Một số đặc trưng của phong trào Tây Sơn thế kỷ xviii

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG TRÀO TÂY SƠN THẾ KỶ XVIII  
Trần Thị Thùy Dung1  
TÓM TẮT  
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thế kỷ XVIII là thời kỳ của chiến tranh nông  
dân với đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Dưới sự lãnh đạo của ba anh em nhà Tây  
Sơn, từ một phong trào ở ấp Tây Sơn đã phát triển thành phong trào quật khởi của  
cả dân tộc, là kết tinh của phong trào nông dân đấu tranh trong thế kỷ XVIII. Bài  
viết hướng đến tìm hiểu một số đặc trưng của phong trào Tây Sơn, qua đó thấy được  
những nét đặc sắc của phong trào, đồng thời khẳng định những đóng góp của phong  
trào đối với sự nghiệp thống nhất và bảo vệ độc lập dân tộc của đất nước.  
Từ khóa: Phong trào Tây Sơn, đặc trưng  
1. Mở đầu  
Các vua Lê Uy Mục, Lê Tương  
Dực chỉ lo ăn chơi, không lo triều  
chính. Nội bộ triều Lê “chia bè kéo  
cánh”, tranh giành quyền lực. Dưới  
triều Lê Uy Mục, quý tộc ngoại thích  
nắm hết quyền lực, giết hại công thần.  
Dưới triều Lê Tương Dực, tướng Trịnh  
Duy Sản gây bè phái, đánh giết nhau  
liên miên suốt hơn mười năm. Chế độ  
phong kiến nhà Lê dần rơi vào cảnh  
khủng hoảng do các vua trị vì ăn chơi sa  
đọa, tha hóa làm cho triều đình rối loạn.  
Nhân khi triều đình rối loạn, quan lại ở  
địa phương cậy quyền, ức hiếp dân, đời  
sống của các tầng lớp nhân dân lâm vào  
cảnh khốn cùng.  
Từ giữa thế kỷ XVIII, tình hình  
chính trị ở Đàng Ngoài ngày càng mất  
ổn định, vua Lê không còn thực quyền,  
mọi quyền bính đều rơi vào tay chúa  
Trịnh, phủ chúa quanh năm hội hè, yến  
tiệc, phung phí tiền của. Nhà nước trung  
ương không ngừng tăng cường bóc lột  
nhân dân, nhà nước tận thu tô thuế, họ  
Trịnh đánh thuế vào cả những diện tích  
đất “đồng chua nước mặn”, “bãi cát  
trắng”, đất không sản xuất được; chính  
sách thuế thổ sản đánh vào tất cả các  
nghề thủ công của nhân dân làm cho  
Thế kỷ XVI – XVIII, đất nước bị  
chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài,  
thống nhất đất nước trở thành nhu cầu  
cấp thiết của toàn dân, là nguyện vọng  
tha thiết của nhân dân, yêu cầu khách  
quan của xã hội. Phong trào Tây Sơn  
xuất hiện năm 1771 đã từng bước giành  
được thắng lợi, lật đổ các chính quyền  
phong kiến Lê – Trịnh – Nguyễn, non  
sông nước Việt sau thời gian dài bị chia  
cắt đã được thu về một mối. Sau khi  
đánh đổ chính quyền phong kiến phản  
động trong nước, phong trào Tây Sơn  
đã vươn lên làm nghĩa vụ dân tộc,  
chống thù trong giặc ngoài, cứu dân cứu  
nước – một thắng lợi vĩ đại của phong  
trào Tây Sơn  
2. Nội dung  
2.1. Bối cảnh lịch sử Đại Việt thế  
kỷ XVIII  
Thế kỷ XV chế độ phong kiến nhà  
Lê phát triển đến giai đoạn cực thịnh.  
Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, triều đình  
phong kiến nhà Lê bắt đầu suy yếu, tranh  
chấp giữa các phe phái diễn ra quyết liệt,  
gây ra các cuộc nội chiến kéo dài, đời  
sống nhân dân ngày càng cực khổ.  
1Trường Đại học Đồng Nai  
93  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
nhiều nghề thủ công bị phá sản, hoạt  
động công thương nghiệp bị kìm hãm.  
Tình trạng thiếu thuế năm này dồn sang  
năm khác trở thành gánh nặng khủng  
khiếp đối với người dân, nhiều người  
phải bỏ nghề, phá bỏ công cụ sản xuất  
để tránh nộp thuế, cuộc sống của nhân  
dân ngày càng khổ cực, vào những năm  
40 của thế kỷ XVIII, hàng chục vạn  
nông dân chết đói, người sống sót phải  
bỏ làng quê, phiêu tán khắp nơi. Không  
những thế, việc mua quan bán tước  
ngày càng trở nên phổ biến, năm 1736 –  
1740, chúa Trịnh Giang bốn lần quy  
định thể lệ mua quan bán tước, cho  
phép quan lại nộp tiền để thăng chức và  
nhà giàu nộp tiền để được làm quan;  
năm 1750, họ Trịnh đặt “tiền thông  
kinh”, nộp ba quan tiền thì được miễn  
khảo hạch và coi như trúng sinh đồ.  
Trong khi triều đình trung ương chỉ  
lo ăn chơi, không chăm lo đến đời sống  
sống nhân dân, quan lại địa phương  
càng ra sức đục khoét, ức hiếp, nhũng  
nhiễu nhân dân, cuộc sống của người  
dân thường xuyên bị đe dọa. Đồng thời,  
nạn chiếm đoạt ruộng đất trở thành hiện  
tượng phổ biến và ngày càng nghiêm  
trọng. Bằng nhiều hình thức và thủ  
đoạn, tầng lớp địa chủ đã chiếm đoạt  
rụông tư của nông dân, mặt khác xâm  
lấn vào ruộng đất công của làng xã.  
Phần lớn ruộng công làng xã – niềm tin  
của nông dân công xã đã bị nhà nước  
cắt xén để ban cấp cho quan lại và quân  
lính. Kết quả là phần ruộng cho nông  
dân ngày càng ít, hàng loạt nông dân bị  
gạt ra khỏi ruộng đất hoặc cố bám lấy  
mảnh ruộng “chết đói” để gắng gượng  
một cuộc sống cơ cực.  
Bên cạnh đó, thiên tai, vỡ đê, hạn  
hán xảy ra liên miên; các năm 1678,  
1681, 1684, 1687… là những năm hạn  
hán, mất mùa lớn. Đặc biệt, nạn đói  
khủng khiếp năm 1740 – 1741 ở Đàng  
Ngoài “dân phiêu tán dắt díu nhau đi  
kiếm ăn đầy đường. Giá gạo cao vọt,  
một trăm đồng tiền không được một  
bữa no, nhân dân phần nhiều phải ăn  
rau, ăn củ, đến nổi ăn cả thịt rắn, thịt  
chuột, chết đói chồng chất lên nhau; số  
dân còn lại mười phần không được một.  
Làng nào vốn có tiếng trù mật cũng chỉ  
còn lại độ năm ba hộ mà thôi” [1, tr.  
852], cuộc sống của người dân rơi vào  
cảnh cùng khốn.  
Nếu như chính sách của chế độ  
quân chủ tập quyền Đàng Ngoài thời kỳ  
này đã đẩy mâu thuẫn giữa nông dân  
với địa chủ, giữa nhân dân với nhà nước  
phong kiến trở nên gay gắt, làm bùng  
nổ các cuộc khởi nghĩa, thì đến nửa  
cuối thế kỷ XVIII, ở Đàng Trong,  
những mâu thuẫn cố hữu của chế độ  
phong kiến cũng đã đẩy xã hội Đàng  
Trong lâm vào cuộc khủng hoảng.  
Chúa Nguyễn Phúc Khoát sau khi  
xưng vương, tạo lập triều đình riêng,  
cho xây dựng cung điện theo quy mô  
của một đế đô. Không chỉ riêng các  
chúa Nguyễn mà tất cả quan lại, quý tộc  
Đàng Trong đều đua nhau ăn chơi,  
hưởng lạc đến cực độ, trong đó nổi bật  
là Trương Phúc Loan, ông nắm hết  
quyền hành, khét tiếng tham nhũng,  
vàng, bạc, châu, ngọc, lụa chất “thành  
núi”, ruộng vườn, nhà cửa, trâu ngựa  
không đếm xuể. Chính sách thuế khóa  
của chính quyền họ Nguyễn cũng hết  
sức nặng nề, phức tạp “hàng trăm thứ  
thuế, mà trưng thu thì phiền phức, gian  
94  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
lận, nhân dân khốn khổ về nỗi một cổ  
hai tròng” [2, tr. 413], thuế thổ sản có  
hàng trăm ngàn thứ, nhà nước cần gì thì  
đặt ra thứ thuế ấy để thu. Hệ thống quan  
thu thuế “bản đường quan” đông đảo,  
luôn tìm cách hạch sách, nhũng nhiễu  
nhân dân. Quan trường trở thành nơi  
làm giàu của bọn quan lại, do vậy nạn  
mua bán quan tước diễn ra rất phổ biến.  
Về kinh tế, trong thời Trịnh –  
Nguyễn phân tranh và sau đó là giai  
đoạn đất nước bị chia cắt, kinh tế Đàng  
Trong có sự phát triển hơn Đàng Ngoài.  
Thế nhưng, bước sang thế kỷ XVIII,  
kinh tế Đàng Trong bắt đầu có những  
dấu hiệu suy thoái trên các lĩnh vực:  
ngoại thương sa sút, các đô thị như  
Thanh Hà, Hội An dần dần lụi tàn; khi  
ngoại thương suy giảm, “nạn tiền  
hoang” gây ra tình tạng rối loạn nội tệ,  
dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ, làm  
ngưng trệ mọi hoạt động lưu thông;  
phần lớn ruộng đất đều tập trung trong  
tay giai cấp địa chủ giàu có, giai cấp  
nông dân cực khổ, mâu thuẫn giai cấp  
ngày càng trở nên sâu sắc. Hơn nữa, đói  
kém xảy ra, đặc biệt năm 1774, Thuận  
Hóa bị đói lớn, dân bị chết đói rất  
nhiều, xác chết chồng chất lên nhau.  
Trước tình hình đó, người nông dân đã  
nổi dậy đấu tranh, mở đầu là cuộc khởi  
nghĩa của chàng Lía ở Quy Nhơn, sau  
đó là phong trào Tây Sơn – phong trào  
làm rung chuyển cả đất nước.  
người nông dân vào cuộc sống bần cùng  
nghèo khổ, nhiều người phải phiêu bạt,  
lưu tán. Bên cạnh đó, hạn hán, đói kém  
xảy ra, đời sống nhân dân ngày càng cơ  
cực, tất cả những điều đó đã đẩy mâu  
thuẫn kinh tế xã hội ở nước ta lên đỉnh  
điểm và là nguyên nhân dẫn tới sự bùng  
nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa.  
2.2. Sơ lược về phong trào Tây Sơn  
Phong trào Tây Sơn nổ ra ở Đàng  
Trong vào nửa cuối thế kỷ XVIII, do ba  
anh em nhà họ Nguyễn: Nguyễn Nhạc,  
Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo.  
Năm 1771 cuộc khởi nghĩa Tây Sơn  
bùng nổ với khẩu hiệu: “đánh đổ quyền  
thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng  
tôn Nguyễn Phúc Dương”. Mục đích  
của khởi nghĩa Tây Sơn là chống lại áp  
bức của bọn cường hào, địa chủ, tiêu  
diệt Trương Phúc Loan, “thực hiện  
công lý trong xã hội”. Phong trào Tây  
Sơn không ngừng phát triển và liên tiếp  
giành được những thắng lợi to lớn: năm  
1773, chiếm phủ Quy Nhơn; từ năm  
1776 đến năm 1783, nghĩa quân Tây  
Sơn đã bốn lần đánh vào Gia Định.  
Trong lần tiến quân thứ hai (năm 1777)  
Tây Sơn bắt giết được chúa Nguyễn, chỉ  
còn Nguyễn Ánh chạy thoát, chính  
quyền họ Nguyễn Đàng Trong bị lật đổ.  
Sau nhiều lần thất bại, Nguyễn Ánh  
sang Xiêm cầu cứu. Chớp cơ hội, tháng  
7 năm 1784 vua Xiêm sai tướng đem 5  
vạn quân thủy bộ theo Nguyễn Ánh  
sang xâm lược nước ta. Cuối năm 1784,  
quân Xiêm đã chiếm miền Tây Gia  
Định, chúng ra sức cướp phá, giết  
người. Nguyễn Nhạc đã cử Nguyễn Hụê  
vào Nam đánh giặc. Tháng 1 năm 1785  
Nguyễn Huệ lãnh đạo quân Tây Sơn  
đánh thắng trận Rạch Gầm - Xoài Mút.  
Như vậy, thế kỷ XVIII chế độ  
phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong  
bước vào cuộc khủng hoảng nghiêm  
trọng, giai cấp địa chủ chiếm đoạt ruộng  
đất của nông dân, chính sách thuế khóa  
nặng nề và những thủ đoạn bóc lột tàn  
bạo của nhà nước phong kiến đã đẩy  
95  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút là  
một trong những trận thủy chiến lớn  
nhất, đập tan âm mưu xâm lược của vua  
Xiêm do Nguyễn Ánh dẫn đường và  
khẳng định sức mạnh to lớn của nghĩa  
quân Tây Sơn cũng như thiên tài quân  
sự Nguyễn Huệ.  
Năm 1786, với danh nghĩa “phù Lê  
diệt Trịnh” phong trào Tây Sơn chuyển  
mục tiêu đấu tranh ra phía Bắc, quân  
Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo đã  
đánh đổ hoàn toàn nền thống trị của họ  
Trịnh. Sau đó, bằng những cuộc tiến  
công ra Bắc năm 1787 – 1788, quân  
Tây Sơn lật đổ sự thống trị của vua Lê,  
chế độ vua Lê chúa Trịnh thống trị ở  
Bắc hà bị sụp đổ.  
Sau khi đánh đổ các chính quyền  
phong kiến phản động trong nước,  
phong trào Tây Sơn đã vươn lên làm  
nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ đất  
nước. Với chiến thắng Ngọc Hồi –  
Đống Đa, Quang Trung đã đánh tan đội  
quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ  
huy, bảo vệ độc lập dân tộc.  
Phong trào Tây Sơn là một trong  
những phong trào nông dân tiêu biểu  
trong thời phong kiến Việt Nam. Phong  
trào đã lần lượt đánh đổ ba chính quyền  
phong kiến, phá tan hai cuộc xâm lược  
và can thiệp của ngoại bang, xóa bỏ tình  
trạng chia cắt Đàng Trong – Đàng  
Ngoài, thực hiện công cuộc thống nhất  
đất nước, để lại dấu ấn đậm nét trong  
lịch sử nước nhà.  
trù phú nhưng cũng là vùng chịu tô thuế  
hà khắc thời bởi các chính sách áp bức  
của các chúa Nguyễn. Năm 1771, ba  
anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,  
Nguyễn Lữ lên vùng Tây Sơn thượng  
đạo (nay thuộc An Khê, Gia Lai) lập  
căn cứ, dựng cờ khởi nghĩa chống chính  
quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong.  
Trong giai đoạn đầu của phong trào,  
nghĩa quân Tây Sơn tranh thủ được sự  
ủng hộ của các cá nhân thuộc giai cấp  
thống trị bằng khẩu hiệu “đánh đổ quyền  
thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng  
tôn Nguyễn Phúc Dương”. Nguyễn Nhạc  
đã lợi dụng mâu thuẫn này để phân hóa  
kẻ thù, kết quả là phong trào không  
những thu hút được các tầng lớp nhân  
dân mà còn lôi kéo được một bộ phận  
trong tầng lớp thống trị vốn bất bình với  
phe cánh của Trương Phúc Loan “hào  
mục bản thổ đua nhau nổi dậy hưởng  
ứng với Nhạc, thế giặc càng ngày càng  
bùng lên” [3, tr. 17].  
“… Giận Quốc phó ra lòng bội bạc  
nên Tây Sơn xướng nghĩa Cần Vương;  
Trước là ngăn cột đá giữa dòng kẻo  
đảng nghịch đặt mưu ngấp nghé,  
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kéo  
cùng dân ra chốn lầm than…”  
Ngoài ra, Tây Sơn còn tập hợp  
được đông đảo nông dân trong vai trò  
chủ lực của nghĩa quân qua khẩu hiệu  
“lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo” –  
quyền lợi kinh tế gắn liền với nông  
dân. Điều đó được các giáo sĩ Tây Ban  
Nha, điển hình là Diego de Jumilla ghi  
lại, sách Les Espagnols dans l’Empire  
d’Annam trích dẫn như sau: “Ban ngày  
họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người  
mang cung tên, có người mang súng.  
Họ không hề làm thiệt hại đến người  
2.3. Một số đặc trưng của phong  
trào Tây Sơn thế kỷ XVIII  
2.3.1. Sự phát triển về quy mô và  
kết hợp vấn đề giai cấp – dân tộc  
Tây Sơn là vùng đất thuộc phủ Quy  
Nhơn, dinh Quảng Nam – là khu vực  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
và của. Trái lại họ tỏ ra muốn bình  
đẳng giữa mọi người Đàng Trong; họ  
vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều  
thì họ không gây tổn hại, nhưng nếu  
chống cự lại thì họ cướp lấy những của  
quý đem chia cho người nghèo; họ chỉ  
giữ gạo và lương thực cho họ mà thôi...  
Người ta gọi họ là bọn cướp đạo đức  
và nhân từ đối với quần chúng nghèo  
khổ..” [4, tr. 33].  
Tây Sơn không những tranh thủ  
được sự ủng hộ của nông dân mà  
phong trào còn tranh thủ được các tầng  
lớp khác như hào trưởng có thế lực ở  
vùng Thuận Nghĩa, ông bầu gánh hát  
tuồng Nhung Quy, kép hát Tư Linh.  
Đặc biệt, có cả thương nhân Trung  
Quốc như Tập Đình, Lý Tài – một  
trong những lực lượng đóng góp về tài  
chính nhiều nhất cho nghĩa quân. Đồng  
thời, Nguyễn Nhạc với chính sách  
“thượng vận” đã thu hút một phần lớn  
cư dân miền núi, người Thượng, những  
người rất thông thạo về đường sá, giỏi  
bắn cung, đặc biệt là rất trung thành, đã  
tin ai là tin đến cùng. Từ căn cứ Tây  
Sơn, nghĩa quân tỏa về giải phóng các  
làng xã, trừng trị bọn xã trưởng, quan  
thu thuế, đốt hết các giấy tờ sổ sách,  
tuyên bố bãi bỏ mọi thứ thuế, nghĩa  
quân đi đến đâu đều được nông dân  
hưởng ứng tham gia.  
nhanh chóng. Năm 1773, quân đội Tây  
sơn kiểm soát phần lớn phủ Quy Nhơn.  
Lần đầu tiên nghĩa quân hạ được một  
thành lũy, dinh thự của quan lại phong  
kiến, uy thế của nghĩa quân lên cao.  
Chiếm được thành Quy Nhơn, nghĩa  
quân mở rộng đánh và chiếm Quảng  
Ngãi. Đó là một thắng lợi có ý nghĩa  
chiến lược quan trọng, đánh dấu bước  
trưởng thành vượt bậc của cuộc khởi  
nghĩa. Đến cuối năm 1773, vùng kiểm  
soát của Tây Sơn kéo dài từ phía nam  
Quảng Ngãi đến Khánh Hòa. Tuy  
nhiên, đến giữa năm 1774, quân của  
chúa Nguyễn phản công và đánh chiếm  
lại Bình Thuận, Diên Khánh, Bình  
Khang, quân Tây Sơn chỉ kiểm soát  
căn cứ Quy Nhơn và Quảng Ngãi.  
Năm 1776, Nguyễn Lữ đem quân  
đánh vào Gia Định, quân chúa Nguyễn  
phải bỏ thành Gia Định, chạy lên Trấn  
Biên. Năm 1777, Nguyễn Lữ và  
Nguyễn Huệ tiến quân vào Gia Định lần  
thứ hai, quân Tây Sơn đánh bại và bắt  
giết chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc  
Thuần và Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn  
Phúc Ánh chạy thoát, chấm dứt sự  
thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng  
Trong. Năm 1786, Nguyễn Huệ tiến  
quân ra Bắc, lật đổ tập đoàn chúa Trịnh,  
trao trả quyền lực cho vua Lê Hiển  
Tông. Vua Lê phong Nguyễn Huệ làm  
Uy quốc công và gả công chúa Ngọc  
Hân cho ông, cắt đất Nghệ An nhường  
cho Tây Sơn. Sau khi Tây Sơn trở vào  
Nam, tình hình Bắc hà trở nên rối loạn,  
Nguyễn Hữu Chỉnh lộng quyền,  
Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở, Phan Văn  
Lân cùng Vũ Văn Nhậm diệt Nguyễn  
Hữu Chỉnh, còn vua Lê (Lê Chiêu  
Thống) chạy lên Kinh Bắc, rồi chạy  
Từ căn cứ Tây Sơn thượng đạo,  
với các khẩu hiệu “đánh đổ quyền thần  
Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn  
Nguyễn Phúc Dương”, “lấy của nhà  
giàu chia cho người nghèo”, nghĩa  
quân nhanh chóng được sự ủng hộ của  
các tầng lớp nhân dân. Nghĩa quân dần  
mở rộng căn cứ xuống vùng đồng  
bằng, thanh thế nghĩa quân lan rộng  
97  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh,  
sự nghiệp thống trị của nhà Lê đến đây  
chấm dứt.  
tượng cho thời đại Tây Sơn khi nhân  
dân ta tập trung sức người, sức của  
chống quân xâm lược Mãn Thanh. Với  
chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa vào  
Tết Kỷ Dậu 1789, giải phóng Thăng  
Long, hoàn thành sứ mệnh giải phóng  
dân tộc, bảo vệ độc lập và thống nhất  
nước nhà.  
Sự chuyển biến về quy mô và tính  
chất là một nét đặc sắc của phong trào  
nông dân Tây Sơn trong lịch sử phong  
kiến Việt Nam. Từ căn cứ Tây Sơn  
thượng đạo, phong trào Tây Sơn đã phát  
triển lớn mạnh, trở thành một phong  
trào quật khởi của cả dân tộc. Phong  
trào Tây Sơn ban đầu có tính chất địa  
phương, sau trở thành trung tâm thu hút  
mạnh mẽ quần chúng nhân dân tham  
gia và phát triển thành phong trào có  
phạm vi hoạt động rộng lớn trên phạm  
vi cả nước, có sự kết hợp giữa việc giải  
quyết vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc.  
2.3.2. Gìn giữ và phát huy truyền  
thống văn hóa dân tộc  
Nét nổi bật của phong trào Tây Sơn  
không chỉ là sự kết hợp giữa việc giải  
quyết vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc,  
mà còn là cuộc tranh đấu nhằm giữ gìn  
những giá trị văn hóa truyền thống của  
dân tộc.  
Năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh  
sai Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân, huy  
động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý  
Châu với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm  
đóng Thăng Long. Nhận tin cấp báo,  
tháng 12 năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi  
Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung để  
quy tụ lòng dân, lập tức tiến quân ra Bắc.  
Đến Nghệ An, Quang Trung tuyển thêm  
quân, củng cố lực lượng, mở cuộc duyệt  
binh lớn ở Vĩnh Doanh. Ngày 20 tháng  
Tóm lại, từ một phong trào nổ ra ở  
địa phương, sau 18 năm phong trào Tây  
Sơn đã phát triển mạnh mẽ ra phạm vi  
cả nước, thu hút đông đảo các tầng lớp  
nhân dân tham gia và đạt được nhiều  
thắng lợi. Đây là lần đầu tiên trong lịch  
sử Việt Nam có một phong trào nông  
dân phát triển rộng lớn, kéo dài với quy  
mô ngày càng mở rộng, lực lượng tham  
gia đông đảo về thành phần và số  
lượng. Phong trào không những đã đánh  
đổ cả ba chính quyền phong kiến Lê –  
Trịnh – Nguyễn, chấm dứt tình trạng  
chia cắt đất nước mà còn đánh bại giặc  
ngoại xâm Xiêm, Thanh, bảo vệ chủ  
quyền quốc gia.  
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam,  
phong trào nông dân Tây Sơn là phong  
trào duy nhất có sự kết hợp giữa việc  
giải quyết vấn đề giai cấp và vấn đề dân  
tộc, đó chính là sự chuyển biến về tính  
chất của phong trào so với các phong  
trào nông dân khác.  
Sự chuyển biến về tính chất được  
thực hiện từ lúc nghĩa quân Tây Sơn lật  
đổ sự thống trị của chúa Nguyễn ở  
Đàng Trong. Nguyễn Ánh chạy thoát,  
cầu viện quân Xiêm với âm mưu khôi  
phục chế độ phong kiến phản động. Với  
chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, một  
mặt làm thất bại âm mưu xâm lược của  
quân Xiêm, mặt khác đưa phong trào  
Tây Sơn phát triển lên một tầm cao  
mới, làm chủ toàn bộ Đàng Trong, tạo  
điều kiện tiến ra Đàng Ngoài, lật đổ  
chính quyền thống trị Lê – Trịnh.  
Lần thứ hai, lòng yêu nước được  
thăng hoa, trở thành đỉnh cao, là biểu  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
12 năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm  
1789), đại quân của Quang Trung đã ra  
đến Tam Điệp, Biện Sơn. Kế hoạch tác  
chiến được đề ra, toàn quân chia thành  
năm đạo với các nhiệm vụ khác nhau.  
Quang Trung quyết định mở tiệc khao  
quân ăn tết trước, hẹn đến ngày mùng 7  
vào Thăng Long mừng chiến thắng.  
Đêm giao thừa, Quang Trung đọc vang  
lời hịch:  
Đánh cho để dài tóc,  
Đánh cho để đen răng,  
Đánh cho chúng chích luân bất phản,  
Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn,  
Đánh cho sử tri Nam quốc anh  
hùng chi hữu chủ  
Chỉ với 5 dòng thơ, 35 chữ, lời hịch  
thể hiện rõ mục đích của cuộc tiến quân  
là để bảo vệ các truyền thống văn hóa  
dân tộc như các tục để tóc dài, nhuộm  
răng đen; quyết tâm đánh giặc đến cùng  
(đánh cho kẻ xâm lược không kịp trở  
tay, không còn mảnh giáp) và khẳng  
định chủ quyền quốc gia của người Việt  
Nam “đánh cho sử tri Nam quốc anh  
hùng chi hữu chủ”. Bài Hịch xuất quân  
không những biểu hiện ý chí quyết tâm  
đánh giặc của quân và dân ta mà còn  
đánh để bảo vệ phong tục, tập quán  
riêng của dân tộc đánh cho để dài tóc,  
đánh cho để đen răng, đánh để khẳng  
định ta không bị đồng hóa sau hơn 1000  
bị phương Bắc đô hộ.  
Sau khi đánh bại 29 vạn quân  
Thanh xâm lược (1789), vương triều  
Quang Trung ra sức xây dựng một  
chính quyền phong kiến mới, tiến bộ  
với ý thức quản lý đất nước trên một  
phạm vi rộng lớn dưới một chính quyền  
trung ương tập trung mạnh. Trong đó,  
Quang Trung rất chú trọng đến phát  
triển giáo dục và trọng dụng chữ Nôm.  
Đối với những nho sĩ, trí thức, kể cả  
quan lại trong chính quyền cũ nhưng có  
tài năng, trí tuệ, có nhiệt tình xây dựng  
đất nước, Quang Trung với tư tưởng  
“cầu hiền tài”, cố gắng thuyết phục và  
sử dụng họ vào bộ máy nhà nước mới,  
đặt họ ở những chức vụ cao tương xứng  
với tài năng của họ. Ngô Thời Nhậm,  
Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp… là  
những học giả tiêu biểu trong số các  
nho sĩ này.  
Để đáp ứng nhu cầu xây dựng chính  
quyền mới và đào tạo quan lại mới, bên  
cạnh phương thức “tiến cử”, “cầu hiền  
tài” Quang Trung đã ban hành chính  
sách “khuyến học”, mở rộng chế độ học  
tập, thi cử. Trường học được mở rộng  
đến các làng xã, cho phép các địa  
phương sử dụng một số đền chùa không  
cần thiết làm trường học. Về nội dung,  
bỏ lối học từ chương khuôn sáo, cải tiến  
dần theo hướng thiết thực, bắt các nho  
sinh, sinh đồ ở các triều đại trước phải  
thi lại. Người nào xếp loại ưu thì mới  
được công nhận cho đỗ, hạng liệt phải  
về học lại, còn những người bỏ tiền ra  
mua tước quan (thời Lê - Trịnh) đều bị  
đuổi về chịu lao dịch như dân chúng.  
Bên cạnh đó, dưới vương triều Tây  
Sơn, Quang Trung rất trọng dụng chữ  
Nôm. Ông lập Sùng Chính Viện chuyên  
dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm làm tài  
liệu học tập và giúp vua về mặt văn hóa.  
Mục đích của Quang Trung là nhằm  
đưa chữ Nôm lên thành quốc ngữ chính  
thức thay cho chữ Hán. Chữ Nôm được  
đưa vào khoa cử, trong các kỳ thi quan  
trường phải ra đề thi bằng chữ Nôm,  
người thi đến kỳ tam trường phải làm  
99  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
thơ, phú bằng văn Nôm. Chữ Nôm trở  
thành văn tự chính thức của quốc gia  
dưới triều Quang Trung, một thành quả  
quan trọng trong lịch sử đấu tranh và  
bảo tồn nền văn hóa dân tộc, chống  
chính sách đồng hóa của các triều đại  
phương Bắc.  
2.3.3. Đoàn kết và chia rẽ trong nội  
bộ của phong trào  
Ngay từ buổi đầu, khi địa bàn hoạt  
động mới chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp  
của miền núi rừng Quy Nhơn, anh em  
Tây Sơn đã khôn khéo đề ra được sách  
lược thích hợp để tập hợp lực lượng, thu  
hút quần chúng nhân dân tham gia.  
Nguyễn Nhạc nhiều lần đến các vùng  
đất Tây Nguyên, danh nghĩa là buôn  
trầu, mua gỗ, mua ngựa… nhưng thực  
chất là tìm cách liên kết với cộng đồng  
dân tộc ở đây, trong đó có người Ba-na,  
vận động họ tham gia ủng hộ mình. Với  
sự khôn khéo và thân thiện, Nguyễn  
Nhạc và những người em của mình đã  
chiếm được tình cảm quý mến của  
người dân Tây Nguyên, họ gọi ông là  
Tơ Mo Bok (vua Trời, người Trời),  
tham gia tích cực vào lực lượng của Tây  
Sơn chống chính quyền họ Nguyễn “lực  
lượng ở giai đoạn đầu của cuộc khởi  
nghĩa có đông đảo người miền núi […]  
trong các lực lượng của các dân tộc anh  
em, trước hết phải kể đến người Ba-na,  
người Hơ-rê, người Chăm” [5, tr. 143].  
Đồng thời, phong trào còn có sự tham  
gia của những thổ hào như Nguyễn  
Thung, lôi cuốn cả người Hoa như Tập  
Đình, Lý Tài tích cực hưởng ứng. Năm  
1786, khi tiến quân ra Đàng Ngoài, Tây  
Sơn luôn nhận được sự ủng hộ đồng  
tình của quần chúng nhân dân, phát huy  
tinh thần đoàn kết của cả một dân tộc,  
phát huy sức mạnh của phong trào Tây  
Sơn và quân đội Tây Sơn.  
Có thể nói việc trọng dụng chữ  
Nôm và mở rộng hệ thống trường học  
có ý nghĩa quan trọng trong sự phát  
triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ tinh  
thần quốc gia, bảo tồn nền văn hóa dân  
tộc. Việc sử dụng chữ Nôm làm văn tự  
chính thức của quốc gia dưới triều Tây  
Sơn là một thành quả quan trọng trong  
lịch sử đấu tranh, gìn giữ và phát huy  
truyền thống văn hóa dân tộc. Không  
những thế, chữ Nôm còn phát triển  
thành một trào lưu văn hóa rộng lớn,  
xuất hiện nhiều nhà văn, nhà thơ Nôm  
xuất sắc như: Ngọc Hân công chúa với  
“Ai tư vãn”; Phan Huy Ích với “Văn tế  
Quang Trung” và không thể không kể  
tới Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương.  
Những chính sách về văn hóa của  
Quang Trung thể hiện tư tưởng tiến bộ  
nhằm đưa đất nước nhanh chóng vượt  
qua cuộc khủng hoảng sau thời gian  
chiến tranh kéo dài, đất nước bị chia  
cắt, vươn lên sánh vai cùng các quốc  
gia phát triển đương thời. Đồng thời,  
những chính sách đó chứng tỏ ông có  
hoài bão xây dựng một nền học thuật,  
giáo dục đậm đà bản sắc dân tộc, nâng  
cao ý thức độc lập, tự cường cho nhân  
dân. Đây là một nét nổi bật thể hiện  
tầm nhìn chiến lược của Quang Trung  
nói riêng và của vương triều Tây Sơn  
nói chung.  
Sự đoàn kết của ba anh em nhà Tây  
Sơn và đông đảo quần chúng nhân dân  
tạo nên sức mạnh, giúp phong trào vượt  
qua những khó khăn buổi đầu, ngày  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
càng phát triển về lực lượng và mở rộng  
phạm vi hoạt động.  
Nhạc nhận thấy Văn Huệ vốn là người  
giảo hoạt, hung tợn, nếu đắc chí, tất  
nhiên sẽ giữ lấy một nước để tự lo toan,  
rồi dần dà khó mà kiềm chế được” [1,  
tr. 969 - 970]. Mâu thuẫn giữa hai anh  
em Tây Sơn lớn tới mức hai bên đánh  
nhau kịch liệt: “Ông Huệ truy kích. Ông  
Nhạc rút quân vào thành Quy Nhơn, cố  
thủ. Ông Huệ công vi cả tháng mà  
không hạ nổi thành, bèn đánh chiếm núi  
Long Cốt, rồi kê súng đại bác trên núi  
bắn vào thành. Những nơi hiểm yếu  
trong thành bị phá” [6].  
Mâu thuẫn và bất hòa của hai anh  
em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ làm  
cho hòa khí trong nội bộ Tây Sơn bị  
ảnh hưởng, tình cảm anh em rạn nứt,  
lực lượng Tây Sơn bị phân hóa:  
Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương  
Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn,  
Nguyễn Nhạc phong Nguyễn Lữ làm  
Đông Định Vương, cai quản vùng đất  
Gia Định, Nguyễn Nhạc phong Nguyễn  
Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản  
vùng đất từ đèo Hải Vân trở ra Bắc.  
Một trong những đóng góp của phong  
trào Tây Sơn là xóa bỏ tình trạng chia  
cắt, thống nhất đất nước. Nhưng nay,  
khi phong trào giành được thắng lợi,  
đất nước lại bị chia làm ba chính quyền  
khác nhau, tiếp tục đi vào con đường  
phong kiến hóa.  
Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo  
phong trào, tình hình nội bộ Tây Sơn  
cũng có nhiều bất ổn. Nội bộ lục đục,  
mâu thuẫn nảy sinh từ sau khi Nguyễn  
Huệ từ Bắc hà trở về, gây ra những  
tổn thất to lớn đối với sự thống nhất  
lực lượng của phong trào Tây Sơn và  
sự phát triển của vương triều Tây Sơn  
sau này.  
Sử sách không ghi chép thật rõ ràng  
về nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh em  
Tây Sơn. Nhưng xích mích, mâu thuẫn  
giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ là  
có thật, thậm chí 2 người đã sử dụng  
đến quân sự “dùng binh lực đánh lẫn  
nhau” [1, tr. 979], “Trước kia, Văn Huệ  
và Văn Nhạc dấy quân đánh nhau” [1,  
tr. 979]. Nguyên nhân của sự bất hòa  
này có lẽ bắt đầu từ lúc Nguyễn Huệ  
đem quân ra Bắc hà, bởi vì chủ trương  
của Nguyễn Nhạc là tập trung tiêu  
diệt chúa Nguyễn, giữ hòa bình với Bắc  
Hà, nên việc Nguyễn Huệ tự ý đem  
quân Bắc tiến là đi ngược lại ý của  
Nguyễn Nhạc. Mặt khác, Nguyễn Nhạc  
không yên tâm với sự phát triển thế lực  
riêng của Nguyễn Huệ, sợ rằng Nguyễn  
Huệ sẽ vượt quyền mình, sợ rằng không  
kiềm chế được Nguyễn Huệ “quyền làm  
vua đối với bề tôi đã bị xem khinh” [6],  
“sau khi Văn Huệ đã lấy được Thuận  
Hóa, đưa thư về nói tiến thẳng quân ra  
để lấy Thăng Long. Văn Nhạc được  
nhận thư, không bằng lòng, sai người  
ngăn lại, nhưng không kịp. Đến lúc Văn  
Huệ đã lấy được Thăng Long. Văn  
Nhạc biết tin sợ lắm. Nhạc cho là vội  
vàng đem quân vào sâu như thế tất  
nhiên khó giữ được lâu. Hơn nữa Văn  
Hậu quả tai hại nhất của việc bất  
hòa giữa anh em Tây Sơn là bị kẻ địch  
từ hai phía tận dụng. Sau ba năm lưu  
vong ở Xiêm, Nguyễn Ánh nhận ra cơ  
hội trở về nước vào tháng 8 năm 1787  
và đã tập hợp lực lượng. Nguyễn Lữ  
nghe tin Nguyễn Ánh trở về, vội vã  
tránh đi nơi khác để Gia Định cho Phạm  
Văn Tham giữ. Nhận thấy quân Nguyễn  
101  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Ánh ngày càng mạnh, Nguyễn Lữ sợ  
hãi mang quân rút chạy về Quy Nhơn,  
quân Tây Sơn đã mỏng lại càng mỏng.  
Phạm Văn Tham vẫn cố đơn độc chiến  
đấu. Thế cùng sức kiệt, đầu năm 1789  
Phạm Văn Tham bị Nguyễn Ánh vây  
chặt, lại bịt đường ra biển về Quy Nhơn  
nên buộc phải đầu hàng. Nguyễn Ánh  
dẹp yên đất Gia Định.  
Trị đến Nam Định rồi tiến thẳng về  
Thăng Long. Quang Toản không cự  
chống nổi, vượt sông Nhị chạy lên mạn  
Bắc Giang và bị bắt, chấm dứt vương  
triều Tây Sơn.  
Sự bất hòa trong nội bộ anh em  
Nguyễn Huệ và trong tướng lĩnh Tây  
Sơn cùng sự bất lực của Nguyễn Lữ  
đã tạo điều kiện cho Nguyễn Ánh trở  
lại Gia Định. Mặt khác, cái chết đột  
ngột của Nguyễn Huệ là một tổn thất  
lớn đối với phong trào Tây Sơn, là cơ  
hội để Nguyễn Ánh khôi phục quyền  
lực nhà Nguyễn.  
Đoàn kết tạo nên sức mạnh, mất  
đoàn kết làm cho nội bộ chia rẽ. Buổi  
đầu, phong trào Tây Sơn có được sức  
mạnh của đoàn kết, sức mạnh giúp họ  
từ căn cứ Tây Sơn phát triển rộng ra  
quy mô cả nước, đưa cuộc phong trào  
nông dân Tây Sơn lên những tầm cao  
mới, giành những thắng lợi mới. Nhưng  
sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ  
Tây Sơn đã tạo điều kiện cho Nguyễn  
Ánh trở về, chiếm lại vùng đất Gia Định  
và lật đổ vương triều Tây Sơn, thành  
lập triều Nguyễn.  
Ở Bắc Hà, tình hình rối loạn, từ  
Nguyễn Hữu Chỉnh đến Vũ Văn Nhậm  
đều chuyên quyền, có ý chống lại  
vương triều Tây Sơn. Quang Trung đem  
quân ra Bắc tiêu diệt Chỉnh, Nhậm, tổ  
chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, đưa  
các danh sĩ có tên tuổi như Ngô Thì  
Ngậm, Phan Huy Ích ra đảm đương  
công việc, Nguyễn Huệ rút quân về Phú  
Xuân. Sau khi ổn định tình hình Bắc hà,  
Quang Trung tích cực chuẩn bị lực  
lượng đem quân vào Nam đánh Gia  
Định, nhưng năm 1792 ông qua đời,  
con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ  
tuổi lên nối ngôi, nhà Tây Sơn nhanh  
chóng suy yếu. Sự ra đi của Quang  
Trung làm cho nội bộ hàng ngũ tướng  
lĩnh Tây Sơn ngày càng rạn nứt nghiêm  
trọng, Trần Quang Diệu bất hòa với Vũ  
Văn Dũng, Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc  
Tuyên và Ngô Văn Sở, các đại thần giết  
hại lẫn nhau. Quang Toản nghi ngờ giết  
hại nhiều triều thần, võ tướng, khiến  
cho sức chiến đấu suy giảm, thêm nhiều  
người sang hàng Nguyễn Ánh. Nhân cơ  
hội nội bộ Tây Sơn suy yếu, Nguyễn  
Ánh tiến hành những cuộc phản công:  
năm 1801, Nguyễn Ánh đánh thẳng ra  
Phú Xuân, Quang Toản phải chạy ra  
Bắc hà; năm 1802, Nguyễn Ánh huy  
động nhiều cánh quân thủy – bộ tiến ra  
Bắc, lần lượt chiếm vùng đất từ Quảng  
3. Kết luận  
Phong trào Tây Sơn mang những  
nét đặc trưng riêng, được đánh giá là  
một trong những phong trào nông dân  
tiêu biểu và điển hình của phong trào  
nông dân trong lịch sử phong kiến Việt  
Nam. Nhờ tinh thần đoàn kết, phong  
trào liên tiếp giành được những thắng  
lợi lớn, không ngừng phát triển về quy  
mô, giải quyết tốt vấn đề giai cấp – dân  
tộc. Thành quả lớn nhất của phong trào  
Tây Sơn là không những tiêu diệt các  
chính quyền phong kiến phản động Lê –  
Trịnh – Nguyễn, xóa bỏ tình trạng chia  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
cắt đất nước mà đã vượt ra khỏi phạm  
trù đấu tranh giai cấp, vươn lên đảm  
nhiệm vai trò chống ngoại xâm, bảo vệ  
độc lập dân tộc. Bên cạnh đó, việc giữ  
gìn và phát huy văn hóa truyền thống  
văn hóa của dân tộc luôn là mục tiêu  
của Tây Sơn dù là đang chiến đấu cho  
sự nghiệp thống nhất tổ quốc hay ở thời  
kỳ hòa bình xây dựng, củng cố độc lập  
nền dân tộc. Những chính sách tiến bộ  
và hợp thời của Quang Trung và vương  
triều Tây Sơn giúp Đại Việt có những  
bước chuyển mình sau hơn hai thập kỷ  
bị chia cắt và bước đầu đạt được một số  
thành tựu trên các lĩnh vực. Mặc dù  
không thể giành được thắng lợi cuối  
cùng, không giữ được thành quả đấu  
tranh do sự chia rẽ, mất đoàn kết giữa  
anh em Nguyễn Huệ và các quan lại,  
nhưng những đóng góp của phong trào  
nông dân Tây Sơn là không thể phủ  
nhận và Tây Sơn – Nguyễn Huệ mãi là  
niềm tự hào của mỗi người dân Việt.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (bản điện tử) (2001), Khâm Định Việt Sử Thông  
Giám Cương Mục, Nxb Giáo dục, Hà Nội  
2. Trương Hữu Quýnh (2003), Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo  
dục, Hà Nội  
3. Nguyễn Phan Quang (2000), Phong trào Tây Sơn và cải cách Quang Trung,  
Giáo trình lưu hành nội bộ  
4. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự  
của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội  
5. Ty Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình (1978), Tây Sơn Nguyễn Huệ, Kỷ yếu hội  
nghị nghiên cứu phong trào nông dân Tây Sơn  
6.  
Quách  
Tấn  
–
Quách  
Giao  
(2004),  
Nhà  
Tây  
Sơn,  
3q3m3237nvn, (6/9/2018)  
SOME CHARACTERISTICS OF TAY SON MOVEMENT  
IN THE 18th CENTURY  
ABSTRACT  
In Vietnamese feudal history, the 18th century was a period of peasant war that  
culminated in Tay Son movement. Under the leadership of the three Tay Son  
brothers, the movement in Tay Son has evolved into a socialist movement of the  
whole nation, which is the struggle of farmers in the 18th century. The article aims to  
understand some characteristics of Tay Son movement, thereby seeing the  
characteristics of the movement, at the same time seeing certain contributions of the  
movement to the unification and defense of the country‘s national independence.  
Keywords: Tay Son movement, characteristics  
(Received: 2/1/2019, Revised: 25/2/2019, Accepted for publication: 19/3/2019)  
103  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 29980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc trưng của phong trào Tây Sơn thế kỷ xviii", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_trung_cua_phong_trao_tay_son_the_ky_xviii.pdf