Bước đầu xác định địa giới hành chính một số phường thuộc nội vi kinh thành Huế (Đầu thế kỷ xx - 1945)

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
VĂN HÓA - LỊCH SỬ  
3
BƯỚC ĐẦU XÁC ĐỊNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH  
MỘT SỐ PHƯỜNG THUỘC NỘI VI KINH THÀNH HUẾ  
(ĐẦU THẾ KỶ XX - 1945)  
Đỗ Minh Điền*  
1. Hệ thống các phường Nội thành trước thời điểm tu chỉnh dưới thời  
vua Duy Tân (1907 - 1916)  
Kinh Thành Huế được xem là trung tâm chính trị của cả nước, là biểu trưng  
quyền lực của vương triều nhà Nguyễn. Nếu như khu vực Hoàng Thành và Tử Cấm  
Thành được liệt vào hàng thâm nghiêm, cấm địa thì nội vi Kinh Thành được coi là  
nơi cấm mật, tuyệt nhiên bất khả xâm phạm. Chính vì thế, trong bộ Hoàng Việt luật  
lệ (luật Gia Long) đã dành hẳn hơn 20 trang để nhấn mạnh sự tôn nghiêm của Kinh  
Thành, đồng thời quy định rất rõ các loại tội trạng, định hẳn chế tài xử phạt nghiêm  
khắc đối với tất cả những ai tự tiện ra vào, xâm phạm địa giới Kinh Thành.(1)  
Được quy hoạch trên cơ sở đất đai của 8 làng trước đó, Kinh Thành Huế có  
diện tích mặt bằng khá rộng lớn. Ngoại trừ Hoàng Thành, kể từ thời vua Gia Long  
(1802 - 1820) trở đi, khu vực Kinh Thành là nơi sinh hoạt, làm việc của các quan  
nha, đồn trú doanh trại quân đội, quan xưởng triều đình, dinh cơ tư thất của tầng  
lớp quan lại và phủ đệ của các ông hoàng bà chúa. Sách Khâm định Đại Nam hội  
điển sự lệ cho biết, “nội địa Kinh Thành từ trước đến nay vốn đã có phân chia đất  
để làm các phủ đệ và nhà ở cho quan chức và các ty”.(2) Trong hồi ức về Huế vào  
đầu thế kỷ XIX, Michel Đức Chaigneau cũng xác nhận tầng lớp dân chúng chỉ  
được sinh sống ở vùng ngoại vi, lân cận Kinh Thành,(3) ngoài những giai tầng nói  
trên, tuyệt đối cấm các đối tượng còn lại xây dựng nhà cửa, ẩn cư ở nội vi Kinh  
Thành. Quy định này, được thực thi nghiêm túc cho đến gần cuối thời vua Tự Đức.  
Phường trong Nội thành(**) được nhắc đến sớm nhất là vào năm 1837 dưới  
triều vua Minh Mạng. Tổ chức phường vào giai đoạn này tồn tại với tư cách như  
những đơn vị hành chính đặc biệt, đó là kết quả của sự phân định hệ thống các  
đồn canh, binh xá thuộc dinh vệ của các lực lượng quân đội. Có thể nói, hệ thống  
phường thời kỳ này mang nặng tính chất quân sự, được bố trí theo hình thức phân  
ô, cứ 10 phường trở thành 1 bảo 堡, chuyên trách tuần tra, canh giữ và kiểm soát  
toàn bộ địa bàn Kinh Thành.  
*
Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.  
** Khái niệm Nội thành hoặc Thành Nội là cách nói của người Huế dùng để chỉ toàn bộ khu vực Kinh  
Thành Huế. ĐMĐ.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
4
Theo ghi chép của sách Đại Nam thực lục và Đại Nam nhất thống chí, Kinh  
Thành có tất cả 95 phường.(4) Địa phận các phường tương ứng với đồn canh, dinh  
trại đồn trú bảo vệ 24 pháo đài, bao quanh 4 phía vòng thành và khu vực Trấn Bình  
Đài ở góc đông bắc Kinh Thành (Bảng 1).  
Bảng 1: Tên gọi 95 phường Nội thành dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1840)  
STT  
Đơn vị quản lý  
Tên phường  
Tổng  
Đồn Tả Dực (Từ Đài Nam Hiệu Trung, Ninh Mật, Đoan Hòa, Ngưng Hy,  
Thắng đến điện Thanh Hòa) Trung Thuận, Nhân Hậu, Tích Thiện, Dưỡng  
1
11  
thuộc doanh Vũ (Võ) Lâm.  
Sinh, Phú Văn, Thận Cần, Nghĩa Tích.  
Đồn Hữu Dực (Từ Đài Nam  
Thắng đến điện Thanh Hòa)  
thuộc doanh Vũ (Võ) Lâm.  
Huệ Cát, Thuận Cát, Lý Cát, Trinh Cát, Tĩnh  
Nhất, An Tĩnh, Nhuận Đức, Phước Tuy.  
2
8
2 vệ doanh Tiền Phong (Từ  
đài Đông Trường qua Đông Đông Phúc, Minh Thiện, Hóa Thành, Vĩnh An,  
Gia, Đông Phụ đến nửa đài Thuận Bình và Nhân Tiệm.  
Đông Vĩnh).  
3
6
5 vệ dinh Long Võ (Từ đài Nhân Cơ, Học Hải, Phong Doanh, Nhiêu Dụ,  
Đông Vĩnh, Đông Bình, Định Chiêm Ân, Thường Dụ, Đa Lộc, Tuyền Thanh,  
4
5
6
12  
8
Bắc đến đài Bắc Hòa).  
Ân Thực, Hà Thanh, Ninh Viễn, Tứ Dịch.  
5 vệ dinh Thần Cơ (Từ đài  
Nam Thắng, Nam Hùng,  
Nam Minh đến đài Tây Trinh).  
Tích Khánh, Túc Võ, Vệ Quốc, Nam Trị, Nam  
An, Nam Ninh, Nam Cường, Đại Hữu.  
Khánh Mỹ, Tư Trung, Địch Cần, Quả Nghị,  
Phục Lễ, An Mỹ, Bảo Hòa, Quy Hậu, Bảo Cư,  
Vụ Bản, Ngưng Tích, Nam Thọ.  
6 vệ dinh Hổ Uy (Từ đài Tây  
Trinh đến Tây An, Tây Dực).  
12  
Bảo Ninh, Đại Hanh, Sư Trinh, Tốn Vũ, Đôn  
Hóa, Thuận Tắc, Long Bình, Gia Mỹ, Thừa Đức,  
Gia Cầm, An Lạc, Huân Đạo, Ân Trạch, Hậu  
Sinh, Mộc Đức, Xử Nhân, Do Nghĩa, An Tây.  
5 vệ dinh Hùng Nhuệ (Từ đài  
Tây Dực qua Tây Tĩnh, Tây  
Tuy đến đài Tây Thành).  
7
18  
16  
10 vệ Ngũ Bảo (Từ đài Tây Linh Ứng, Phú Thứ, Hòa Thái, Ngưỡng Trị, Tây  
Thành qua các đài Bắc Điện, Lộc, Quy Thiện, Tây Ninh, Vô Uổng, Tây Thành,  
Bắc Thuận, Bắc Trung, Bắc Hàm Thanh, Đại Đồng, Khang Ninh, Tráng Cố,  
8
9
Thanh đến Bắc Hòa).  
Diềm Tĩnh, Bắc Trường, Ninh Bắc.  
4 vệ Kỳ Võ (Quanh khu vực  
Trấn Bình Đài).  
Thừa Thiên, Tuyên Hóa, Định Bắc và An Bắc.  
4
95  
Trong giai đoạn thịnh trị của vương triều Nguyễn, hoạt động kiểm soát dân  
cư Nội thành được thực hiện rất quy củ. Cho đến nay, chúng ta chưa tìm thấy bất  
kỳ nguồn tư liệu nào để có thể xác định chính xác tổng số dân binh sinh sống trong  
thành lúc bấy giờ. Căn cứ vào quy định về định ngạch binh lính, theo tác giả Phan  
Thuận An, thì bấy giờ quân số mỗi vệ là 600 người,(5) và như vậy sẽ có ít nhất  
28.200 người đồn trú thường xuyên trong Kinh Thành.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
5
Sang đến thời vua Tự Đức, theo ghi nhận của các sử quan nhà Nguyễn, dân số  
trong thành tăng lên nhanh chóng. Sự lớn mạnh của cộng đồng cư dân là một gánh  
nặng rất lớn đặt lên vai bộ máy quan lại Nha Hộ thành. Hàng loạt các vụ hỏa hoạn,  
trộm cắp, dân ẩn lậu, gây rối an ninh… thường xuyên xảy ra.(6) Đứng trước tình  
hình đó, năm 1860, vua Tự Đức đặc chuẩn ban hành quy định “Chỉnh lý” khu vực  
Nội thành. Đợt điều chỉnh này với mục tiêu là tăng cường binh lính cho các doanh  
vệ tuần phòng, tra xét tất cả các phường trong thành, kê khai nhân khẩu, đồng thời  
lập bản đồ, ghi chú rõ ràng để tiện bề theo dõi, kiểm tra. Kết quả tổng số phường  
tăng thêm 13 đơn vị so với trước đó (Bảng 2).(7)  
Bảng 2: Hệ thống các phường Nội thành sau đợt điều chỉnh năm 1860  
STT  
Đơn vị quản lý  
Tên phường  
Tổng  
Hiệp Trung, Ninh Mật, Trung Thuận, Thụy Bản, Thuần  
Hựu, Vĩnh Trinh, Hòa Lạc, Nhơn Hậu, Tích Thiện,  
Ngưng Hy, Đông Thái, Hà Phúc, Dưỡng Sinh, Phú  
Văn, Thận Cần, Nghĩa Tích, Bão Đức, Kiêm Năng,  
Địch Trinh, Huệ Cát, Gia Huệ, Thuận Cát, Lập Vũ,  
Nhuận Ốc, Vĩnh Tuy, Nhuận Trạch, Lý Cát, Trinh Cát,  
Tĩnh Nhất, Yên Tĩnh.  
1
Doanh Vũ Lâm  
30  
Túc Vũ, Tích Khánh, Nam Minh, Nam Trị, Vệ Quốc,  
Nam An, Nam Cường, Hữu Niên.  
2
Doanh Thần Cơ  
8
8
Đông Phúc, Hợp Trạch, Thiện Đạo, Thuận Bình,  
Nhơn Tiệm, Hóa Thành, Vĩnh An, Đông An  
3
Doanh Tiền Phong  
Triêm Hóa, Nhân Cơ, Nhiêu Dụ, Thường Dụ, Đa Lộc,  
Trừng Thanh, Phong Doanh, Tứ Dịch, Ân Phú, Ân  
Thịnh, Hà Thanh, Ninh Viễn.  
4
5
Doanh Long Vũ [Võ]  
Doanh Hổ Uy [Oai]  
12  
12  
Phục Lễ, Quả Nghị, Địch Cần, Tư Trung, An Mỹ, Bảo  
Cư, Quy Hậu, Bảo Hòa, Ngưng Trích, Vụ Nông, Nam  
Thọ, Khánh Mỹ.  
Thuận Tắc, Long Bình, Gia Mỹ, Thừa Đức, An Lạc,  
Do Nghĩa, An Tây, Xử Nhân, Mộc Đức, Gia Hội, Hậu  
Sinh, An Trạch, Đôn Hóa, Tốn Vũ, Sư Trinh, Thái  
Hanh, Bảo Ninh, Tuân Đạo.  
6
7
8
Doanh Hùng Nhuệ  
Doanh Kỳ Vũ  
18  
4
Thừa Thiên, Tuyên Hóa, Định Bắc, Yên Hóa.  
Tráng Cố, Bắc Trường, Ninh Bắc, Điềm Tĩnh, Linh  
Doanh Ngũ Bảo và các Ứng, Phú Thứ, Hòa Thái, Khang Thái, Hàm Thanh,  
16  
bảo, tấn phận khác  
Tây Lộc, Ngưỡng Trị, Đại Đồng, Quy Thiện, Tây  
Thành, Tây Ninh, Vô Uổng.  
108  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
6
2. Xác định địa giới hành chính một số phường thuộc khu vực Kinh  
Thành Huế  
2.1. Sơ lược quá trình hình thành đô thị Huế và sự ra đời 10 phường thuộc  
khu vực Nội thành  
Những năm đầu của thế kỷ XX, vùng ven đô Huế và phía bờ nam Sông  
Hương tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, bộ mặt đô thị Huế cũng dần thay đổi  
và có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Cùng với sự hiện diện của người Pháp ở  
bán đảo Đông Dương, cơ cấu tổ chức làng xã truyền thống vùng ven đô Huế sớm  
bị phá bỏ sau hàng loạt những can thiệp của họ nhằm quy hoạch lại đô thị Huế theo  
kiểu mẫu phương Tây, đồng thời không ngừng nâng cấp, mở rộng địa giới thành  
phố để đáp ứng yêu cầu xây dựng và tổ chức bộ máy hành chính. Ngày mồng 5  
tháng 6 năm Thành Thái thứ 11 (12/7/1899), vua Thành Thái xuống dụ công bố  
thành lập thị xã Huế, và được Khâm sứ Boulloche phê duyệt ngày 13/7/1899. Hơn  
một tháng sau (30/8/1899), Toàn quyền Đông Dương ra quyết định chuẩn y,(8) thị  
xã Huế chính thức được thành lập.  
Hai năm sau ngày thị xã Huế ra đời, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định  
(31/12/1901) quy định phân hạn ranh giới, với địa bàn trung tâm bao gồm vùng  
phụ cận Kinh Thành và dải đất bờ nam Sông Hương. Huế là trung tâm chính trị của  
chính quyền thực dân Pháp ở Trung Kỳ, nhu cầu thiết lập các cơ quan công quyền,  
công trình công cộng càng trở nên bức thiết. Để đáp ứng những đòi hỏi đó, người  
Pháp liên tục tác động, gia tăng sức ép nhằm nới rộng địa giới hành chính. Trước  
khi chính thức được nâng cấp thành thành phố Huế vào năm 1929, trong khoảng  
thời gian 1901 - 1929, thị xã Huế tiếp tục được mở rộng địa hạt với tổng cộng 3  
đợt điều chỉnh tất cả.(9)  
Kinh Thành Huế là nơi thiết đặt các cơ quan đầu não của triều đình, chính vì  
vậy, dẫu nằm trong phạm vi không gian đô thị Huế, trải qua các đợt nâng cấp và mở  
rộng từ thị xã rồi sau đó là thành phố, tuy nhiên địa bàn Kinh Thành cơ bản được  
giữ nguyên, ngoại trừ khu vực góc đông bắc, triều Nguyễn buộc phải nhượng hẳn  
cho Pháp xây dựng đồn bót và doanh trại vào năm 1886.  
Sau sự kiện Kinh đô thất thủ vào đêm mồng 5 tháng 7 năm 1885, số binh lính  
của triều đình bị thương vong khoảng chừng 1.500 người và hơn 7.800 dân thường  
bị chết hoặc bị thương.(10) Những con số thống kê nói trên phần nào phản ánh bầu  
không khí ảm đạm và sự tang thương bao phủ khắp chốn đế đô. Đây là đợt biến  
động lớn nhất về mặt dân cư, số lượng người cư trú trong thành cũng giảm xuống  
đáng kể. Bước sang giai đoạn trị vì của vua Đồng Khánh, việc ấn định đối tượng  
được phép sinh sống không còn nghiêm khắc như trước. Sử quan nhà Nguyễn cho  
biết thời điểm này, tình trạng dân chúng lẻn vào sinh sống, nạn trộm cắp, tỷ lệ  
người hút và bán thuốc phiện không ngừng gia tăng.(11)  
7
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
Những năm đầu thế kỷ XX, trước sức ép tốc độ đô thị hóa vùng kinh đô, vua  
Thành Thái có ý định điều chỉnh tổ chức hành chính khu vực Kinh Thành, nhằm  
tạo ra sự đối trọng đáng kể với người Pháp, đồng thời khẳng định vị thế và vai  
trò trung tâm chính trị của chính quyền Nam triều. Đối diện với những khó khăn  
về vấn đề nhân sự và tài chính, tổ chức phường theo chế độ quân quản trước đó  
sẽ không còn khả năng duy trì. Hơn nữa, để siết chặt tình trạng mất an ninh, nạn  
ẩn lậu… chính quyền nhà Nguyễn cần phải nhanh chóng thiết lập cơ chế quản lý  
nhằm đảm bảo trật tự nội vi Kinh Thành. Do vậy, việc điều chỉnh lại các đơn vị  
hành chính khu vực Nội thành, phân bố và tổ chức quản lý dân cư là nhu cầu cấp  
thiết. Tuy nhiên, phải đến thời vua Duy Tân, công cuộc điều chỉnh mới chính thức  
hoàn thành.  
Vào năm Kỷ Dậu (1909), tức năm Duy Tân thứ 3, triều đình ban hành quy  
định tu chỉnh tổ chức hành chính trong Kinh Thành. Bản tu chỉnh gồm 13 khoản  
định lệ, trong đó, khoản 1 cho biết việc tổ chức lại toàn bộ 108 phường trong Kinh  
Thành làm 10 phường, do Nha Hộ Thành quản lý. Sau lần điều chỉnh này, tên gọi  
chính thức của 10 phường như sau: Thái Trạch 泰 澤 坊, Vĩnh An 永 安 坊, Trung  
Tích 忠 積 坊, Phú Nhơn 富 仁 坊, Trung Hậu 忠 厚 坊, Tây Linh 西 靈 坊, Tây  
Lộc 西 祿 坊, Tri Vụ 知 務 坊, Thuận Cát 順 吉 坊 và Huệ An 惠 安 坊.(12) Đến đầu  
những năm 30 của thế kỷ XX, L. Cadière cũng xác nhận, ngoại trừ khu vực Nhượng  
địa và đồn Mang Cá, “vùng Thành Nội, nghĩa là toàn bộ phần đất thuộc về chính  
phủ Nam triều… hiện nay được chia thành 10 phường”.(13) Hầu hết danh xưng của  
10 phường mới thành lập đều được cải danh, chỉ có 3 phường: Thuận Cát, Tây Lộc,  
Vĩnh An được lấy theo tên cũ trước đó. Kể từ đây, tất cả tên gọi các phường còn lại  
sẽ chính thức được xóa bỏ trên bản đồ hành chính địa bàn Nội thành.  
Trước năm 1945, bộ máy quản lý thị xã Huế, rồi sau đó thành phố Huế vận  
hành khá nhập nhằn. Đứng đầu bộ máy hành chính thành phố Huế là “viên Đốc lý  
do Công sứ Pháp ở Thừa Thiên kiêm nhiệm”,(14) tuy nhiên địa bàn các phường, xã  
vẫn phải đặt dưới sự quản lý của quan lại Nam triều. Trong khi đó, 10 phường Nội  
thành được thiết lập với một cơ chế hoàn toàn tự chủ, độc lập về mặt hành chính.  
Tất cả các phường đều có ngân sách riêng, hoạt động trưng thu thuế lệ đinh - điền,  
cấp phép xây dựng, an ninh trật tự, quản lý nhân khẩu, hộ tịch… sẽ do phủ Thừa  
Thiên trực tiếp điều hành.  
2.2. Xác định địa giới các phường Nội thành  
2.2.1. Phường Tây Lộc 西 祿 坊  
Nằm ở góc tây bắc Kinh Thành, thuộc phía bắc Ngự Hà, đây là phường có  
diện tích thổ canh, thổ cư lớn nhất trong số 10 phường Nội thành. Phường Tây  
Lộc được hình thành trên cơ sở địa phận của 5 phường trước đó, gồm: phường Do  
8
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
Nghĩa 由義坊, phường Thừa Thanh 承清坊, phường Mộc Đức 沐德坊, phường  
Hậu Sanh 厚生坊 và phường An Trạch 安宅坊. Nguyên ủy địa bàn phường thuộc  
địa phận quản lý của doanh Hùng Nhuệ.  
Căn cứ một số bản đồ vào thời kỳ từ thời Duy Tân trở đi và đặc biệt là mô tả  
của L. Cadière,(15) thì nửa đầu thế kỷ thứ XX, địa giới của phường(16) với cả hai phía  
tây và bắc giáp với tường thành của Kinh Thành, phía nam tiếp giáp với Ngự Hà,  
phía đông giáp với Ngự Hà và phường Tây Linh.  
Đối chiếu với thực tế hiện nay thì ranh giới của phường Tây Lộc như sau:  
phía tây giáp đường Tôn Thất Thiệp, bắc giáp đường Lương Ngọc Quyến, phía  
nam giáp đường Ngô Thế Lân và đông giáp đường Trần Nhật Duật (phân chia ranh  
giới với phường Tây Linh) và đường Trần Văn Kỷ.  
Một số di tích thuộc địa phận phường Tây Lộc:(17) ruộng Tịch điền 籍田  
(trước năm 1828, thuộc hai phường Hòa Thái 和泰坊 và Ngưỡng Trị 仰治坊, về  
sau, mới chuyển qua đất của phường Hậu Sanh 厚生坊 và An Trạch 安宅坊),  
Trường Thi Thừa Thiên 試 場, cung Khánh Ninh 慶寧宮, cung Bảo Định 保定宮,  
vườn Thường Mậu 常茂園,(18) đình làng Phú Xuân 富春亭, Khám Đường, miếu  
Hội Đồng 會同廟.  
2.2.2. Phường Tri Vụ 知務坊  
Nằm về phía tây Hoàng Thành, phường Tri Vụ thuộc khu vực nam Ngự Hà,  
có dạng hình vuông, nguyên địa phận của phường do doanh Hổ Uy (Oai) quản lý.  
Đất đai phường Tri Vụ được sáp nhập từ bốn phường cũ là phường Bảo Hòa 保和坊  
(chạy dọc Ngự Hà), Thuận Cát 順吉坊, Bảo Cư 保居坊và phường Phục Lễ 復禮坊.  
Vào đầu thế kỷ XX, địa giới của phường với giới hạn: phía tây giáp tường  
thành, phía bắc giáp Ngự Hà, phía nam giáp con đường đi tới cửa Tây Nam, Vọng  
Lâu IV(19) và nó chia tách phường Tri Vụ với phường Thuận Cát, phía đông giáp  
phường Huệ An, cả hai phường này đều được định bởi con đường lớn chạy từ cửa  
Chánh Nam, Vọng Lâu V cho đến cửa Tây Bắc hay Vọng Lâu II.(20)  
Ranh giới của phường đối chiếu với hiện nay như sau: phía tây giáp đường Tôn  
Thất Thiệp, phía bắc giáp đường Triệu Quang Phục, phía nam giáp đường Yết Kiêu  
(con đường đâm thẳng từ Cửa Hữu, tức cửa Tây Nam, phân chia phường Tri Vụ với  
Thuận Cát), phía đông giáp đường Nguyễn Trãi (phân tách Tri Vụ với Huệ An).  
Một số di tích tiêu biểu tọa lạc ở địa phận phường: Đô Sát Viện 都察院, chợ  
Phiên, miếu Thổ Thần 土神廟, Hổ Oai tiền vệ 虎威前衛, chợ Cửa Hữu, miếu Ngũ  
Hành 五行廟, Tân Miếu 新廟 (tức Cung Tôn Miếu, nơi thờ vua Dục Đức, được  
xây dựng vào năm 1891 dưới thời vua Thành Thái).  
9
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
2.2.3. Phường Thuận Cát 順吉坊  
Địa bàn phường Thuận Cát chính là dải đất hình chữ nhật trải dài từ đài Nam  
Thắng, Nam Hùng, Nam Minh đến đài Tây Trinh, nguyên trước đó là khu vực tuần  
phòng, quản lý của doanh Thần Cơ. Phường Thuận Cát được tạo lập trên phần đất  
của 5 phường cũ, đó là: Ngưng Tích 凝績坊, Nam An 南安坊, Nam Cường 南彊  
坊, Vệ Quốc 衛國坊, Túc Võ 肅武坊. Trong một số bản dịch và ghi chép trước  
đây đều cho biết ở khu vực này từng tồn tại một phường có tên là Tú Võ 鏽武. Tuy  
nhiên theo chúng tôi, rất có khả năng tự dạng của Túc “肅” và Tú “鏽” khá giống  
nhau nên đã dẫn đến sự nhầm lẫn đó.  
Bằng phương pháp định vị trên bản đồ và những mô tả của L. Cadière, có thể  
thấy ranh giới của phường Thuận Cát với tứ cận như sau: cả hai phía tây và nam  
đều lấy hệ thống tường thành làm giới hạn; phía bắc giáp với Tri Vụ (con đường  
chạy từ cửa Tây Nam/Vọng Lâu IV/Cửa Hữu phân chia hai phường), phía đông  
giáp với phường Huệ An, ngăn cách hai phường này là con đường chạy từ cửa Tây  
Bắc ra đến cửa Chánh Nam.  
Ranh giới trên thực địa của phường hiện nay: tây giáp đường Tôn Thất Thiệp,  
nam giáp đường Ông Ích Khiêm, bắc giáp đường Yết Kiêu (ranh giới với phường  
Tri Vụ) và đông giáp với đường Nguyễn Trãi.  
Một số di tích tiêu biểu trên địa bàn phường: Quan Tượng Đài 觀象臺, Khâm  
Thiên Giám 欽天監, đàn Xã Tắc 社稷壇, miếu Đô Thành Hoàng 都城隍廟, hồ Xã  
Tắc 社稷湖, đàn Âm hồn 陰魂壇.  
2.2.4. Phường Huệ An 惠安坊  
Phường Huệ An là một trong những phường có diện tích khá nhỏ. Địa phận  
Huệ An hẹp bề ngang (tây - đông), nhưng kéo dài theo hướng bắc - nam. Phường  
có đồ hình dạng chữ “L”, đây chính là dải đất chạy dọc ở mặt tây của Hoàng Thành  
và song song với con đường nối thẳng từ cửa An Hòa ra đến cửa Nhà Đồ. Căn cứ  
sách Đại Nam nhất thống chí, phường Huệ An được thành lập trên cơ sở tích hợp  
của 4 phường cũ: phường Nhuận Trạch 潤澤坊, Nhuận Ốc 潤屋坊, Nam Cường 南  
彊坊 và phường Túc Võ 肅武坊.  
Giới hạn của phường: phía đông giáp với Hoàng Thành và phường Trung  
Hậu (ranh giới giữa hai phường là con đường nối từ phía bắc Hoàng Thành kéo  
dài đến sông Ngự Hà), phía tây giáp với phường Thuận Cát (ranh giới chính là con  
đường nối từ cửa An Hòa ra đến cửa Nhà Đồ), phía bắc giáp với Ngự Hà và phía  
nam giáp với tường thành Kinh Thành. Hiện nay ở khu vực hồ Tân Miếu vẫn còn  
tấm bia đá góp phần xác định rõ mốc giới phường Huệ An với phường Thuận Cát  
và Tri Vụ. Tấm bia được dựng ở góc trục đường Thạch Hãn và Nguyễn Trãi, trên  
10  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
đó ghi rõ: Huệ An phường địa phận 惠  
安坊地分.  
Ranh giới phường phỏng đoán theo  
vị trí thực địa hiện nay như sau: phía  
bắc giáp với đường Triệu Quang Phục,  
tây giáp đường Nguyễn Trãi, nam giáp  
đường Ông Ích Khiêm, đông giáp  
đường Lê Huân và đường Phùng Hưng  
(đây chính là con đường phân tách địa  
giới Huệ An với Trung Hậu).  
Một số di tích tọa lạc ở địa phận phường:  
miếu Âm Hồn 陰魂廟 (được kiến lập  
dưới thời vua Thành Thái), Ngự Mã  
Khái, miếu Thạch Thần Tướng Quân  
石神將軍廟, vườn Thư Quang 舒光園,  
miếu Ngũ Hành 五行廟.  
Ảnh 1: Tấm bia mốc giới: Huệ An phường địa  
phận, ở giao lộ Nguyễn Trãi - Thạch Hãn.  
2.2.5. Phường Trung Tích 忠積坊  
Trong số 10 phường Nội thành, phường Trung Tích là khu vực được quy  
hoạch tập trung nhiều nhất các nha sở thuộc bộ máy hành chính triều đình nhà  
Nguyễn. Nằm về phía đông và sát nách của Hoàng Thành, địa vực phường Trung  
Tích theo chính sử triều Nguyễn trước đó gồm có 5 phường: Nhơn Hậu 仁厚坊,  
Tích Thiện 積善坊, Trung Thuận 忠順坊, Đoan Hòa 端和坊, Ninh Mật 寧謐坊.  
Giới hạn của phường với tứ cận như sau: phía đông giáp phường Thái Trạch,  
phía nam giáp tường thành Kinh Thành, phía tây giáp Hoàng Thành, phía bắc giáp  
với hai phường Trung Hậu và Phú Nhơn, phân tách hai phường là con đường nối  
từ góc đông bắc Hoàng Thành chạy thẳng ra cửa Chánh Đông (người Pháp thường  
gọi là Vọng Lâu IX, dân Huế quen gọi là cửa Đông Ba).  
Ranh giới phường phỏng đoán theo vị trí thực địa hiện nay như sau: Đông  
giáp đường Lê Thánh Tôn, bắc giáp đường Mai Thúc Loan, tây giáp đường Đoàn  
Thị Điểm và nam giáp đường Ông Ích Khiêm.  
Một số di tích thuộc địa phận phường: điện Long An (hiện nay là Bảo tàng Cổ  
vật Cung đình Huế), Tôn Nhơn Phủ 尊人府, Lục Bộ, Cơ Mật Viện 機密院 (trước  
đó là chùa Giác Hoàng, nay là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế),  
11  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
Mộc Thương Đốc Công Sở 木倉督公所, Thái Y Viện Giảng Đường 太醫院講堂,  
Quảng Thiện Đường 廣善堂 (về sau là trường Quốc Tử Giám, nay là Bảo tàng Lịch  
sử Cách mạng Thừa Thiên Huế), miếu Thái Y 太醫廟, miếu Ngũ Hành 五行廟, phủ  
đệ Hoàng Công 皇公府弟, Kinh Trạm 京站, Hỏa Lệnh Sở 火令所, Tả Đại Tướng  
Quân Xưởng 左大將軍廠, miếu Thượng Tứ 上駟廟, viện Thượng Tứ 上駟院.(21)  
2.2.6. Phường Thái Trạch 泰澤坊  
Phường Thái Trạch nằm ở góc đông nam Kinh Thành Huế, thuộc nam Ngự  
Hà, kéo dài từ cửa Đông Ba men theo bờ thành, tiếp giáp với phường Trung Tích.  
Nguyên địa phận của phường thuộc quyền kiêm quản của doanh Tiền Phong và  
doanh Vũ Lâm.  
Theo khảo cứu của L. Cadière, phường Thái Trạch được hợp nhất từ các  
phường Đông Phúc 東福坊, Hà Phúc 遐福坊và ba giáp Đông Thái 東泰甲, Thiện  
Đạo 善導甲, Hợp Trạch 洽澤甲.(22) Căn cứ địa bạ phường Thái Trạch thì ba giáp  
nói trên được hình thành vào cuối đời vua Khải Định dựa trên cơ sở ba phường  
có từ thời vua Tự Đức. Từ một số cứ liệu có thể khẳng định, phường Thái Trạch  
nguyên thuộc các phường cũ trước đó, gồm: Đông Phúc 東福坊, Hợp Trạch 洽澤  
坊, Thiện Đạo 善導坊, Thuận Bình 順平坊, Nhơn Tiệm 仁塹坊, Hà Phúc 遐福坊  
và một phần phường Hóa Thành 化城坊.  
Đầu thế kỷ XX, địa giới phường được xác định như sau: phía tây giáp với  
phường Trung Tích, bắc giáp phường Vĩnh An (ngăn cách hai phường này là con  
đường đất nối thẳng cửa Chánh Đông) và hai mặt nam, đông tiếp giáp với tường  
thành Kinh Thành. Hiện nay vẫn còn tấm bia mốc giới giữa hai phường Thái Trạch  
và Trung Tích, tấm bia đã bị vỡ làm ba nhưng một số chữ vẫn còn đọc rõ: Thái  
Trạch phường địa phận 泰澤坊地分.  
Ranh giới của phường với thực địa hiện nay: Tây giáp đường Lê Thánh Tôn,  
bắc giáp đường Mai Thúc Loan (phân giới Thái Trạch với Vĩnh An), nam giáp  
đường Ông Ích Khiêm và đông giáp đường Xuân 68.  
Một số di tích tiêu biểu trên địa bàn phường: miếu Ngũ Hành 五行廟, lao  
Trấn Phủ 鎮撫牢, hồ Ba Viên 花園湖, chợ Đông Phước 東福巿, vệ Hùng Dực 翊  
雄衛, miếu Thổ Thần 土神廟.  
2.2.7. Phường Vĩnh An 永安坊  
Nằm ở mép đông Kinh Thành, địa phận phường Vĩnh An với dạng hình chữ  
nhật, được xác định kéo dài từ khu vực cửa Chánh Đông (cửa Đông Ba) ra đến  
Ngự Hà. Phường Vĩnh An hình thành trên cơ sở đất đai của phường Thanh Long  
青龍坊, Vĩnh An 永安坊. Trước thời vua Duy Tân, đây là địa bàn quản lý của các  
vệ thuộc doanh Long Võ.  
12  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
Giới hạn phường Vĩnh An với tứ cận như sau: phía tây giáp phường Phú  
Nhơn, bắc giáp Ngự Hà, nam giáp phường Thái Trạch (phân giới hai phường này  
là đường đất nối thẳng cửa Chánh Đông, Vọng Lâu IX) và đông giáp tường thành  
Kinh Thành.(23)  
Ranh giới của phường với thực địa hiện nay: Tây giáp đường Lê Thánh Tôn,  
bắc giáp đường Lê Văn Hưu, nam giáp đường Mai Thúc Loan và đông giáp đường  
Xuân 68.  
Một số di tích tiêu biểu trên địa bàn phường: Tể Sanh Sở 宰牲所, hồ Tể Sanh  
宰牲湖, Phúc Thiện Đường (tiềm để vua Tự Đức), đàn Âm hồn 陰魂壇, Đông  
Thành Thủy Quan 東城水關.  
2.2.8. Phường Trung Hậu 忠厚坊  
Trong số 8 phường thuộc khu vực nam sông Ngự Hà, phường Trung Hậu có  
diện tích lớn hơn cả. Phường Trung Hậu có dạng hình chữ nhật, hẹp theo hướng  
đông - tây, được giới hạn kéo dài từ mặt sau của Hoàng Thành ra đến Ngự Hà.  
Trong bản đồ của Đại Nam nhất thống chí và khảo cứu của L. Cadière thì phường  
Trung Hậu được hình thành trên địa vực của phường Kiêm Năng 兼能坊, Bão Đức  
飽德坊 và phường Phú Văn 富文坊. Địa phận của phường dưới thời Gia Long,  
Minh Mạng thuộc quyền kiêm quản bởi đồn Tả Dực, được tính từ đài Nam Thắng  
đến điện Thanh Hòa, về sau do doanh Vũ Lâm đảm nhận.  
Tứ cận của phường Trung Hậu với giới hạn như sau: phía nam giáp với  
Hoàng Thành và phường Trung Tích, bắc giáp Ngự Hà, phía tây giáp Ngự Hà và  
phường Huệ An (con đường nối thẳng từ mặt sau Hoàng Thành ra đến Ngự Hà  
chính là ranh giới của hai phường), phía đông giáp với phường Phú Nhơn phân  
tách bằng con Đường Lớn Lục Bộ (đây là trục đường kéo dài từ cửa Chánh Bắc ra  
đến cửa Thượng Tứ, nay là đường Đinh Tiên Hoàng).  
Như vậy, ranh giới trên thực địa của phường hiện nay: Phía nam giáp với  
đường Đặng Thái Thân và Mai Thúc Loan (đoạn đường này tính từ góc vuông  
Đoàn Thị Điểm - Mai Thúc Loan đến ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Mai Thúc Loan,  
phân giới với phường Trung Tích), phía tây giáp đường Phùng Hưng, đông giáp  
đường Đinh Tiên Hoàng và bắc giáp Ngự Hà (tức đường Trần Quý Cáp và một  
đoạn đường Phùng Hưng).  
Một số di tích thuộc địa phận phường: Đô Sát Viện 都察院, Cung Giám Viện  
宮監院, Quốc Sử Quán 國史館, Nha Hộ Thành 護城衙, Bình An Gia 平安家, Anh  
Giáo Trường 英教場, hồ Tịnh Tâm 淨心湖.  
13  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
2.2.9. Phường Phú Nhơn 富仁坊  
Nằm ở phía đông Hoàng Thành, thuộc khu vực nam Ngự Hà, phường Phú  
Nhơn có diện tích khá nhỏ so với những phường còn lại. Căn cứ vị trí của một  
số di tích như lầu Tàng Thơ, vườn Thường Thanh, hồ Học Hải… mà sách Đại  
Nam nhất thống chí ghi chép, có thể thấy phường Phú Nhơn nguyên là đất cũ của  
phường Phú Văn, Nhơn Hậu, Thường Thanh, Phong Doanh, Học Hải. Đặc biệt,  
trong bản kê Địa bộ vào năm Duy Tân thứ 2 (1908) còn cho biết “trước đây nguyên  
là Thường Thanh, Nhơn Hậu và Phú Văn, nay xin đổi là phường Phú Nhơn”.(24)  
Đối chiếu với địa giới cũ thì đây chính là địa bàn do doanh Vũ Lâm, Long Võ quản  
lý. Chắc hẳn, cái tên Phú Nhơn được ghép từ tên của hai phường Phú Văn, Nhơn  
Hậu mà thành. Ngày nay, trong phạm vi của phường còn tồn tại hai hồ: Phú Văn  
và Nhơn Hậu, có lẽ đây là lưu ảnh duy nhất về danh xưng của hai phường cũ tồn  
tại trước thời Duy Tân.  
Phường Phú Nhơn có dạng hình chữ nhật, liền vùng liền thửa với phường  
Trung Tích, Trung Hậu và Vĩnh An. Theo L. Cadière, giới hạn phường Phú Nhơn  
với tứ cận như sau: phía bắc giáp Ngự Hà, phía tây là đường Lục Bộ, con đường  
này chia ranh giới với phường Trung Hậu, phía nam giáp phường Trung Tích, phía  
đông giáp Ngự Hà và phường Vĩnh An.(25)  
Ranh giới phường phỏng đoán theo vị trí thực địa hiện nay: Bắc giáp Ngự Hà  
(tức đường Lê Văn Hưu), tây giáp đường Đinh Tiên Hoàng, nam giáp đường Mai Thúc  
Loan, đông giáp Ngự Hà và phường Vĩnh An (ranh giới là đường Lê Thánh Tôn).  
Một số di tích thuộc địa phận phường: hồ Phú Văn Thể 富文体湖, đàn Âm  
Hồn 陰魂壇, vườn Thường Thanh 常青園, lầu Tàng Thơ 藏書樓, Hỏa Dược Diêm  
Tiêu Khố 火藥檐硝庫, hồ Học Hải 學海湖.  
2.2.10. Phường Tây Linh 西靈坊  
Phần lớn đất đai phường Tây Linh trước đó bao gồm cả dải đất bao quanh  
đồn Mang Cá, sau thời vua Đồng Khánh, khu vực này được triều đình cắt nhượng  
cho thực dân Pháp. Nằm ở khu vực bắc Ngự Hà, phường Tây Linh có diện tích thổ  
canh rất lớn. Nguyên đất của phường Tây Linh là địa phận trước đó của phường  
Định Bắc 定北坊 (nằm trong vùng bao quanh phần đất nhượng địa, quanh vùng  
Mang Cá và Trấn Bình Đài); phường Ân Thạnh 殷盛坊 (ở phía bắc Ngự Hà);  
phường Ninh Bắc 寧北坊 và một phần đất thuộc các phường Thừa Thiên 承天坊,  
Thường Dũ 常愈坊, Tứ Dịch 四驛坊.  
Phạm vi phường Tây Linh: phía tây giáp phường Tây Lộc, phía bắc giáp tường  
thành của Kinh Thành, phía nam giáp Ngự Hà và phía đông giáp khu Nhượng địa  
(Khu vực Trấn Bình Đài).  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
14  
Ảnh 2: Bản đồ Kinh Thành Huế năm 1885. (Ảnh do Giáo sư Mark Mc Leod, Trường University of  
Delaware cung cấp. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cám ơn).  
Ranh giới phường Tây Linh đối chiếu với thực tế hiện nay, như sau: phía tây  
giáp đường Trần Nhật Duật (ranh giới Tây Linh với Tây Lộc), phía bắc giáp đường  
Lương Ngọc Quyến, nam giáp đường Lê Trung Đình và phía đông giáp đường  
Mang Cá.  
Một số di tích tiêu biểu trên địa bàn phường: quán Linh Hựu 靈佑觀, doanh  
Kỳ Võ 耆武營, hồ Hậu Bảo 後保湖.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
15  
Ảnh 3: Bản đồ Kinh Thành Huế năm 1885. Nguồn BAVH năm 1933.  
Bảng 3: Bảng đối chiếu giới hạn các phường Nội thành trước 1945  
Tên  
phường  
STT  
Đối chiếu địa giới hiện nay  
(3)  
Nay thuộc  
(1)  
(2)  
(4)  
Đông: đường Trần Nhật Duật và Trần Văn Kỷ. Nam: đường  
Ngô Thế Lân. Tây: đường Tôn Thất Thiệp. Bắc: đường  
Lương Ngọc Quyến.  
Tây Lộc  
西祿坊  
1
Tây Lộc  
Tây Linh  
西靈坊  
Đông: đường Mang Cá. Nam: đường Lê Trung Đình. Tây:  
đường Trần Nhật Duật. Bắc: đường Lương Ngọc Quyến.  
2
Thuận Lộc  
Thuận Hòa  
Tri Vụ  
知務坊  
Đông: đường Nguyễn Trãi. Nam: giáp đường Yết Kiêu. Tây:  
đường Tôn Thất Thiệp. Bắc: đường Triệu Quang Phục.  
3
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
16  
(1)  
(2)  
(3)  
(4)  
Thuận Cát Đông: đường Nguyễn Trãi. Nam: đường Ông Ích Khiêm.  
4
Thuận Hòa  
順吉坊  
Tây: đường Tôn Thất Thiệp. Bắc: đường Yết Kiêu.  
Đông: đường Lê Huân và đường Phùng Hưng. Nam:  
đường Ông Ích Khiêm. Tây: đường Nguyễn Trãi. Bắc: Thuận Hòa  
đường Triệu Quang Phục.  
Huệ An  
惠安坊  
5
Trung Tích Đông: đường Lê Thánh Tôn. Nam: đường Ông Ích Khiêm.  
忠積坊 Tây: đường Đoàn Thị Điểm. Bắc: đường Mai Thúc Loan.  
Thái Trạch Đông: đường Xuân 68. Nam: đường Ông Ích Khiêm. Tây:  
Thuận  
Thành  
6
7
8
9
Thuận  
Thành  
泰澤坊  
đường Lê Thánh Tôn. Bắc: đường Mai Thúc Loan.  
Vĩnh An  
永安坊  
Đông: đường Xuân 68. Nam: Mai Thúc Loan. Tây: đường  
Lê Thánh Tôn. Bắc: đường Lê Văn Hưu.  
Thuận Lộc  
Thuận Lộc  
Phú Nhơn Đông: đường Lê Thánh Tôn. Nam: đường Mai Thúc Loan.  
富仁坊  
Tây: đường Đinh Tiên Hoàng. Bắc: đường Lê Văn Hưu.  
Đông: đường Đinh Tiên Hoàng. Nam: đường Đặng Thái  
Thân và Mai Thúc Loan. Tây: đường Phùng Hưng. Bắc:  
đường Trần Quý Cáp, Phùng Hưng.  
Trung Hậu  
忠厚坊  
Thuận  
Thành  
10  
3. Đôi dòng nhận xét  
3.1. Trên cơ sở kế thừa thành quả của các lần quy hoạch có từ thời vua Gia  
Long, Minh Mạng và Tự Đức, đợt điều chỉnh năm Duy Tân (1909) là sự sắp xếp,  
rút gọn từ 108 phường xuống còn 10 phường trong Kinh Thành Huế. Đợt điều  
chỉnh này hoàn toàn không thay đổi về diện tích của Kinh Thành, nhưng diện tích  
các phường tăng lên, bởi mỗi phường như thế được tích hợp, sáp nhập của một  
hay nhiều phường trước đó. Nhìn tổng thể, 10 phường được phân giới theo hình  
thức chia ô bàn cờ, tạo thành các khoảnh đất vuông vắn, những dãy nhà dọc ngang  
thẳng hàng, ngăn nắp.  
Quan sát trên bản đồ, dễ dàng nhận thấy địa phận các phường được phân  
tách bởi các con đường đất nối thẳng (trường nhai), đối xứng các cửa ra vào Kinh  
Thành, tạo thành những “đại lộ trung tâm”. Tính từ đông sang tây chúng ta có trục  
đường nối từ Tây Nam Môn 西南門 (Cửa Hữu) Chánh Đông Môn 正東門 (cửa  
Đông Ba). Theo chiều Bắc - Nam ta có, [1] Tây Bắc Môn 西北門 (cửa An Hòa)   
Chánh Nam Môn 正南門 (cửa Nhà Đồ); [2] Chánh Bắc Môn 正北門 (Cửa Hậu)   
Đông Nam Môn 東南門 (cửa Thượng Tứ).  
Sẽ có ít nhất là hai mặt (tứ cận) của mỗi phường tiếp giáp và giới hạn bởi hệ  
thống thành giai của Kinh Thành, Hoàng Thành Huế và Ngự Hà trong tất cả 10  
phường Nội thành. Thành quách và con sông Ngự Hà đóng vai trò ngăn cách các  
phường, ranh giới này vừa có tính bền vững, cố định, đồng thời khu biệt rạch ròi  
giới hạn phạm vi của mỗi bên. Đó là lý do góp phần minh định một điều, trong  
quá trình cắm mốc phân giới giữa các phường, người ta chỉ dựng bia đá, cột đá ở  
những vị trí giáp ranh với những phường liền kề. Chẳng hạn như phường Huệ An,  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
17  
mốc giới được dựng ở phía tây và mặt đông, bởi 2 phía còn lại giáp giới với tường  
thành và Ngự Hà.  
Bình đồ Kinh Thành Huế có dạng phương hình. Nếu kéo một đường thẳng  
theo đúng trục Dũng đạo (trục trung tâm của Kinh Thành) với điểm khởi đầu từ  
cửa Ngọ Môn đến điểm chính giữa mặt thành phía bắc (thuộc pháo đài Bắc Trung  
北中臺) sẽ chia Kinh Thành làm hai phần bằng nhau. Ở khu vực phía tây có 4  
phường: Tây Lộc, Tri Vụ, Thuận Cát, Huệ An và phía đông có tất cả 6 phường:  
Tây Linh, Trung Hậu, Phú Nhơn, Vĩnh An, Trung Tích, Thái Trạch. Trong khi đó,  
hệ thống sông Ngự Hà chảy từ Tây Thành Thủy Quan về đến Đông Thành Thủy  
Quan phân tách Kinh Thành Huế làm hai địa bàn rõ rệt, đó là khu vực Bắc Ngự Hà  
gồm có hai phường: Tây Linh, Tây Lộc và Nam Ngự Hà với 8 phường còn lại: Tri  
Vụ, Thuận Cát, Huệ An, Trung Hậu, Trung Tích, Thái Trạch, Vĩnh An, Phú Nhơn.  
3.2. Phường là tập hợp những nhóm cộng đồng người cùng sinh sống trên  
một địa vực xác định. Trước đó, phường là khái niệm chung về một dạng đơn vị  
hành chính cơ sở với quy mô ngang hàng với phe, giáp, nhưng tương đương với  
xã về mặt hành chính. Sau năm 1827, vua Minh Mạng ban hành quy định bãi bỏ  
cấp phường, ngoại trừ khu vực nội thành, tất cả đều đổi gọi thành ấp. Kể từ đây,  
phường chỉ những khu vực mang vóc dáng đô thị, gắn liền với yếu tố thương mại,  
kéo theo sự biến đổi mật độ dân cư cũng như sự chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề.  
Dựa vào bản Cựu khế được lập vào năm Khải Định thứ 8 (1923) và tờ Văn  
khế bán đất vào năm Khải Định 9 (1924) được công bố trước đó, cho thấy vào giai  
đoạn này, người đứng đầu “phường” ở khu vực Nội thành chính là “Lý trưởng 理  
長”.(26) Tương tự, trong bản Địa bạ phường Thái Trạch được lập vào ngày 16 tháng  
02 năm Duy Tân thứ 9 (1915) và tờ kê khai số đinh của phường Tri Vụ năm Khải  
Định thứ 3 (1918), góp phần xác định Lý trưởng là chức danh cao nhất của bộ máy  
hành chính ở mỗi phường, chịu trách nhiệm toàn bộ việc điều hành công việc nội  
phường và đầy đủ tư cách pháp lý để giao thiệp với nhà nước.(27) Phường trước năm  
1945 là đơn vị hành chính tương đương cấp xã, thống thuộc bởi huyện và phủ. Tuy  
vậy, với đặc thù là địa bàn trọng địa của Kinh Thành Huế, 10 phường Nội thành  
vẫn nằm trong diện quản lý trực tiếp bởi Nha Hộ Thành: chuyên trách về dân sự,  
an ninh và Bộ Hộ: kiểm soát toàn bộ nhân khẩu, hộ tịch. Bên cạnh đó, quá trình  
xây dựng nhà cửa sẽ do Bộ Công đứng ra kiểm duyệt. Đây là một biện pháp tích  
cực để hạn chế tình trạng nhập cư ồ ạt, xâm phạm ranh giới, lấn chiếm đất đai các  
nha sở, dinh thự, đền miếu.  
3.3. Tổ chức phường từ thời Duy Tân trở về trước với đặc trưng cơ bản của  
cơ chế quân quản. Sau đợt điều chỉnh năm 1909 hệ thống phường nội thành chuyển  
dần theo hướng dân sự hóa. Kể từ thời điểm này quyền sở hữu đất đai, nhà cửa của  
T ạ p c h í N g h i ê n c ứ u v à P h á t t r i ể n , s ố 5 ( 1 1 4 8 8 ) . 2 0 1 8  
h à n h b ả n v ă n c á c b ằ n g h ó a t h ể c ụ v à n h ậ n t h ừ a đ ư ợ c t h h ứ c c h í n d â n n g ư c ờ ả i t ấ t  
N h a d o c ấ p x i n b ả n ) v ă n ( h a i đ ơ n h a i c ó p h ả i đ ề u đ ấ t n h ậ n m u ố n n à o N g ư ờ i c h í n h .  
n g h ề t ê n , h ọ r õ k h a k i ê t h ờ i đ ồ n g d u y ệ p t , h ê đ ị n h , t h ẩ m C ô n B g ộ v à  
k h u y ế đ n ì n h t r i ề u i ệ V t , n g ư ờ v ớ i i Đ ố i l ý . q u ả n d õ i , t h e s o ổ t h à n l h ậ p đ ể  
T h à H n h ộ  
n g h i ệ p …  
N ộ i v ự c k h u t r o n g s ố n g s i n h đ ư ợ c d â n n g ư ờ m i ọ đ i ể k i ệ n đ i ề u m ọ i t ạ o v à  
k h í c h  
N g u n y h ễ n à c ủ a q u á n n h ấ t t r ư ơ n c h g ủ t h ì q u ố c n g o ạ i n g ư ờ v ớ i i n h i u ê n y T ,  
t h à n h .  
( 2 8 )  
Q u y  
T h à n h K ” i . n h t r o n t g r ú c ư đ ư ợ c k h ô n g q u ố c n g o ạ i “ n g ư đ ờ ố i i : t u y ệ t c ấ m l à  
t ư ơ n g d ụ n á g p đ ư ợ c c ũ n g n à y đ ị n h  
đ ư ợ c c h o k h ô n c g ấ m r ă n s ứ c t h â n t h ì b á n m u a t ớ i T h a n h n g ư ờ i t h ư ơ n g “ k h á c h  
đ ó t h e o T h a n h , n g ư ờ i t h ư ơ n g K h á v c ớ h i đ ố i t ự  
ở
( 2 9 )  
l ạ i q u a đ ê m t r o n  
t í n h , c ă n n é t r õ á n h p h ả n n g ư t ỡ í n n g h o ạ t s i n h đ ồ n g , c ộ n g m ỗ i v ớ i Đ ố i 3 . 4 .  
n g h ề x u ấ t s , ả n đ ộ n g h o ạ t t r ư n g đ ặ c h i ệ n b i ể u c ư , d â n p h ậ b n ộ t ừ n g c ủ a t h ứ c t â m  
v ớ i l i ề n g ắ n t h à n h N ộ i v ự c k h ở u p h ư ờ n “ g đ ” ì n c h á c t h à n h h ì n h t r ì n h Q u á n g h i ệ p .  
n ả y n ó t h ờ i đ ồ n g n h ư n g n h a u , k h á c t ầ n g g i a i n h i ề c u ủ a n g h l i ậ ệ p c ư , t ụ t r ì n h q u á  
c h ú n s g á t , k h ả o đ ầ u B ư ớ t ự c . t ế l i n h , t â m c ạ n h k h í v a ề t ạ i n ộ i c ầ u n h u c h í t n ừ h s i n h  
v ớ i đ ồ n g t ư ơ n g t o à n h o à n p h ư ờ n đ g ì n h c ủ a n ă n g c h ứ v c à m ô q u y t h ấ y n h ậ t n ô i  
m ỗ i c ủ a t ự t ế h ọ p , h ộ i t â m t r u l n à g x e m đ ư ợ c đ ì n h t i ê n , r ư T ớ c l à n g . đ ì n h t h ố h n ệ g  
c ó v ậ t n h â s n ố m ộ v t à 隍 城 土 本  
h o à n g T h à t n h h ổ B ổ n t h ờ n ơ l i à  
p h ư ờ b n ổ g n . v ớ i c ô n g  
T h u n h ị k ỳ ) . T h u t ế ( X u â n l à : X u â n k ỳ v à  
Đ ì n h  
p h ư ờ n g .  
đ ó t r ọ n g q u t a ế n k ỳ h a i c ó n ă m h à n g n g l h ễ i , b i ể u l ị c h r o T n g  
v u a đ o ạ n g i a t i ừ t ạ o k h ở i đ ư ợ c T h à n h K i n h t r o n g p h ư ờ đ n ì g n h c á c h ế t H ầ u  
đ ư ợ t c ụ c l i ê n s a u v ề 1 9 - 2 5 ) , ( 1 9 1 6 Đ ị n h K h ả i t r i ề u đ ế n 1 9 - 1 6 ) ( 1 9 0 7 T â n D u y  
g ó p đ ó n g q u ả k ế l t à đ ì n h d ự n g x â y v i ệ c b i ế t c h o N h ơ n P h ú đ ì ở n h b i a V ă n t u . t r ù n g  
c á c t ừ  
d ự n g x â y đ ư ợ c đ ì n s h ố Đ a  
p h ư ờ n n ộ g i . d â n c o n c ủ a b ạ c t i ề n v à s ứ c c ô n g  
n g u y ê n v ậ t l i ệ u k  
t h ư ờ n g t h ô n m g ô  
p h â n đ i ở ể m n ằ m t h ư ờ n đ g ì n t h r í v ị l à b i ệ t đ ặ c s ứ c h ế t đ i ể m M ộ t đ à n c . ô t h ầ n t , h ổ  
g i ớ i v ớ i p h ư ờ n g  
t ô n g c ố t t h é p . Q u y  
t h ờ m i ế đ u ặ t t h i ế t h ữ t u ả b ê n h a i k é p , c h á i h a i g i a b n a g i a b n a , l à  
H u ế t h à n h N ộ i b à n đ ị a t r ê n n a y h i ệ n d ã , đ i ề n đ ợ t c á c t ừ q u ả k ế t k ê  
T h ố n g  
5 4 s ố L ộ c : T â y  
K i ê u Y , ế t đ ư ờ 5 n 1 g s ố V ụ r i : T  
Đ ì n [ h 4 ]  
X - u â n T â n D u y T ố l n ộ g g i a o ( c á c h K h i ê Í c m h Ô n g đ ư ờ n g T í c h : r u T n g  
p h ư ờ n Đ g ì n [ h 1 ] s a u : n h ư b ố p h â n  
p h ư ờ đ n ì g n , h 9 / 1 t 0 ạ i t ồ n c ò n  
p h ư ờ n Đ g ì n [ h 2 ]  
Q u y ế n N , g ọ c L ư ơ n g đ ư ờ 5 n 6 - g  
T h u ậ t , T h i ệ n N - g u y ễ n H u â L n ê t ư n g ở ã n ằ m A n : H u ệ  
p h ư ờ n Đ g ì n [ h 3 ]  
p h ư ờ n g  
3 0 0 m ) , k h o 6 ả 8 n g  
-
K ế Đ ứ c N g t ô ư n g ở ã l ạ c t ọ a r ạ T c h : T h á i  
Đ ì n [ h 7 ] H o à i n ê T g n , Đ i n h 2 7 6 s ố N h ơ n P : h ú  
p h ư ờ n Đ g ì n [ h 5 ]  
p h ư ờ n Đ g ì n [ h 6 ] D i ễ u C , h í  
N g u y ễ n  
s ố A n : V ĩ n h p h ư ờ n Đ g ì n [ h 8 ] T h â n , T h á i Đ ặ n g đ ư ờ 1 n 2 g s ố H ậ u : r u T n g  
T h á n h G i ó n g . T â y L i n h : s ố 5 7 đ ư ờ n g  
p h ư ờ n g  
1 0 9 N g ô Đ ứ c K ế  
19  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
Đình phường Trung Tích, đường Ông Ích Khiêm, Huế.  
Một số đình phường như HuệAn, Thái Trạch… vẫn còn giữ được phong cách  
kiến trúc nguyên ủy. Bên cạnh đó, hữu sự vô thường, trải qua biết bao biến động  
thời cuộc (thiên tai, chiến tranh) một số đình nay đã xuống cấp trầm trọng, duy  
nhất đình Thuận Cát thì đã biến mất hoàn toàn sau năm 1975. Dấu vết đình phường  
Thuận Cát hiện nay chính là cái am nhỏ nằm chơ vơ trong khuôn viên Trường Tiểu  
học Thuận Hòa (số 89 đường Nguyễn Trãi).  
3.5. Sau ngày triều Nguyễn cáo chung, cùng với những biến động chính trị,  
địa danh, địa giới đô thị Huế liên tục được điều chỉnh.(30) Ngày 11 tháng 9 năm  
1981, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định mở rộng thành phố Huế.(31) Kết quả đợt  
mở rộng này, 10 phường khu vực Nội thành sáp nhập thành 4 phường. Phường  
Thuận Hòa hợp thành từ ba phường cũ: Tri Vụ, Thuận Cát, Huệ An; phường Thuận  
Thành: Trung Tích, Trung Hậu, Thái Trạch; phường Thuận Lộc: Vĩnh An, Phú  
Nhơn, Tây Linh. Riêng phường Tây Lộc cơ bản địa giới được giữ nguyên và tồn  
tại cho đến ngày hôm nay. “Nhà có số, phố có tên”, quá trình đô thị hóa địa bàn Nội  
thành khởi phát từ những năm đầu của thế kỷ XX. Sau hơn 100 năm hình thành và  
phát triển, diện mạo đô thị nơi đây biến chuyển không ngừng, gắn liền với những  
bước thăng trầm của lịch sử vùng đất Thừa Thiên Huế. Những tên đất, tên phường  
ngày ấy dần phai mờ theo năm tháng, nhưng những bài học về việc quản lý đô thị  
Huế dưới thời Nguyễn ở khu vực Nội thành thiết nghĩ vẫn còn vẹn nguyên giá trị.  
Đ M Đ  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
20  
CHÚ THÍCH  
1. Viện Sử học (2009), Cổ luật Việt Nam, Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, Nguyễn  
Ngọc Nhuận, Nguyễn Tá Nhí dịch chú, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 519 - 531.  
2. Nội Các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Chính biên, tập III [Bộ Hộ,  
quyển 59, mục Thiên chuyển dân cư], bản dịch Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 489.  
3. “Xem xét kỹ thì Kinh Thành Huế chỉ là một thành quách rộng mênh mông, ở đó tập trung  
toàn bộ vương quyền: nơi vua ở, với những binh đội bảo vệ, những đội súng thần công,  
kho tàng, xưởng đúc súng và kho xưởng. Trong vòng thành thứ nhất, ngoại trừ một số tư  
thất của quan lại, người ta không thấy nhà người dân thường nào cũng như dịch vụ buôn  
bán gì bên trong, nếu có thì chỉ là những quán bán trà lá hay thực phẩm cho lính tráng và  
gia nhân quan lại. Người buôn bán kiểu này thường ở trong những căn nhà tạm bợ tồi tàn,  
bằng tre có mái rơm, thay vì làm đẹp thành phố thì chỉ làm thêm xốn mắt. Mọi dịch vụ buôn  
bán, mọi nghề nghiệp cũng như nhà cửa phú hộ đều nằm hết ở những thị trấn hay ngoại  
thành lân cận”. Michel Đức Chaigneau (2016), Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX qua hồi ức  
của Michel Đức Chaigneau, bản dịch của Lê Đức Quang, Trần Đình Hằng, Nxb Thuận  
Hóa, Huế, tr. 214 - 215.  
4. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 5, bản dịch Viện Sử học, Nxb  
Giáo dục, Hà Nội, tr. 121 - 122. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống  
chí, bản dịch Hoàng Văn Lâu, Nxb Lao động, Hà Nội, tr. 81- 83.  
5. Phan Thuận An (1999), Kinh thành Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 308.  
6. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2012), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tục biên, tập X  
[quyển 60, Nha Hộ thành, mục Tuần tra và Lệnh cấm], bản dịch Viện Sử học, Nxb Thuận  
Hóa, Huế, tr. 170 - 177.  
7. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2012), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, sđd, tr. 162 - 163.  
8. Nguyễn Quang Trung Tiến (1999), “Đơn vị hành chính Huế trước năm 1945”, Tạp chí Huế  
Xưa và Nay, số 35, tr. 38 - 39.  
9. [1] Lần mở rộng đầu tiên được tiến hành sau khi tờ dụ của vua Thành Thái (công bố ngày  
22/6/1903) được nghị định Toàn quyền Đông Dương chuẩn y vào ngày 3/7/1903. Đợt mở  
rộng này, người Pháp chỉ “mở thêm giới hạn ở phía Nam sông Hương, và sát nhập vào thị  
xã Huế các vùng sau lưng trường Quốc Học lên cầu Nam Giao, ngang dốc chùa Báo Quốc,  
ven sông Phủ Cam đến dốc Bến Ngự”.  
[2] Ngày 9/5/1908, vua Duy Tân xuống dụ và Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuẩn  
y vào ngày 24/7/1908 cho phép mở rộng địa hạt Huế lần thứ 2. Theo đó, sẽ có tất cả là 7  
phường thuộc phía bắc Sông Hương: phường Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Đệ Ngũ,  
Đệ Lục, Đệ Thất và 1 phường: Đệ Bát, thuộc hữu ngạn Hương Giang. Có thể nói đợt điều  
chỉnh này có quy mô rất lớn, đất đai của nhiều làng xã chính thức sáp nhập và “hành chính  
hóa” nội thuộc địa hạt thị xã Huế .  
[3] Đợt mở rộng, điều chỉnh thứ ba diễn ra dưới thời vua Khải Định. Vào ngày 4/11/1921, vị  
vua thứ 12 triều Nguyễn xuống dụ phân định lại ranh giới của thị xã Huế và hơn một năm  
sau đó, ngày 25/12/1922 Toàn quyền Đông Dương quyết định chuẩn y. Kết quả đợt này  
danh xưng “Phường Đệ Cửu” (giới hạn của phường kể từ khu vực miếu Lịch Đợi Đế Vương,  
bao quanh nhà Ga Huế, qua đến cầu Dã Viên) chính thức ra đời.  
21  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
10. Nguyễn Quang Trung Tiến (2005), “Cuộc tiến công quân Pháp ở Kinh đô Huế, 5/7/1885”,  
Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 69, tr. 74.  
11. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2012), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, sđd, tr. 176 - 178.  
12. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam thực lục chính biên, Đệ lục kỷ phụ biên, bản  
dịch Cao Tự Thanh, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 581.  
13. Nguyên văn: “L’intérieur de la Citadelle, c’est-à-dire toute la partie ressor tissant à  
l’Administration annamite, et non compris la Concession et le Mang-Ca, est divisé  
actuellement en 10 Phường 坊”. L. Cadière (1933), “La Citadelle de Hué: Onomastique”,  
Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH), tr. 74.  
14. Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2013), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Dân cư và  
Hành chính, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 307.  
15. Trong bài khảo cứu này, việc xác định địa giới giữa các phường chúng tôi tham khảo dựa  
trên những mô tả của Linh mục L. Cadière. Công trình dài hơi và tỉ mỉ này được tác giả  
đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Huế, vào năm 1933 dưới nhan đề “La Citadelle de  
Hué: Onomastique”, (Xin xem thêm Kinh thành Huế, Địa danh học, bản dịch Hà Xuân Liêm,  
Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 111 - 188). Bên cạnh đó, nguồn tư liệu được chúng tôi đối chiếu  
chính là hệ thống các bản đồ do người Pháp lẫn người Việt đo vẽ trong khoảng thời gian từ  
những năm 1885 đến 1943. Đơn cử như bản đồ “Plan de la Citadelle de Hué. Fourni par le  
Hộ - thành”, ký hiệu XXII, do ông Nguyễn Thứ vẽ. Ngoài ra những ghi chép về các nha sở,  
dinh thự, đền miếu… của sử quan nhà Nguyễn trong bộ Đại Nam nhất thống chí (bản in thời  
Duy Tân), bản đồ Kinh Thành Huế, hệ thống địa bạ, các cột mốc phân giới giữa các phường  
hiện tồn cũng là nguồn tư liệu đáng tin cậy.  
16. Nguyên văn: “Le quartier de Tay-Loc est limité, à l’Ouest et au Nord par les murailles de la  
Citadelle, au Sud par le Canal Impérial, à l’Est parle Canal Impérial et une ligne prolongeant  
ce Canal jusqu’à la muraille Nord de la Citadelle”. L. Cadière (1933), “La Citadelle de Hué:  
Onomastique”, bđd, tr. 75.  
17. Trong bài viết này, chúng tôi xin được lược qua một số di tích tiêu biểu từng tồn tại trên địa  
phận của mỗi phường. Bước đầu tìm hiểu, bên cạnh một số di tích hiện vẫn còn tồn tại như  
đàn Xã Tắc, điện Long An..., số khác đã có sự chuyển đổi công năng sử dụng, song phần  
lớn các công trình do nhiều lý do khác nhau đã bị triệt giải hoàn toàn. Do điều kiện và khuôn  
khổ bài viết chúng tôi chỉ dừng lại ở việc thống kê.  
18. Xin xem thêm Thái Văn Kiểm (1994), Cố đô Huế, Di tích - Lịch sử - Thắng cảnh, Nxb Đà  
Nẵng, tr. 31 - 39.  
19. Trong nhiều công trình nghiên cứu, bản đồ của các học giả nước ngoài khi viết về Kinh  
Thành Huế thường xuất hiện các danh xưng như: Vọng Lâu IV, Vọng Lâu V… Vọng Lâu là  
cách gọi khác của người phương Tây về 10 cửa thành của Kinh Thành Huế, được tính theo  
đơn vị số đếm, bắt đầu từ Chánh Bắc Môn đến Đông Bắc Môn, theo chiều ngược của kim  
đồng hồ: Chánh Bắc Môn / Vọng Lâu I (tục gọi là Cửa Hậu); Tây Bắc Môn / Vọng Lâu II (cửa  
An Hòa); Chánh Tây Môn / Vọng Lâu III; Tây Nam Môn / Vọng Lâu IV (Cửa Hữu); Chánh  
Nam Môn / Vọng Lâu V (cửa Nhà Đồ); Quảng Đức Môn / Vọng Lâu VI; Thể Nhơn Môn /  
Vọng Lâu VII (Cửa Ngăn); Đông Nam Môn/ Vọng Lâu VIII (cửa Thượng Tứ); Chánh Đông  
Môn / Vọng Lâu IX (cửa Đông Ba); Đông Bắc Môn / Vọng Lâu X (cửa Kẻ Trài).  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
22  
20. [Nguyên văn] “Ce quartier est limité à l’Ouest par le rempart de la Citadelle; au Nord par le  
Canal Impérial; au Sud par la voie qui aboutit à la Porte Tây-Nam, Mirador IV, et qui le sépare  
du quartier de Thuan-Cat; à l’Est par le quartier Hue-An, les deux quartiers étant réparés par  
la grande voie qui va de la Porte Chanh-Nam, Mirador V, à la porte Tay-Bac, ou Mirador II”.  
Xin xem thêm, L. Cadière (1933), “La Citadelle de Hué: Onomastique”, bđd, tr. 100.  
21. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, sđd, tr. 71 - 80. L. Cadière, “La  
Citadelle de Hué: Onomastique”, bđd, tr. 114 - 117.  
22. L. Cadière, “La Citadelle de Hué: Onomastique”, bđd, tr. 109.  
23. L. Cadière, “La Citadelle de Hué: Onomastique”, bđd, tr. 99.  
24. Hồ Vĩnh (1995), “Tìm hiểu phường xưa Nội Thành Huế: Phường Phú Nhơn”, in trong Tạp  
chí Huế Xưa và Nay, số 09.1995, tr. 89.  
25. L. Cadière, “La Citadelle de Hué: Onomastique”, bđd, tr. 107.  
26. Phan Thanh Hải (2003), “Quy hoạch nhà phố trong Kinh thành có từ bao giờ”, in trong Dấu  
ấn Nguyễn trong văn hóa Phú Xuân, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 216 - 220.  
27. Cũng cần nói thêm rằng, dưới thời nhà Nguyễn, Lý trưởng là người quản lý cấp xã, bắt đầu  
từ năm 1828 trở đi chức danh này được thay thế Xã trưởng.  
28. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Đệ lục kỷ phụ biên, sđd, tr. 582.  
29. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Đệ lục kỷ phụ biên, sđd, tr. 582.  
30. Ngày 21/12/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh  
số 77, đặt Huế là thành phố trực thuộc Trung Kỳ. Toàn bộ thành phố Huế chia thành 8 khu  
phố. Trong đó, khu vực I và II bao gồm toàn bộ địa bàn Thành Nội. Đến năm 1947, Huế  
được phân chia thành 3 quận và 8 khu phố. Địa bàn Thành Nội thuộc về Quận 1. Sau ngày  
tái chiếm Đông Dương, thực dân Pháp tiếp tục điều chỉnh các đơn vị hành chính. Ngày  
21/5/1947, Hội đồng Chấp chính lâm thời Trung Kỳ ra Nghị định số 84-NĐ thiết lập 3 Nha  
Bang tá ở thành phố Huế. Nha Bang tá Thành Nội tiếp tục quản lý địa phận 10 phường thuộc  
nội vi Kinh Thành. Sau Hiệp định Genève [1954], thể theo Nghị định số 2058-ND/PC ký ngày  
23/10/1956, đô thị Huế chia thành 3 quận. Trong đó, quận Thành Nội gồm các phường:  
Tây Lộc, Tri Vụ, Thuận Cát, Huệ An, Trung Tích, Tây Linh, Thái Trạch, Phú Nhơn, Vĩnh An  
và Trung Hậu. Hơn 10 năm sau, chính quyền miền Nam ban hành Nghị định số 1455-NĐ/  
ĐUHC (ký ngày 19/6/1967) để điều chỉnh địa phận Huế. Đúng một năm sau, ngày 4/8/1968,  
chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 319/BNV/NC/19 quy định thị xã Huế gồm 10 khu phố,  
22 khóm và 11 vạn trực thuộc ba quận. Khu vực Thành Nội thuộc Quận Nhất gồm có 3 khu  
phố. Khu phố Thuận Hòa gồm các khóm: Tây Lộc, Tri Vụ, Huệ An, Thuận Cát. Khu phố  
Thuận Thành gồm 4 khóm: Thái Trạch, Trung Tích, Trung Hậu và Đại Nội. Khu phố Thuận  
Lộc: Tây Linh, Phú Nhơn và Vĩnh An. Vào khoảng năm 1973, dân số của địa bàn Quận Nhất  
gồm 69.448 người. Xin xem thêm: Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Địa chí Thừa  
Thiên Huế, Phần Dân cư và Hành chính, sđd, tr. 359. Nguyễn Quang Ân (2003), Việt Nam,  
những thay đổi địa danh và địa giới hành chính, 1945 - 2002, Nxb Thông tấn, tr. 155. Phạm  
Xuân Thạch (2005), Những thay đổi địa danh và địa giới hành chính ở Thừa Thiên Huế từ  
1945 đến 2002, Luận văn Thạc sĩ khoa học, Đại học Huế, tr. 18.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 21 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 18620 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bước đầu xác định địa giới hành chính một số phường thuộc nội vi kinh thành Huế (Đầu thế kỷ xx - 1945)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_xac_dinh_dia_gioi_hanh_chinh_mot_so_phuong_thuoc_no.pdf