Tín ngưỡng của người H'mông ở Việt Nam

Tín ngưỡng của người H'mông ở Việt Nam  
Nguyễn Thị Song Hà1, Võ Thị Mai Phương2  
1 Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
2 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
Nhận ngày 15 tháng 9 năm 2018. Chấp nhận đăng ngày 3 tháng 12 năm 2018.  
Tóm tắt: Người H'mông là một trong 54 tộc người ở Việt Nam. Văn hóa của người H'mông ở Việt  
Nam có nhiều đặc điểm tương đồng với các tộc người khác, song cũng có khá nhiều điểm khác biệt  
mang bản sắc riêng. Trong tín ngưỡng truyền thống của người H'mông có tín ngưỡng thờ cúng tổ  
tiên, tín ngưỡng thờ các loại ma, tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ đời người, tín ngưỡng thờ cúng  
nông nghiệp, tín ngưỡng liên quan đến lễ hội… Các tín ngưỡng truyền thống này có nhiều giá trị  
văn hóa, nhưng cũng có một số phong tục lạc hậu. Hiện nay, một bộ phận người H'mông đã thay  
đổi về đời sống tín ngưỡng truyền thống để thích ứng với điều kiện sống mới.  
Từ khóa: Người H'mông, tín ngưỡng, truyền thống.  
Phân loại ngành: Dân tộc học  
Abstract: The Hmong is one of the 54 ethnic groups in Vietnam. Their culture bears multiple  
similarities with other ethnic groups, but also possesses many traits with its own identity. Their  
traditional beliefs include those of worshiping ancestors, “ghosts” (deities), and those related to the  
cycle of life, to the agricultural worship, and to festivals, etc. Such traditional beliefs bear many  
cultural values but some of them are backward customs. Today, a part of the Hmong people have  
changed their religious activities to adapt to new living conditions.  
Key words: The Hmong, beliefs, traditions.  
Subject classification: Ethnology  
1. Đặt vấn đề  
H'mông Hoa, H'mông Xanh, H'mông  
Trắng, H'mông Đen, H'mông Đỏ, Na Miểu  
[7]. Hiện nay, người H'mông ở Việt Nam  
cư trú chủ yếu trên vùng núi cao của các  
tỉnh phía Bắc (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc  
Người H'mông là một tộc người thiểu số ở  
Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ H'mông -  
Dao. Người H'mông chia thành 6 nhóm:  
54  
Nguyễn Thị Song Hà, Võ Thị Mai Phương  
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội  
nhập quốc tế, do chuyển đổi tín ngưỡng của  
một bộ phận người H'mông, cùng với đó, do  
sự thay đổi về môi trường cư trú, do tập  
quán du canh du cư, sự giao thoa và tiếp  
nhận văn hóa của các cộng đồng tộc người  
thiểu số ở những nơi mà người H'mông sinh  
sống, nên văn hóa (trong đó có tín ngưỡng)  
của người H'mông đang có nhiều biến đổi để  
thích ứng với điều kiện sống mới. Điều này  
làm cho văn hóa của người H'mông trở nên  
phong phú và ngày càng đáp ứng yêu cầu  
của đời sống hiện đại, song cũng đang đặt ra  
nhiều vấn đề trong việc lựa chọn, bảo lưu và  
gìn giữ các giá trị văn hóa đặc trưng của tộc  
người này.  
Kạn, Lạng Sơn, Lào Cai, Điện Biên, Lai  
Châu, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang), một  
số tỉnh miền Trung (Thanh Hoá, Nghệ  
An...) và Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk  
Nông…). Theo Tổng điều tra dân số và nhà  
ở năm 2009, người H'mông ở Việt Nam có  
dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 8  
trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt  
Nam, cư trú tại 62 trên tổng số  
63 tỉnh, thành phố. Người H'mông cư trú  
tập trung đông tại các tỉnh như: Hà Giang  
(231.464 người), Điện Biên (170.648 người),  
Sơn La (157.253 người), Lào Cai (146.147  
người), Lai Châu (83.324 người), Yên Bái  
(81.921  
người), Cao  
Bằng  
(51.373  
người), Nghệ  
An (28.992  
người), Đắk  
Người H'mông có đời sống văn hóa, tín  
ngưỡng truyền thống vô cùng phong phú.  
Những quan niệm về vũ trụ, về linh hồn, về  
con người, về vạn vật, và đặc biệt về “thế  
giới ma” (đăk/đa) của người H'mông là  
những tín ngưỡng đã tồn tại từ rất lâu và  
được bảo lưu cho đến tận ngày nay. Tuy  
nhiên, trong quá trình biến đổi, tiếp nhận  
các giá trị văn hóa mới, nên hiện nay, một  
bộ phận người H'mông theo phong tục tập  
quán, nghi lễ truyền thống và bộ phận  
người H'mông theo đạo Tin Lành. Do sự  
tồn tại của hai bộ phận này, nên niềm tin,  
quá trình thực hành các hoạt động về tín  
ngưỡng, tôn giáo của họ có sự khác nhau.  
Người H'mông quan niệm vũ trụ có ba  
tầng; đó là: tầng trên cao là trời (nơi trú ngụ  
của các thần của tổ tiên); tầng giữa là mặt  
đất, là thế giới; tầng dưới mặt đất là âm phủ.  
Thế giới đó ra đời là do một cặp “Cha - Mẹ”  
(là ông Trày và bà Trày) [4, tr.125-126]  
[10, tr.80]. Hai cặp đối lập Cha - Mẹ, Trời -  
Đất là hai hình thái sinh sản đồng nhất. Mẹ  
đồng nghĩa với Đất, Cha đồng nghĩa với  
Trời, đó chính là sự thể hiện đầu tiên về sự  
Lắk (22.760 người), Đắk Nông (21.952  
người), Bắc Kạn (17.470 người), Tuyên  
Quang (16.974 người), Thanh Hóa (14.799  
người)... Bài viết3 trình bày tín ngưỡng  
truyền thống của người H'mông; phân tích  
và chỉ ra những điểm khác biệt giữa tín  
ngưỡng truyền thống và tín ngưỡng tôn  
giáo (đạo Tin Lành) của người H'mông  
ngày nay.  
2. Khái quát về tín ngưỡng truyền thống  
của người H'mông  
Người H'mông có nền văn hóa phong phú và  
đa dạng thể hiện rõ bản sắc văn hóa của tộc  
người này. Trong văn hóa của người H'mông  
có nhiều đặc điểm tương đồng với các tộc  
người khác, song cũng có khá nhiều điểm  
khác biệt mang bản sắc, đặc trưng riêng.  
Điều đó được thể hiện rõ qua các giá trị văn  
hóa tinh thần, đời sống tín ngưỡng, nghi lễ  
và phong tục tập quán. Tuy nhiên, trong  
những năm gần đây, do sự tác động của quá  
55  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
ảnh hưởng của triết lý âm - dương đối với vì sao lễ gọi vía rất phổ biến trong cộng  
người H'mông. Theo tín ngưỡng của người đồng người mông.  
Theo văn hóa của H'mông, tín ngưỡng  
truyền thống gắn bó mật thiết với các quan  
niệm và ứng xử với thế giới tổ tiên, hệ  
thống ma nhà, vật linh giáo, saman giáo,  
các lễ thức dân gian. Các dạng thức tín  
ngưỡng chủ yếu của người H'mông là tín  
ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ các  
loại ma, tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ  
đời người, tín ngưỡng thờ cúng nông  
nghiệp, tín ngưỡng liên quan đến lễ hội.  
H'mông, trong quá trình hình thành vũ trụ,  
con gà trống giúp cho con người phân định  
rõ ngày và đêm, cõi sống và cõi chết. Vì  
vậy, trong các nghi thức cúng của người  
H'mông bao giờ cũng phải có gà trống làm  
lễ vật [8, tr.16-20].  
Người H'mông có một niềm tin khá  
mãnh liệt về thế giới tâm linh, về vũ trụ,  
linh hồn và các loại ma, nên trong cuộc  
sống, họ có cách thức ứng xử khá cụ thể  
cho niềm tin đó. Chẳng hạn, người H'mông  
cho rằng, con người có 3 linh hồn (đăk/đa)  
ngự trị ở 3 nơi khác nhau trong cơ thể. Hồn  
thứ nhất ở đỉnh đầu. Trong đời sống hàng  
ngày, người H'mông kiêng xoa đầu, nhất là  
đầu trẻ em, vì hồn trẻ em còn yếu, xoa đầu  
hồn sẽ bỏ đi, khiến đứa trẻ đau ốm. Hồn thứ  
hai ở vùng ngực. Người H'mông cho rằng,  
hồn này ít bỏ đi lang thang, nhưng khi đã  
bỏ đi thì bệnh sẽ rất nặng, nhất là ở trẻ nhỏ,  
phụ nữ, vì thế họ thường đeo vòng cổ bảo  
vệ, đặc biệt là trẻ nhỏ. Vòng này tượng  
trưng chiếc chìa khóa được thầy cúng phù  
phép ngăn cản hồn đi chơi. Hồn thứ ba ở  
vùng rốn. Hồn này cai quản thân thể và các  
bộ phận nội tạng.  
3. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên  
Trong thế giới tâm linh của người H'mông,  
thờ cúng tổ tiên có một ý nghĩa hết sức  
quan trọng, không chỉ thể hiện niềm tin, mà  
còn là những hoạt động tín ngưỡng tôn giáo  
thiêng liêng. Tín ngưỡng này có vai trò to  
lớn để người H'mông nhớ đến cội nguồn và  
văn hóa dân tộc. Người H'mông quan niệm  
rằng, tổ tiên là những người đã chết trong 3  
đời trở lại (cha, ông, cụ). Do đó, trong các  
dịp lễ Tết của mình, người H'mông thường  
cúng gọi tên tuổi những người thuộc 3 thế  
hệ đã khuất của dòng họ mình trở về ăn Tết,  
phù hộ cho con cháu. Trong lễ cúng năm  
mới, theo quy định của văn hóa cộng đồng  
vốn đã hình thành và tồn tại lâu đời, người  
H'mông bao giờ cũng phải làm 3 chiếc bánh  
dày tượng trưng cho 3 thế hệ những người  
đã khuất (ông bà, bố mẹ và những người  
bằng vai đã qua đời). Nếu không có 3 chiếc  
bánh dày đó, ông bà tổ tiên sẽ không về vui  
Tết cùng con cháu.  
Người H'mông tin rằng, con người là sự  
kết hợp của linh hồn và thể xác. Khi con  
người khỏe mạnh, linh hồn và thể xác đang  
chung sống thuận hòa. Khi con người ốm  
đau, linh hồn đã rời khỏi cơ thể. Người  
H'mông quan niệm rằng, hồn thường rời  
khỏi cơ thể trong một số tình huống (như:  
bị ngã, bị người khác dọa, đi rừng đi suối bị  
ma rừng ma suối bắt mất hồn, gặp điều gì  
đó làm con người thất kinh, sợ hãi...). Khi  
nhà có người ốm, trẻ con bị ngã, toát mồ  
hôi, biếng ăn, thì có thể một số linh hồn đã  
đi mất, cần phải gọi vía. Đó chính là lý do  
Bàn thờ tổ tiên của người H'mông khá  
đơn giản, thường đặt ở vị trí gian giữa,  
được dán một miếng giấy hình chữ nhật  
kích thước 20-30cm. Trang trí bàn thờ phụ  
thuộc quy định của từng dòng họ. Chẳng  
56  
Nguyễn Thị Song Hà, Võ Thị Mai Phương  
hạn như, bàn thờ họ Giàng có miếng giấy trống để giữ cửa cho gia đình, bảo vệ cả gia  
đỏ dán lên miếng giấy trắng, trên đó dán 3 đình 12 tháng trong năm. Khi thay bàn thờ,  
túm lông gà (tuy nhiên, họ Giàng của người thay giấy, cúng bằng một con gà trống,  
H'mông Trắng phân chia thành 3 nhánh người ta đính lông của con gà đó lên, thì  
không có bàn thờ, có bàn thờ treo giấy bản) con gà đã hoàn thành nhiệm vụ, được đầu  
[12]. Họ Vàng (gốc Sơn La)4 không có bàn thai sang kiếp khác. Trong lễ cúng mời tổ  
thờ tổ tiên, thờ tổ tiên bằng cột nhà và tiên về ăn Tết, người ta cầu xin cho gia đình  
thường dán 3 miếng giấy ở trên đó. Theo sức khỏe dồi dào, quanh năm không có  
các cụ già người H'mông cho biết, trong bệnh tật; gia súc, gia cầm đầy chuồng; thóc  
truyền thống người H'mông không có bàn về đầy gác.  
thờ, chỗ cắm hương là ống tre gài lên tường  
và khi cúng thì kê một cái bàn ở phía dưới  
và đặt đồ cúng lên. Hiện nay, có một số gia  
đình người H'mông dùng bàn đặt bát hương  
4. Tín ngưỡng thờ các loại ma  
thay cho bàn thờ. Do sự khác biệt trong Người H'mông quan niệm rằng, tất cả mọi  
quan niệm về tổ tiên của mình theo từng vật đều có linh hồn, mỗi một ngọn núi, cánh  
dòng họ, từng nhóm người H'mông khác rừng, gốc cây, hòn đá đều có ma cai quản.  
nhau, nên khi nhìn vào nơi thờ tổ tiên, Ma thiện thì ít, còn ma ác thì nhiều, chúng  
người ta có thể phân biệt được các cách luôn rình rập để bắt hồn người sống. Trong  
thức chôn cất mộ người chết của các dòng cuộc sống hàng ngày, khi gặp chuyện gì  
họ. Chẳng hạn như, nếu trong bàn thờ tổ không may thì người H'mông cho rằng đó  
tiên được trang trí nhiều giấy màu với nhiều là do ma làm. Do đó, trong gia đình người  
màu sắc khác nhau, thì dòng họ có mộ xếp H'mông bên cạnh thờ cúng tổ tiên, còn tồn  
đá5; còn nếu bàn thờ chỉ dùng một loại giấy tại một hệ thống ma nhà với những nghi  
màu trắng đục duy nhất để trang trí thì dòng thức cúng khác nhau.  
họ có mộ không xếp đá.  
Ma ngũ hải là ma nguy hiểm nhất trong  
Đối với người H'mông, nơi đặt bàn thờ quan niệm của người H'mông; nó thường  
rất linh thiêng, chỉ có chủ gia đình mới gây ra những cái chết đột ngột, chẳng hạn  
được làm chủ lễ cúng mời tổ tiên, và chỉ có như ngạt thở hoặc hộc máu mồm mà chết.  
đàn ông mới được đến gần bàn thờ. Bàn thờ  
Ma theo sau được gọi là “đax khua đê”.  
thường được làm mới vào dịp Tết, gọi là Theo người H'mông, loại ma này chỉ có  
“thay áo mới cho bàn thờ”. Người ta bỏ trong nội bộ tộc người; nó xuất hiện khi các  
giấy cũ, vệ sinh sạch sẽ khu vực bàn thờ, cá nhân có mối hiểm khích, có thể khấn ma  
dán giấy màu, lấy lông cổ của con gà trống đi làm hại người khác. Loại ma này thường  
dành cho tổ tiên, chấm vào tiết của chính nó gây ra những trận ốm đột ngột nhưng không  
rồi dán lên bàn thờ. Số túm lông được quy nguy hiểm như ma ngũ hải.  
định theo mỗi dòng họ. Lễ vật cúng tổ tiên  
Ma thi vi sú (thix vi suz, thiz vi sư) là loại  
là con gà trống có lông cổ màu đỏ. Theo ma mà người H'mông luôn đề phòng. Loại  
quan niệm của người H'mông, lông của gà ma này thường gây ra tai nạn, như cháy  
trống được dán trên bàn thờ tổ tiên với ý nhà, đá lăn, cây đổ vào người đi rừng, đi  
nghĩa như sự hiện diện của linh hồn gà nương. Với những cái chết bị ma thi vi sú  
57  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
làm, người H'mông phải mời thầy cúng đến H'mông sau khi lập gia đình, sinh con đẻ cái  
để tẩy rửa mọi xui xẻo trong nhà, trong phải tổ chức cúng ma buồng (đax trong - ma  
dòng họ. Con vật được thay thế để nhận phụ nữ). Lễ cúng này là cúng ma phụ nữ,  
mọi xui xẻo là con dê. Con vật này sẽ cõng giúp cho gia đình chăn nuôi lợn tốt, bảo vệ  
những điều không may mắn đi thật xa, đến sức khỏe cho con cái trong nhà. Lễ vật cúng  
nơi hồ rộng biển sâu, nơi không có con bắt buộc phải có lợn, một quả bầu cong phần  
người và cả chim muông cũng không thể đầu để đựng nước luộc thịt và óc lợn. Khi  
đến đẻ trứng, khuất hẳn cuộc sống của họ. cúng, tay trái cầm quả bầu, tay phải cầm một  
Khi làm lễ cúng này, tất cả các gia đình cái roi nhỏ để vừa cúng vừa đuổi lợn. Cúng  
trong dòng họ phải cùng làm. Nếu gia đình đuổi lợn được thực hiện 5 lần. Hay như,  
nào trong họ mà không làm lễ tẩy uế thì ắt trong quan niệm của người H'mông, ma bếp  
hẳn mọi sự xui xẻo sẽ rơi vào nhà đó. Sau (đăk kho trù) là vị thần linh bảo vệ mùa  
lễ tẩy uế này, họ tin rằng, mọi xui xẻo sẽ màng, hoạt động sản xuất nông nghiệp. Một  
không đến nữa. Đến nay tục lệ này vẫn còn số dòng họ còn quan niệm ma bếp cũng liên  
được người H'mông thực hiện một cách chu quan đến sức khỏe và chăn nuôi, là người  
đáo. Có nhiều dòng họ cứ hai ba năm lại tổ trông nom tài sản khi gia đình đi vắng. Do  
chức một lần [12].  
đó, lễ cúng ma bếp được các gia đình tiến  
Bên cạnh các loại ma ác chuyên làm hại hành vào đêm 30 Tết với lễ vật là một con  
người, còn có các loại ma thiện. Loại ma gà. Trong cuộc sống hàng ngày, người  
này sống gần gũi với con người và được H'mông vẫn thực hiện những kiêng kị dành  
con người thờ cúng. Theo người H'mông, cho ma bếp, đó là khi làm lễ cúng năm mới  
ma buồng là ma coi giữ hồn của cha mẹ, 3 ngày, không được nhóm bếp, thổi lửa vì sợ  
con cái. Ma bếp là ma coi giữ lương thực, mùa màng năm đó bị gió cuốn gãy đổ;  
thực phẩm và sức khoẻ. Ma cửa (xia minhx) không được đánh đổ nước, nhất là nước cơm  
là ma giữ không cho tiếng khèn, tiếng xuống bếp, vì sợ mùa màng bị lũ quét phá  
trống, con ngựa hương vàng, con ngựa hoại do mưa to; không được giẫm chân lên  
hương trắng (đó là cáng treo người chết) có bếp, không được cáu gắt khi nhóm bếp vì  
trong gia đình. Đặc biệt là, bàn thờ (xử ca), làm ma bếp giận, bỏ đi. Phụ nữ trong thời  
ma cửa (miếng vải đỏ treo ở cửa chính), ma gian mang thai không được xúc tro trong  
buồng (chiếc rọ và quả bầu treo ở buồng bếp, vì xúc tro sẽ làm mùa màng thất bát, gia  
ngủ), ba thứ này không thể thiếu trong gia súc bị bệnh dịch; không được gõ hoặc đánh  
đình người H'mông và chúng đều bảo vệ vào bếp, vì điều đó sẽ vận vào sức khỏe của  
cho gia đình.  
ông chủ nhà (bị đau chân, đau tay). Đối với  
Theo quan niệm các gia đình, nếu không người H'mông, ma cửa (xìa mềnh) có nhiệm  
có ứng xử chu đáo, khéo léo với các loại ma, vụ như người gác cửa, ngăn ma ác vào nhà,  
thì sẽ có khả năng các ma sẽ làm cho cuộc bảo vệ gia súc, bảo vệ của cải, bảo vệ các  
sống gia đình không được hạnh phúc, làm ăn linh hồn, ngăn không cho hồn các thành viên  
gặp khó khăn, hay ốm đau, bệnh tật. Trong gia đình bỏ đi. Ma cửa thường ngự ở miếng  
văn hóa của người H'mông từ lâu đã có quy vải đỏ dán trước cửa chính, do vậy khi làm  
định mà bất cứ gia đình nào cũng phải tuân nhà mới, gia đình nào cũng phải lập bàn thờ  
theo; với quy định đó, đàn ông người ma cửa. Trong nghi lễ gọi ma cửa, bao giờ  
58  
Nguyễn Thị Song Hà, Võ Thị Mai Phương  
cũng có hai con gà trống, một con gà trống như, trường hợp trong gia đình có phụ nữ  
được gia đình nuôi. Con gà này tượng trưng mang thai mà có người thân trong gia đình  
cho ma cửa, khi có điều gì cần báo thì ma cửa mất, người mang thai muốn chịu tang phải  
nhập vào con gà này. Những lúc gia đình có nín hơi cài một đôi đũa cả ở sau lưng để  
công việc hệ trọng, ông chủ nhà thường lắng cho không bị sẩy thai (bởi theo quan niệm  
nghe tiếng gáy của con gà này để đoán định của đồng bào, đôi đũa là xương sống của  
mọi việc. Con gà này được gia đình giữ lại con người…). Người H'mông rất tin vào  
nuôi, không giết thịt, nếu chẳng may bị chết các hệ thống thần linh, đặc biệt vào các loại  
thì phải làm lễ để thay con khác [5, tr.99].  
ma, do đó khi người phụ nữ trong quá trình  
Về thờ cúng dòng họ, người H'mông có mang thai, nếu bị ốm, thường làm nghi thức  
một mối quan hệ dòng họ khá bền chặt, cúng ma nhà. Nếu đứa trẻ được sinh ra là  
thiêng liêng, nó là một trong những yếu tố con trai thì gia đình lấy cuống rốn của đứa  
cốt lõi tạo nên xã hội truyền thống của họ. trẻ quấn vào giấy bản và đem chôn vào cột  
Người H'mông gọi dòng họ là “xênhv”. Đó ma chính trong nhà (người H'mông quan  
là những người cùng gốc, cùng ông tổ, hay niệm đứa trẻ sinh ra là con trai thì được coi  
còn gọi là cùng ma. Điều đó có nghĩa là, là trụ cột trong gia đình, sau này sẽ được  
người cùng họ không chỉ có cùng tên họ giữ lại toàn bộ tài sản của gia đình). Nếu  
(Giàng, Vàng, Lý, Thào…), mà còn phải có đứa trẻ sinh ra là con gái, thì cuống rốn  
cùng cách cúng ma tổ tiên. Người H'mông được chôn ở gầm giường của người mẹ  
cho rằng, người có chung một tên họ (như (người H'mông quan niệm con gái là người  
Giàng, Vừ, Thào, Lầu, Lý…) đều coi nhau nuôi dạy con cái và nội trợ trong gia đình).  
như anh em dẫu không có cùng một ông tổ. Người H'mông quy định, nơi đẻ của phụ nữ  
Có những họ mang tên con vật. Đó là: Sùng là bên cạnh bếp lửa của gia đình, không  
(gấu), Hầu (khỉ), Lồ (lừa), Má (ngựa), Giàng được phép sinh con ở nơi khác, đặc biệt là ở  
(dê), Lùng (rồng)… Có những họ mang tên nhà người khác. Bởi như vậy, ma nhà, ma  
mầu sắc. Đó là: Hoàng (vàng), Lu (màu buồng và tổ tiên sẽ phật lòng và không phù  
xanh), Hùng (màu đỏ)… Có họ lấy tên cây. hộ cho thai phụ và đứa trẻ. Khi trong gia  
Đó là: Thào (đào), Lý (mận)… Có họ lấy tên đình có người đang sinh nở, người chồng  
đồ vật. Đó là: Cư (trống), Thèn (thùng)… phải đi chặt một số cành cây treo vào tất cả  
Tùy theo từng dòng họ mà người ta có cách các cửa ra vào của ngôi nhà để báo hiệu cho  
thức thờ cúng và kiêng kị khác nhau.  
những người lạ, người ngoài dòng họ không  
vào nhà lúc này (họ quan niệm sẽ không tốt  
cho sản phụ và đứa trẻ, ma làm hại sẽ rất có  
thể theo người lạ vào bắt linh hồn của đứa  
trẻ) [3].  
5. Tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ đời người  
Người H'mông theo văn hóa truyền thống  
Người H'mông quan niệm rằng, khi sinh  
có quan niệm rằng, các gia đình có nhiều ra, đứa trẻ chưa có linh hồn và linh hồn sẽ  
con cái, có con trai hay con gái, đều do ông được tồn tại trong cơ thể của đứa trẻ sau khi  
bà, tổ tiên phù hộ ban cho. Chính vì vậy, gia đình làm lễ gọi hồn về. Vì thế người  
trong cuộc sống hàng ngày, họ có nhiều tín H'mông quy định sau 3 ngày, gia đình phải tổ  
ngưỡng liên quan đến điều đó. Chẳng hạn chức làm lễ gọi hồn (hu plì) cho trẻ, nghi lễ  
59  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
này chính thức thông báo sự ra đời của một  
Về lễ dạm hỏi (mủ mua), sau 3 ngày từ khi  
thành viên mới trong xã hội. Từ sáng sớm, kéo vợ về nhà, gia đình nhà trai phải sang nhà  
khi mặt trời chưa mọc, gia đình tổ chức lễ gọi gái làm lễ hỏi dâu. Trong văn hóa truyền  
hồn cho đứa trẻ. Việc gọi hồn cho đứa trẻ có thống của người H'mông thường có một ông  
ý khẳng định từ nay trở đi, đứa bé là thành mối đi cùng gia đình nhà trai và thực hiện các  
viên trong gia đình. Trong buổi lễ, ông bà đeo nghi thức cần thiết và trong nghi thức này bắt  
chiếc vòng cổ bạc trắng và mặc chiếc áo sơ buộc phải có cặp bánh dày.  
sinh với ý nghĩa làm khoá giữ hồn đứa trẻ ở  
Về lễ cưới (nò chông), ở các tỉnh miền  
lại với bố mẹ, anh chị, ông bà, không cho hồn núi phía Bắc, người H'mông thường tổ chức  
đi lang thang, sẽ gây ốm đau bệnh tật.  
đám cưới vào các tháng 10, 11,12 và tháng  
1, 2 âm lịch hàng năm, khi mùa màng đã  
thu hoạch xong, thóc, ngô đã đầy nhà. Đám  
cưới truyền thống của người H'mông  
thường được tổ chức trong 3 ngày, hai ngày  
ở nhà trai và một ngày ở nhà gái. Theo quan  
niệm người H'mông, ngày đẹp được chọn  
để làm lễ cưới là “đi mồng 1 về mồng 2”  
âm lịch, hay “đi ngày con chuột về ngày  
con trâu”. Có nghĩa là, đi ngày lẻ về ngày  
chẵn hay đi một về hai, đi nhỏ về to. Điều  
đó thể hiện mong muốn một cuộc sống lứa  
đôi hạnh phúc, đầy đủ và phát triển.  
Có lẽ, đối với bất cứ một tộc người nào  
cũng vậy, tang ma thể hiện rõ nhất đặc  
trưng văn hóa của tộc người, nó thể hiện  
được các giá trị văn hóa, lịch sử, giáo dục,  
tâm linh và có nhiều nghi thức phức tạp  
nhất. Trong nghi thức tang ma của người  
H'mông, các giá trị nhân sinh quan, vũ trụ  
quan và văn hóa truyền thống được bộc lộ  
một cách sâu sắc thông qua cách ứng xử  
của người sống đối với người chết. Nghi lễ  
tang ma của người H'mông có một số nghi  
thức mang tính đặc trưng văn hóa và liên  
quan đến tín ngưỡng của cộng đồng như:  
Nghi lễ đuổi giặc ma được tiến hành mỗi  
ngày 3 lần (sáng, trưa, chiều). Để thực hiện  
nghi lễ này phải có từ 5 đến 7 người, chạy  
xung quanh nhà 7 vòng đi và 7 vòng về  
(nếu người chết là nam), 9 vòng đi và 9  
vòng về (nếu người chết là nữ). Mỗi lần đội  
Phong tục, tập quán của người H'mông  
trong hôn nhân chứa đựng nhiều đặc điểm  
văn hóa đặc trưng của tộc người, bên cạnh  
các đặc điểm tương đồng thì có sự khác biệt  
giữa các nhóm H'mông khác nhau. Tuy  
nhiên, về cơ bản trong đám cưới có các  
nghi lễ sau.  
Kéo vợ (háy pù) là một tập quán mang  
tính đặc trưng của văn hóa trong hôn nhân  
của người H'mông. Thông thường, khi đôi  
trai gái đã tìm hiểu và yêu nhau được một  
thời gian, sẽ hẹn ngày cũng như địa điểm để  
nhà trai tổ chức kéo về làm vợ. Việc kéo vợ  
được thực hiện khi có sự thống nhất từ cả hai  
bên gia đình. Chàng trai trước khi đi kéo vợ  
phải thưa chuyện với bố mẹ, nếu bố mẹ nhất  
trí với cô gái mà chàng trai chọn thì sẽ cho  
phép chàng trai kéo về. Trường hợp hai  
người thích nhau thì việc tổ chức kéo vợ sẽ  
chỉ là thủ tục, khi nhà trai tổ chức kéo vợ, cô  
gái thích chàng trai nhưng phải giả bộ không  
thích, bằng cách làm động tác giằng co với  
đoàn kéo vợ bên nhà trai.  
Về việc thông báo (thông su), sau khi kéo  
dâu về, nhà trai cử người đến báo cho nhà  
gái về việc bắt dâu. Theo phong tục, tập  
quán, buổi sáng sau hôm kéo vợ, nhà trai mổ  
gà làm bữa cơm mời anh em trong họ để  
thông báo gia đình đã kéo được vợ về nhà  
cho con trai.  
60  
Nguyễn Thị Song Hà, Võ Thị Mai Phương  
chạy đến cửa chính, cửa phụ, người ta thổi quanh người chết. Trong văn hóa truyền  
lên 3 hồi tù và, đâm mác, chém đai đao, thống, lễ vật dành cho người chết mà con  
phang phạt kiếm; thầy đánh trống đánh cháu phải chuẩn bị có giá trị tài sản rất lớn  
từng hồi; thầy khèn trong nhà cũng vừa (thường là bò, lợn, dê…). Vì thế, người  
thổi, vừa nhảy, vừa chạy. Điều đó gây chết gây không ít khó khăn, tốn kém và vất  
không khí náo động tượng trưng cho việc vả cho người sống.  
chiến đấu, đuổi giặc ma đến quấy rối hồn  
Lễ cúng ma bò (nhùx đá) hay là lễ ma  
người chết; đồng thời cũng là sự mô phỏng khô. Khi nào các con của người chết có  
việc tổ tiên, cha ông người H'mông xưa kia điều kiện nuôi được bò hoặc có tiền mua bò  
khi còn sống luôn bị giặc đánh phá cướp thì bắt đầu làm lễ ma bò cho bố mẹ. Cách  
nước, cướp đất, bị giết chóc,...  
thức làm cũng tương tự như làm lễ thả hồn  
Trong đám ma người H'mông bắt buộc và lễ cúng ma buồng, nhưng con cháu  
phải có nghi thức thổi kèn, nếu không thì thường không khóc, lễ vật là 1 con bò to  
linh hồn người chết không về được với tổ hay nhỏ tuỳ ý. Lễ này có thể còn được tổ  
tiên. Một nghi lễ thổi khèn đầy đủ gồm: bài chức do bố hoặc mẹ đã chết về đòi con cháu  
khèn tắt thở (kễnh tu sía); bài khèn dỡ chỗ cho bò (thông qua việc con cháu trong gia  
ngủ (kềnh dờ lán - zơưk lar) dành cho đình có người ốm yếu, hoặc nằm mơ, hoặc  
những người đau ốm lâu ngày; bài khèn lên do thầy mo, thầy cúng xem trúng thì cũng  
ngựa (tra nềnh); bài khèn tra trò; bài khèn phải làm ma bò).  
hu gầu; bài khèn bữa sáng, trưa, tối (kềnh  
yail, kềnh xu, kềnh hmo); bài khèn lỏ xá lỏ  
hmo (nống txư); bài khèn chào đón (to  
khùa) những người đến phúng viếng; bài  
6. Tín ngưỡng thờ cúng nông nghiệp  
khèn đến thăm người chết (kênh sùa sâu - Lễ cơm mới (nào mó dầy tra) thường  
shuôs sâu); bài khèn đốt giấy (kềnh lớ tớ - được tiến hành sau khi đã thu hoạch lúa,  
hlơưr ntơưr); bài khèn đưa người chết ra để tỏ lòng biết ơn tổ tiên đã phù hộ có  
ngoài (yưv yar); bài khèn lên đường (sớ cế). được một vụ mùa bội thu, và để mời tổ  
Trước khi đem đi chôn, người chết được tiên thưởng thức bát cơm mới, cầu mong  
đặt nằm trên chiếc sàn làm sẵn ngoài bãi tổ tiên phù hộ mùa màng năm sau được  
trống. Xung quanh chỗ đặt người chết, tươi tốt. Lễ cơm mới được thực hiện trong  
người ta cắm lá xanh, phía trên có giàn che phạm vi gia đình. Trong lễ cơm mới, các  
sương che nắng. Tại đây, nghi lễ chính là gia đình phải nấu cơm bằng gạo mới và  
dâng hiến các lễ vật cho người chết. Đây là thịt gà. Ông chủ gia đình đặt đồ lễ lên bàn  
các lễ vật do con cái trong gia đình mua để thờ tổ tiên, mời tổ tiên và các loại ma nhà  
dành cho người chết. Ông trưởng tang chủ ăn trước. Sau đó, các thành viên trong gia  
làm lễ dâng hiến từng con vật. Ông buộc đình mới được hưởng.  
một sợi dây từ quan tài nối với con vật  
Lễ ngô mới (ngó pak cù tra) được tổ  
được dâng tế6, đọc bài tế, rồi cứ thế lần lượt chức đơn giản hơn lễ cơm mới, trước khi ăn  
mổ từng con vật; đồng thời, con cháu, đến loạt ngô mới thu hoạch. Ở đó, người  
người thân khóc lóc, trống được gõ liên hồi, H'mông luộc ngô chín, đặt lên nơi thờ tổ  
người thổi khèn vừa thổi, vừa nhảy vòng tiên để mời tổ tiên ăn trước. Đồng thời, đây  
61  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
cũng là hình thức tạ ơn tổ tiên đã phù trợ trước thần linh, các thành viên nam trong  
cho một mùa màng bội thu và cầu khấn tổ cộng đồng người H'mông sẽ cam kết với  
tiên tiếp tục phù hộ cho mùa sau được nhiều nhau về việc bảo vệ mùa màng, gia súc,  
và không bị sâu bệnh phá hoại.  
rừng cấm trên cơ sở của tình đoàn kết.  
Lễ hội gầu tào được coi là một trong  
Lễ cúng nương (pảu tê) (hay còn gọi là  
lễ cúng “trả nương”) là một hình thức cúng những lễ hội tiêu biểu nhất của người  
cho thổ công, thổ địa, thần nương, thần H'mông. Lễ hội này được tổ chức vào mùa  
rừng. Khi nương lúa, nương ngô hay những xuân, vừa mang ý nghĩa mừng một năm lao  
cây trồng của gia đình có hiện tượng sâu động, cầu sức khỏe, cầu sinh sôi nảy nở,  
bệnh, mọc không đều, hay trong một nương vừa là sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.  
có cây sống, cây chết, người H'mông Hội gầu tào gồm hai phần chính: phần lễ và  
thường thực hiện nghi lễ thương lượng với phần hội. Phần nghi lễ bắt đầu bằng lễ dựng  
các vị thần ở nương. Sau khi thu hoạch, gia cây nêu nhằm thông báo nơi mở hội. Khi  
đình đó chuẩn bị lễ vật đúng như đã hứa để cây nêu đã dựng xong, dân bản dâng cúng  
trả công cho thần nương.  
một mâm lễ để báo cáo với cúng thần linh  
và tổ tiên, trời đất mở hội gầu tào. Lễ vật  
gồm có thủ lợn, xôi, rượu… Tại lễ hội này,  
dân làng xin dâng hiến các vị thần một con  
vật bốn chân, cơm xôi, rượu ngô và tiền  
7. Tín ngưỡng liên quan đến lễ hội  
Tết truyền thống của người H'mông có thời vàng, tiền bạc; mời các vị đến nhận rồi phù  
gian trùng vào Tết dương lịch. Tết là dịp để hộ cho dân làng (có con cái khoẻ mạnh, học  
cảm tạ tổ tiên, thần linh và đón chào năm giỏi, làm ăn khấm khá, mùa màng tốt tươi,  
mới. Trong những ngày Tết, các gia đình con cái trong gia đình thuận hòa…). Sau  
đốt củi, giữ bếp đỏ lửa liên tục để vừa giữ phần “lễ” là phần “hội” với các trò chơi dân  
ấm, vừa xua đuổi tà ma và cầu mong bình gian, đàn hát “gầu plềnh”. Từ ý nghĩa ban  
an, may mắn. Các đồ vật trong nhà (như đầu (là lễ tạ ơn chúc cho nhiều con nhiều  
cuốc, thuổng, dao, rựa…) được dán giấy để cháu, mang màu sắc tôn giáo), gầu tào trở  
xua đuổi tà ma và cầu mong may mắn, tốt thành lễ hội trổ tài và giao duyên của nam  
lành. Trong ngày này, các gia đình người nữ H'mông [5, tr.155].  
H'mông soạn sửa, trang trí lại nhà cửa, bàn  
thờ tổ tiên. Đây cũng là dịp các chàng trai,  
8. Kết luận  
cô gái người H'mông được tham gia các lễ  
hội của cộng đồng như ném pao, bắn nỏ,  
kéo co, múa khèn, đẩy gậy…  
Tín ngưỡng của cộng đồng người H'mông ở  
Lễ nào sồng là một trong những lễ hội Việt Nam khá đa dạng, chứa đựng nhiều giá  
quan trọng của người H'mông. Lễ này được trị văn hóa. Tuy nhiên, trong thời gian qua,  
tổ chức đầu năm trong cộng đồng để cúng một bộ phận người H'mông chuyển đổi từ  
thần rừng và thống nhất những quy định tín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin Lành.  
của làng bản để thực hiện trong năm, Đang có sự chuyển biến lớn trong nhận  
thường được người H'mông tổ chức vào thức của một bộ phận cộng đồng người  
tháng giêng hoặc tháng 10 âm. Trong lễ đó, H'mông về niềm tin, tín ngưỡng; và điều  
62  
Nguyễn Thị Song Hà, Võ Thị Mai Phương  
này đã tác động đến và chi phối các sinh hiện, đối tượng tạ ơn chuyển từ tổ tiên sang  
hoạt thường ngày của họ. Điểm nhận thấy Thiên Chúa. Người H'mông theo đạo Tin  
đầu tiên trong sự biển đổi tín ngưỡng tôn Lành không lập bàn thờ, không thực hiện  
giáo của người H'mông theo Tin Lành là sự các ngày giỗ. Đặc biệt, người H'mông theo  
thay đổi từ việc tin, việc thờ nhiều ma sang Tin Lành rất hào hứng tổ chức và tham gia  
việc chỉ tin, chỉ thờ Chúa Giê-su. Văn hóa các ngày lễ quan trọng của tôn giáo như  
H'mông theo Tin Lành có sự đối lập với ngày Giáng sinh, Phục sinh.  
văn hóa H'mông truyền thống, vì một bên  
Cộng đồng người H'mông theo Tin Lành  
tin vào Chúa, một bên tin vào ma. Việc đặt hầu như không còn tham dự những lễ hội  
niềm tin vào Chúa hay ma sẽ tác động đến truyền thống, mà thay vào đó, họ đến cầu  
cách thực hành nghi lễ, cách thức ứng xử nguyện tập thể tại các nhà nguyện của điểm  
khác nhau. Theo đạo Tin Lành, linh hồn khi nhóm và tham dự các ngày lễ quan trọng  
chết đi là về với Chúa, được Chúa che chở, của tôn giáo. Đây cũng là lý do tạo ra  
chính vì vậy, việc thờ cúng tổ tiên đã bị xóa khoảng cách giữa những người theo đạo và  
bỏ, thay vào đó là việc cầu nguyện theo người không theo đạo, ảnh hưởng đến mối  
nghi thức tôn giáo. Cũng như vậy, quan quan hệ giữa cộng đồng người H'mông. Đối  
niệm về các loại ma và các hình thức cúng với những người H'mông không theo đạo  
ma của người H'mông theo Tin Lành đã Tin Lành, họ khó chấp nhận được việc  
không còn; tất cả chỉ tập trung vào Chúa, không tham gia các lễ hội truyền thống của  
chỉ có Chúa hiện diện trong tâm linh và dân tộc mình, cho rằng như thế sẽ làm phai  
niềm tin tôn giáo mới; Chúa đã chiếm một nhạt đi bản sắc văn hóa của dân tộc, không  
vị trí độc tôn với quyền năng vô hạn đối với tôn trọng văn hóa truyền thống. Trong các  
niềm tin của họ [9]. Mối liên hệ với Chúa lễ hội truyền thống người H'mông thường  
được duy trì hàng ngày (cầu nguyện trước sử dụng khèn. Khèn là một trong những  
bữa ăn), dần thấm sâu vào trong tâm thức phương tiện để người H'mông giao tiếp với  
người H'mông. Niềm tin tôn giáo của người ông bà tổ tiên, với các ma. Còn theo Tin  
H'mông đối với đạo Tin Lành còn được thể Lành là theo Chúa, tin vào Chúa; không tin  
hiện thông qua hệ thống giáo lý, khuyên răn vào ma nhà, chính vì vậy người H'mông  
con người sống lương thiện, thương yêu và theo tin lành ít hoặc không tham dự các lễ  
có trách nhiệm với bố mẹ và gia đình, từ bỏ hội truyền thống [9].  
những việc làm không tốt như không uống  
Trong lịch sử phát triển của dân tộc,  
rượu, đánh nhau… Niềm tin đó được hiện những tín ngưỡng văn hóa của người  
thực hóa thông qua các bài kinh. Các nghi H'mông cũng đã có nhiều thay đổi về quan  
thức trong sinh hoạt tâm linh cũng biến đổi niệm, thực hành nghi lễ, các lễ vật để thích  
sang nghi lễ tôn giáo. Các nghi lễ liên quan ứng với môi trường và điều kiện sống mới.  
tới chu kỳ đời người đều cắt bỏ, hoặc được Song nhiều giá trị văn hóa đặc trưng mang  
tổ chức đơn giản bằng việc cầu nguyện với tính cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa của tộc  
sự chứng giám của Chúa và có sự giúp đỡ người vẫn được bảo lưu, gìn giữ.  
của Mục sư hay Trưởng nhóm. Các nghi  
Từ thực tiễn nêu trên, có nhiều vấn đề  
thức thờ cúng nông nghiệp vẫn có thể tiến đặt ra cho các cơ quan chức năng từ trung  
hành, song có sự thay đổi về hình thức thực ương tới địa phương trong nghiên cứu,  
63  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
tham mưu với Đảng, Nhà nước (để ban Tài liệu tham khảo  
hành những chính sách phát triển kinh tế,  
văn hóa, xã hội phù hợp với đặc điểm, tình  
hình dân tộc H'mông). Trong đó, cần có  
chính sách bảo tồn, giữ gìn và phát huy  
những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc, và  
loại bỏ dần những phong tục, tập quán  
không còn phù hợp trong xã hội hiện tại,  
đáp ứng được nhu cầu văn hóa, tinh thần,  
tín ngưỡng, tâm linh của đồng bào. Đồng  
thời, cần tuyên truyền để người H'mông  
không bị ảnh hưởng tư tưởng của các thế  
lực thù địch, chống phá công cuộc xây  
dựng đất nước ta hiện nay.  
[1] Bế Viết Đẳng (1984), Dân tộc Mèo trong Các  
dân tộc thiểu số ở Việt Nam (các tỉnh miền núi  
phía Bắc), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[2] Nguyễn Thị Song Hà, Hồ Xuân Định (2014),  
“Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người  
H'mông”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 2.  
[3] Nguyễn Thị Song Hà (2016), “Tập quán, nghi  
lễ sinh đẻ và chăm sóc trẻ nhỏ hiện nay của  
người H'mông từ Tây Bắc di cư vào Đắk Lắk”,  
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4.  
[4] Hoàng Xuân Lương (2000), Văn hoá người  
H'mông ở Nghệ An, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.  
[5] Võ Thị Mai Phương (2017), Biến đổi văn hóa  
tinh thần của người H'mông di cư ở Đắk Lắk,  
Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[6] Vương Duy Quang (1987), “Quan hệ dòng họ  
trong xã hội người H'mông”, Tạp chí Dân tộc  
học, số 2.  
Chú thích  
3
Bài báo được sự tài trợ của đề tài cấp nhà nước:  
Biến đổi văn hóa của các dân tộc thiểu số - những  
vấn đề đặt ra và giải pháp trong thời gian tới, Mã  
số: CTDT 11.17/16-20.  
[7] Tổng cục Thống kê (1979), Quyết định số 121-  
TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979, Danh mục thành  
phần dân tộc Việt Nam, Hà Nội.  
4 Họ Vàng tại Ý Linh Hồ (xã San Sả Hồ, thị trấn Sa  
Pa, Lào Cai) vẫn có bàn thờ tổ tiên. Bàn thờ tổ tiên  
của họ Vàng ở Sa Pa là 2 tờ giấy đỏ dán ngang hàng  
và trên 2 tờ giấy bản lớn. Bàn thờ có một bát hương  
lớn, 3 chiếc chén và một bát gạo. Nếu bàn thờ thờ  
bao nhiêu người thì khi thắp hương phải để lên bát  
gạo bấy nhiêu quả trứng.  
[8] Biến đổi văn hóa của các dân tộc thiểu số -  
những vấn đề đặt ra và giải pháp trong thời  
gian tới, Tư liệu phỏng vấn sâu của đề tài cấp  
nhà nước CTDT 11.17/16-20, (2017), Hà Nội.  
[9] Nguyễn Quỳnh Trâm (2016), Văn hóa của  
người H'mông theo Đạo Tin Lành ở Lào Cai,  
Luận án tiến sĩ Nhân học, Học viện Khoa học  
xã hội, Hà Nội.  
5
Nếu nhìn vào từng ngôi mộ, có thể biết được người  
chết thuộc dòng họ nào. Ví dụ, dòng họ Sùng cúng chim,  
mộ không có cửa, xếp đá ở chân mộ, mộ đàn ông có 4  
hoặc 6 viên, mộ đàn bà là 3, 5, hoặc 7 viên. Họ Sùng  
cúng gà, mộ không có cửa, xếp đa chân mộ, mộ đàn ông  
là 5 viên, mộ đàn bà có 7 viên theo quy định, hoặc có bia  
mộ. Đối với họ Vừ mộ không có cửa, xếp 3 hàng đá  
xung quanh, mộ đàn ông chôn bên phải, mộ đàn bà chôn  
bên trái và thụt lui sau mộ đàn ông một chút.  
[10] Trần Hữu Sơn (1995), Đời sống văn hoá tinh  
thần người H'mông ở Lào Cai (Truyền thống  
và hiện đại), Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học  
Lịch sử, Hà Nội.  
[11] Trần Hữu Sơn (1996), Văn hoá H'mông, Nxb  
Văn hoá dân tộc, Hà Nội.  
[12] Mua Hồng Sinh (2016), Tang ma dòng họ Giàng  
người H mông Trắng xã Sủng Trà, huyện Mèo  
Vạc, tỉnh Hà Giang, Luận văn thạc sĩ Dân tộc học,  
Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.  
6 Trước đây, người chết được đặt trên cáng để khiêng  
ra huyệt và quan tài được ghép sẵn dưới huyệt, nên  
người ta buộc sợi dây vào tay người chết nối với con  
vật dâng tế.  
[13] Cư Hoà Vần, Hoàng Nam (1994), Dân tộc Mông  
ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.  
64  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
12  
pdf 13 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 21660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tín ngưỡng của người H'mông ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftin_nguong_cua_nguoi_hmong_o_viet_nam.pdf