản lý sản xuất, chi phí sản xuất sẽ giảm nếu công tác tồn kho, hoạch định  
nguyên vật liệu và bảo quản nguyên vật liệu được thực hiện nghiêm túc và khoa học. tồn kho  
nhằm trả lời được 2 câu hỏi:  
Lượng đặt hàng là bao nhiêu mỗi lần đặt hàng? (mỗi lần đặt hàng là bao nhiêu để chi  
phí tồn kho là ít nhất)  
Khi nào thì tiến hành đặt hàng? (lúc nào đặt hàng, và bao lâu thì tái đặt hàng)  
6.1 Các loại hàng tồn kho  
1. Tồn kho nguyên vật liệu  
Dự trữ nguyên vật liệu đầu vào (thường được cung cấp từ nhà thầu phụ ví dụ: hóa chất, cao  
su, vải…). Quản lý loại tồn kho này là bộ phận Vật tư.  
2. Tồn kho tại chế phẩm  
Kho trung gian, dự trữ bán thành phẩm dùng cho khâu sản xuất tiếp theo (được cung cấp từ  
các bộ phận trong nội bộ nhà máy ví dụ: quai, đế, …). Quản lý loại tồn kho này là bộ phận  
sản xuất.  
3. Tồn kho thành phẩm  
Dữ trữ thành phẩm để cung cấp cho khách hàng (ví dụ: dép thành phẩm, tấm đế cung cấp cho  
các công ty khác, …). Quản lý loại tồn kho này là bộ phận bán hàng, Tiếp thị.  
4. Tồn kho các mặt hàng linh tinh khác  
Dự trữ các công cụ phục vụ cho quá trình sản xuất, …. Quản lý loại tồn kho này thường là bộ  
phận Kỹ thuật, Bảo trì.  
6.2 Chức năng tồn kho  
Việc tồn kho thường để đáp ứng các yêu cầu sau:  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
11  
1. Duy trì sự độc lập của các hoạt động: giảm bớt sự lệ thuộc giữa khâu trước và khâu sau,  
khắc phục được sự trì hoãn của các khâu do sự cố…  
2. Đáp ứng sự thay đổi nhu cầu sản xuất: khi nhu cầu thay đổi thì đủ thời gian cho các  
khâu điều chỉnh tốc độ sản xuất phù hợp…  
3. Tạo sự linh hoạt cho điều độ sản xuất: không bị động trong quá trình lập điều độ sản  
xuất do có hàng dự trữ sẵn sàng…  
4. Tạo sự an toàn khi thay đổi thời gian cung ứng nguyên vật liệu: đủ nguyên vật liệu  
phục vụ cho sản xuất khi nhà thầu phụ cung cấp trễ, hoặc khâu trước bị sự cố,…  
6.3 Chi phí tồn kho  
Chi phí tồn kho bao gồm:  
1. Chi phí vốn (Capital cost): chi phí cho việc mua hàng tồn kho  
2. Chi phí tồn trư (Holding cost): chi phí cho việc bảo quản, lưu trữ hàng trong kho  
3. Chi phí đặt hàng (Order cost): cho phí cho việc phát đơn đặt hàng  
4. Chi phí do thiếu hụt (Shortage cost): chi phí phải bồi hoàn do không đủ hàng cung cấp  
cho khách hàng khi đã nhận hợp đồng.  
6.4 Hệ thống kiểm soát tồn kho  
Có hai hệ thống kiểm soát tồn kho là Kiểm soát liên tục và Kiểm soát định kỳ với các  
đặc điểm sau:  
1. Hệ thống kiểm soát liên tục  
Lượng đặt hàng cố định  
Mức dự trữ tồn kho thấp  
Chi phí phục vụ giám sát cao  
2. Hệ thống kiểm soát định kỳ  
Lượng đặt hàng thay đổi  
Mức dự trữ tồn kho cao hơn  
Chi phí phục vụ giám sát thấp hơn  
Thường đối với những nguyên vật liệu có giá trị cao, thời gian đặt hàng dài, nguyên vật liệu  
nhập khẩu,… thì người ta thường sử dụng hệ thống kiểm soát liên tục. Đối với một số loại  
nguyên vật liệu có giá trị thấp (rẽ tiền), dễ mua, thời gian đặt hàng ngắn thì người ta sử dụng  
hệ thống kiểm soát định kỳ.  
Tuy nhiên, hệ thống sản xuất định kỳ vẫn có nhiều ưu điểm hơn trong hoạch định nguyên vật  
liệu, mặc dù chi phí có thể cao hơn, do vậy ngày nay người ta thiết kế những phần mềm để hỗ  
trợ trong quản lý tồn kho, giúp nhà quản lý có thể kiểm soát thường xuyên hơn nhưng chi phí  
cho việc kiểm soát thì thấp hơn.  
6.5 Mô hình tối ƣu cơ bản (EOQ – Economic Order Quantity)  
Trong quản lý tồn kho theo mô hình cổ điển, người ta xây dựng nhiều mô hình khác nhau,  
ứng dụng cho nhiều trường hợp khác nhau như mô hình cho phép chờ hàng (hụt hàng), mô  
hình có xét đến giảm giá khi mua với số lượng lớn,… tuy nhiên, trong khuôn khổ giáo trình  
này chúng ta chỉ một mô hình duy nhất đó là mô hình tối ưu cơ bản. Mô hình này được thể  
hiện trên hình dưới đây. Để áp dụng được mô hình này người ta phải theo một số giả thiết  
sau:  
a) Nhu cầu là liên tục với cùng một mức tỷ lệ  
b) Quá trình sản xuất cũng liên tục  
c) Không có ràng buộc về số lượng đặt hàng, sức chứa kho bãi, nguồn vốn…  
d) Lượng đặt hàng Q chỉ nhận một lần cho mỗi đơn hàng  
e) Tất cả chi phí không đổi  
f) Không cho phép hụt hàng  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
12  
g) Không được giảm giá trên lượng đặt hàng.  
Độ dốc = -D  
Q
Hàng tồn kho đang được sử  
dụng  
Q/2  
TÁI CUNG CấP  
0
Thời gian  
T
T
T
Hình 7.4: Chu kỳ đặt hàng theo mô hình EOQ  
Chi phí hàng năm ($)  
Độ dốc = 0  
Tổng chi  
Phí tồn trữ  
Tổng chi phí tối  
thiểu  
Phí đặt hàng  
Lượng đặt hàng, Q  
Lượng hàng tối ưu, Q*  
Hình 7.5: Chi phí theo mô hình EOQ  
Một số ký hiệu:  
: giá mua đơn vị (đồng/đơn vị)  
P
D : nhu cầu hàng năm (đơn vị/năm)  
H : chi phí tồn trữ đơn vị (đồng/đơn vị/năm)  
S
: chi phí đặt hàng (đồng/đơn hàng)  
Q : số lượng đặt hàng (đơn vị/đơn hàng)  
TC : tổng chi phí (đồng/năm)  
Theo mô hình EOQ thì tổng chi phí tồn kho hàng năm bao gồm:  
TC = (D/Q)*S + (Q/2)*H + p*D  
Trong đó lượng đặt hàng tối ưu EOQ là:  
2SD  
H
EOQ =  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
13  
Ví dụ 1:  
Công ty có nhu cầu sử dụng 80.000 kiện hàng mỗi năm, với các chi phí sau đây:  
(giá đơn vị)  
(phí tồn kho đơn vị) H  
(phí đặt hàng)  
p
= $0.40 / kiện hàng  
= $0.10 / kiện hàng / năm  
= $80 / lần đặt  
S
Biết Công ty làm việc 220 ngày trong 1 năm.  
Giải:  
Số lượng đặt hàng tối ưu/ lần đặt  
2SD  
H
(2)(80)(80.000)  
0.1  
Q* =  
=
Q* = 11.314 kiện hàng  
Số đơn hàng/ năm (Số lần đặt hàng/ năm)  
D
Q * 11.314  
80.000  
N =  
=
= 7,07 8 (đơn hàng/năm)  
Thời gian giữa các lần đặt hàng  
220  
T =  
= 27,5 ngày  
8
Tổng chi phí hàng tồn kho:  
SD  
Q *  
HQ *  
TC =  
+
+ pD  
2
$0.111.314  
$8080.000  
11.314  
TC =  
+
+ ($0,4x80.000)  
2
6.6 Điểm Tái Đặt Hàng (Re-order Point)  
Trong thực tế, khi chúng ta gọi hàng bao giờ cũng cần phải có thời gian để nhà thầu phụ cung  
cấp theo yêu cầu của chúng ta, do vậy thường có khoảng thời gian trễ, nếu chúng ta đặt hàng  
ngay lúc trong kho không còn hàng thì chúng ta sẽ không có nguyên vật liệu kịp thời để sản  
xuất do khoảng thời gian trễ này. Do đó, người ta thường phát đơn hàng trước khi trong kho  
không còn hàng để sản xuất, nghĩa là trong kho còn một lượng hàng nào đó, điểm này gọi là  
điểm tái đặt hàng.  
L: khoảng thời gian từ lúc đặt hàng đến lúc nhận hàng  
R = Ld  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
14  
Q*  
R
0
Thời gian  
L
T
Hình 7.6: Mô hình EOQ có tính đến thời gian từ lúc đặt hàng đến lúc nhận hàng  
Ví dụ 2:  
Nhu cầu dùng tôn: D = 4.800 tấm/ năm (300 ngày làm việc).  
Phí trữ hàng/ năm: 20.000 đồng / tấm.  
Phí đặt hàng : 100.000 đồng / lần.  
Thời gian từ lúc nhận được đơn hàng cho đến khi giao hàng: 5 ngày.  
Giải:  
Số lượng hàng đặt là  
2SD  
2(4.800)(100.000)  
20.000  
Q* =  
=
= 219  
H
4.800  
Nhu cầu hàng ngày: d =  
= 16 tấm mỗi ngày.  
300  
Điểm tái đặt hàng:  
R = L x d = 5 x 16 = 80  
Điểm tái đặt hàng khi mức tồn kho còn 80 tấm.  
VII. HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU (Material Requirements  
Planning – MRP):  
Trong nền sản xuất hiện đại, sản phẩm thường được cấu tạo từ nhiều chi tiết, nguyên vật liệu  
khác nhau nên khái niệm tồn kho như phần trước đôi khi không còn phù hợp. Việc tính toán  
cùng lúc nhiều loại nguyên vật liệu, lên kế hoạch đặt hàng, kết hợp với bộ phận điều độ sản  
xuất, chủ động trong hoạch định sản xuất là rất cần thiết. Để làm được điều này, người ta đưa  
ra một khái niệm mới là hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. Trong công ty người làm công  
tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu sẽ có chức năng hỗ trợ cho bộ phận điều hành sản  
xuất bằng cách liên kết giữa kế hoạch điều độ sản xuất, bộ phận quản lý kho và bộ phận mua  
hàng được thể hiện trong sơ đồ sau:  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
15  
Điều độ  
sản xuất  
Kiểm tra  
tồn kho  
MRP  
Mua Hàng  
Hình 7.7: Mối quan hệ giữa MRP với các hoạt động khác  
Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu cần trả lời được những câu hỏi sau:  
1. Khi nào cần giao sản phẩm cho khách hàng, nhu cầu mỗi loại,  
2. Khi nào thì lượng dự trữ cạn kiệt,  
3. Khi nào phát đơn hàng,  
4. Khi nào nhận hàng,  
Để trả lời được những câu hỏi trên người ta phải dựa vào bảng điều độ sản xuất chính (là  
bảng hoạch định kế hoạch sản xuất cụ thể từ phòng điều độ sản xuất trong đó bao gồm số  
lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, ngày giao hàng, thời gian sản xuất …), bảng danh  
sách vật tư (cấu trúc vật tư, linh kiện để sản xuất ra mỗi loại sản phẩm trong bảng điều độ sản  
xuất chính), hồ sơ về vật tư tồn kho (để xác định xem loại vật tư nào còn, số lượng bao  
nhiêu? nếu thiếu thì khi nào đặt hàng? số lượng?…)  
Để tính toán trong hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu người ta đưa ra khái niệm hạng mục  
vật tư độc lập, và hạng mục vật tư phụ thuộc:  
Đối với hạng mục vật tư độc lập là những chi tiết / sản phẩm được xác định từ dự báo, còn  
đối với hạng mục vật tư phụ thuộc thường được tính từ hạng mục vật tư độc lập. Ví dụ: Công  
ty dự báo nhu cầu sản xuất trong tháng tới là 1000 máy tính (hạng mục vật tư độc lập), như  
vậy chúng ta cần sản xuất 1000 màn hình, 1000 bàn phím, 1000 CPU, … (hạng mục vật tư  
phụ thuộc). Ngoài ra, để chế tạo được CPU chúng ta cần thêm bo mạch, và mỗi bo mạch cần  
thêm những vi mạch nhỏ, … và bài toán trở nên phức tạp hơn nếu có nhiều cấp chi tiết. Để  
giúp cho người làm nhiệm vụ hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu được thuận lợi hơn người  
ta đưa ra khái niệm cây sản phẩm.  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
16  
Cây sản phẩm diễn tả tất cả các chi tiết cấu thành nên sản phẩm sau cùng và số lượng của mỗi  
loại, từ đây người hoạch định có thể dễ dàng xác định chính xác số lượng nguyên vật liệu cần  
thiết nếu chúng ta biết được số lượng của sản phẩm sau cùng.  
Ví dụ 3: Các chi tiết cần thiết của sản phẩm T  
Mã số chi tiết  
Số lượng yêu cầu  
U
V
2
3
W
X
1
2
W
Y
2
2
T
V (3)  
U (2)  
Hình 7.8: Cấu trúc cây sản phẩm của sản phẩm T  
Số trong ngợng chi để sản xhẩm ở
W (1)  
W (2)  
Y (2)  
X (2)  
(parent leveông có ý i mức th: U (2) chi  
tiết U dùng để sản xuất ra 1 chi tiết T, tương tư như vậy X (2) có nghĩa là 2 chi tiết X sản xuất  
ra 1 chi tiết U.  
Để sản xuất 100 đơn vị sản phẩm T thì chúng ta cần:  
Chi tiết U: 2 x Số sản phẩm T = 2 x 100  
Chi tiết V: 3 x Số sản phẩm T = 3 x 100  
Chi tiết W: 1 x Số chi tiết U + 2 x Số chi tiết V  
Chi tiết X: 2 x Số chi tiết U = 2 x 200  
Chi tiết Y: 2 x Số chi tiết V = 2 x 300  
= 200  
= 300  
= 800  
= 400  
= 600  
Sau khi có được số lượng của mỗi loại chi tiết, người hoạch định sẽ có kế hoạch đặt hàng để  
cung cấp cho bộ phận sản xuất theo đúng lịch trình của bảng điều độ sản xuất chính.  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
17  
BÀI TẬP:  
Bài 1: Một doanh nghiệp chuyên kinh doanh mua bán gạo có nhu cầu cả năm là 1.250 tấn, chi phí đặt  
hàng cho mỗi đơn hàng là 200.000 đồng, chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị sản phẩm là 8.000 đồng/tấn.  
Dùng mô hình EOQ hãy xác định:  
1. Sản lượng hàng tối ưu và số đơn hàng mong đợi trong năm?  
2. Khoảng cách giữa hai lần mua hàng? Biết rằng trong năm doanh nghiệp hoạt động là 250  
ngày.  
3. Tổng chi phí tồn kho hàng năm? Biết P = 100.000 đ/tấn  
4. Điểm đặt hàng lại? Biết rằng thời gian chờ hàng là 6 ngày.  
5. Cho biết công ty có các ngày nghỉ trong năm là: 1/1, 30/4, 1/5, 2/9, Giỗ tổ Hùng Vương  
10/3 âm lịch, Tết Nguyên Đán: 30/12, 15/1 âm lịch. Nếu lần đặt hàng thứ n trong năm là  
ngày 6/4/2015. Hỏi lần đặt hàng thứ n+1 là ngày mấy?  
Bài 2: Biểu đồ các linh kiện của sản phẩm X  
X
(1)  
B
(1)  
C
(4)  
G
(1)  
A
(1)  
H
(5)  
A
(2)  
F
(3)  
G
(6)  
Hãy tính toán mức vật tư để sản xuất 70X, biết rằng trong kho tồn vật tư với số lượng như  
sau.  
X
0
A
10  
B
20  
C
10  
F
10  
G
20  
H
50  
Đáp án: B = 50, C = 270, A = 400, F = 140, G = 550, H = 1300  
Quaûn Lyù Saûn Xuaát vaø Vaän Haønh  
18  
pdf 19 trang myanh 27120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Quản trị kinh doanh cho kỹ sư - Chương 6: Quản lý sản xuất và vận hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_quan_tri_kinh_doanh_cho_ky_su_chuong_6_quan_ly_san.pdf