Hệ thống đường sắt ở Đức thế kỷ XIX

Hệ thống đường sắt ở Đức thế kỷ XIX  
Nguyễn Mậu Hùng1  
1 Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Email: nguyenmauhung@quangbinh.edu.vn  
Nhận ngày 10 tháng 10 năm 2018. Chấp nhận đăng ngày 12 tháng 12 năm 2018.  
Tóm tắt: Trung tâm của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở Đức là sự ra đời và phát triển  
của hệ thống đường sắt. Hệ thống đường sắt đã tạo dựng những nền tảng cơ bản nhất cho quá trình  
thống nhất và hiện đại hoá các nhà nước nói tiếng Đức giữa thế kỷ XIX; đồng thời góp phần hình  
thành nền tảng tư tưởng và tinh thần quốc gia, xây dựng một khối cộng đồng dân tộc thống nhất.  
Hệ thống đường sắt đã trở thành một bản sắc riêng trong quá trình công nghiệp hoá của nước Đức  
và làm cho quá trình thống nhất nước Đức (1848-1871) mang nhiều đặc điểm riêng biệt trong sự  
đối sánh với các cuộc cách mạng tư sản khác thời cận đại.  
Từ khoá: Đường sắt, cách mạng công nghiệp, Đức.  
Phân loại ngành: Sử học  
Abstract: The heart of the first industrial revolution in Germany is the birth and development of its  
railway system. The system created the most fundamental foundations for the process of unification  
and modernisation of German-speaking states in the mid-nineteenth century. At the same time, it  
contributed to the formation of the national ideological and spiritual foundation, building a unified  
national community. The railway system became an identity in the industrialisation of Germany  
and brought many characteristic traits to the process of its unification (1848-1871) as compared  
with other bourgeois revolutions of the modern times.  
Keywords: Railway, industrial revolution, Germany.  
Subject classification: History  
1. Mở đầu  
thời cận đại. Sự phát triển ngày càng lớn  
của quy mô sản xuất đòi hỏi phải có các thị  
trường rộng lớn để vừa cung cấp nguyên  
liệu vừa tiêu thụ hàng hoá. Các cuộc cách  
mạng khoa học - kỹ thuật đã làm cho năng  
suất lao động tăng lên, tạo ra các tiền đề  
Các phát minh khoa học - kỹ thuật và cách  
mạng công nghiệp là những nhân tố quan  
trọng dẫn đến các cuộc cách mạng tư sản và  
quá trình thống nhất một số nước tư bản  
91  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2019  
của tuyến đường sắt Taunus trong những  
năm 1841-1854 [3, tr.500]. Theo ghi chú  
của Heinrich Christian Schneider, tuyến  
đường sắt Taunusbahn từ Wiesbaden đến  
Frankfurt được xây dựng trong khoảng thời  
gian 1838-1839 [4, tr.91-93].  
Tuyến đường sắt Taunus từ Frankfurt am  
Main đến Wiesbaden đã nhận được sự chấp  
thuận của Đại Công quốc Hessen-  
Darmstadt ngày 15 tháng 2 năm 1838 và  
thành phố Frankfurt am Main ngày 16  
tháng 2 năm 1838. Việc xin giấy phép xây  
dựng tuyến đường sắt này từ các cơ quan  
chức năng kéo dài tới 3 năm. Các nỗ lực  
đầu tiên cho chuyến tàu từ Frankfurt am  
Main đến Höchst am Main không thành  
công như mong đợi vì đầu máy của đoàn  
tàu đã gặp trục trặc, song trạm Taunus vẫn  
được coi là bến tàu lâu đời nhất ở thành phố  
Frankfurt am Main [3, tr.496, 500].  
Tuyến đường sắt Taunus từ Frankfurt  
đến Wiesbaden được đưa vào sử dụng  
năm 1840 [7, tr.127], nhưng phải đợi đến  
năm 1842, bến cuối của tuyến Taunus ở  
Wiesbaden mới được xây dựng xong.  
Năm 1840, có 4 tàu hoạt động cho cả 2  
chiều giữa Frankfurt am Main và  
Wiesbaden. Ngay trong năm đầu tiên hoạt  
động (1840), tuyến đường sắt này đã đón  
cho quá trình giao lưu văn hoá và trao đổi  
hàng hoá được diễn ra một cách mạnh mẽ,  
hiệu quả hơn. Trong bối cảnh đó, việc hình  
thành các tuyến đường sắt huyết mạch và  
nhu cầu trao đổi hàng hoá cũng như đi lại  
trong một nhà nước thống nhất về mặt hành  
chính và thị trường là một trong những  
nhân tố quan trọng thúc đẩy và dẫn đến quá  
trình thống nhất nước Đức. Vấn đề này trên  
thế giới đã có các nghiên cứu công bố bằng  
tiếng Đức, nhưng chủ yếu nhấn mạnh  
phương diện kỹ thuật của cuộc cách mạng  
công nghiệp trên lĩnh vực đường sắt và tập  
trung vào các mạng lưới mang tính chất  
vùng miền hơn là một mạng lưới mang tính  
quốc gia dân tộc. Ở Việt Nam, vấn đề này  
chỉ được đề cập từ một góc độ hẹp nghiên  
cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở các  
nước công nghiệp phương Tây trong các  
giáo trình đại học. Các nghiên cứu trên thế  
giới cũng như ở Việt Nam chưa khai thác  
vấn đề vai trò và tác động của hệ thống  
đường sắt đối với quá trình hiện đại hoá của  
nước Đức thời cận đại nói chung và quá  
trình thống nhất nước Đức nói riêng. Bài  
viết này phác hoạ hệ thống đường sắt ở Đức  
giữa thế kỷ XIX.  
2. Tuyến Taunus từ Frankfurt am Main hơn 650.000 hành khách. Vé hạng tư và  
đến Wiesbaden  
hạng thấp nhất thường được lựa chọn  
nhiều nhất (năm 1843). Kastel2 là bến  
đông khách nhất thay vì hai thành phố lớn  
nhất của tuyến này là Frankfurt am Main  
và Wiesbaden [3, tr.501].  
So với các tuyến đường sắt khác đương  
thời, giá vé của tuyến Taunus khá phải  
chăng. Năm 1844, giá vé từ Frankfurt am  
Main đến Wiesbaden là 2 gulden3 42  
kreuzer4 đối với vé hạng nhất, 1 gulden 48  
kreuzer đối với vé hạng 2, 1 gulden 15  
kreuzer đối với vé hạng 3, và 51 kreuzer đối  
Trung tâm của quá trình công nghiệp hoá ở  
Đức giữa thế kỷ XIX là hệ thống đường sắt.  
Bởi lẽ, nước Đức không sở hữu nhiều tuyến  
đường thuỷ thuận lợi như ở quốc gia khác.  
Denis là người điều hành tuyến đường sắt  
đầu tiên của nước Đức từ Nürnberg đến  
Fürth vào năm 1835. Ông cũng là nhà điều  
hành của tuyến đường sắt Taunus từ  
Frankfurt đến Wiesbaden trong những năm  
1838-1840. Heusinger là một nhà kỹ thuật  
đường sắt hàng đầu của thời kỳ khởi thuỷ với vé hạng 4 cùng với các hạng thấp hơn.  
92  
Nguyễn Mậu Hùng  
Hiệp hội Thurn và Taxis bán vé 33 gulden tiến tới xây dựng tuyến đường sắt Rhein -  
und Lahnbahn [10, tr.468-470].  
Năm 1858, tuyến đường  
16 kreuzer cho tuyến từ Frankfurt am Main  
đến Berlin, 26 gulden 18 kreuzer cho tuyến  
từ Frankfurt am Main đến Munich, 8 gulden  
30 kreuzer cho tuyến từ Frankfurt am Main  
đến Cologne, 4 gulden 55 kreuzer cho  
tuyến từ Wiesbaden đến Koblenz, 2 gulden  
cho tuyến từ Wiesbaden đến Limburg, 1  
gulden 10 kreuzer cho tuyến từ Wiesbaden  
đến Bad Schwalbach, 1 gulden cho tuyến từ  
Wiesbaden đến Rüdesheim [3, tr.119]. Với  
nguồn thu như vậy, chỉ riêng tuyến đường  
sắt dọc bờ sông Ranh trong phạm vi lãnh  
thổ Công quốc Nassau đã đóng trung bình  
mỗi năm 170.577,34 gulden cho ngân sách  
nhà nước của tiểu quốc này trong những  
năm 1837-1847. Chính vì thế, tuyến đường  
sắt Taunus (1838-1840) từ Frankfurt am  
Main qua Kastel đến Biebrich và  
Wiesbaden không chỉ đã giảm thiểu gánh  
nặng cho tuyến đường thuỷ dọc sông Main,  
mà còn là một biểu tượng của cuộc cách  
mạng công nghiệp ở Đức giữa thế kỷ XIX  
[3, tr.164, 495].  
sắt  
Bingerbrück-Kreuznach được đưa vào kinh  
doanh và ngày 27 tháng 12 năm 1859,  
tuyến Ostende-Cologne-Basel được hoàn  
thành [7, tr.124-125]. Ngày 1 tháng 7 năm  
1858, tuyến Oberlahnstein-Bad Ems được  
khai thông. Cùng năm, chính phủ Công  
quốc Nassau đồng ý tham gia vào tuyến  
đường sắt Cologne-Deutz-Dillenburg-  
Gießen và Ostende-Cologne-Mainz-Basel  
[7, tr.127]. Moritz Hilf có công trong việc  
xây dựng một tuyến đường sắt từ  
Oberlahnstein và Wetzlar trong những năm  
1858-1863 [3, tr.500].  
Năm 1859, tuyến đường sắt bên bờ trái  
của sông Rhine được xây dựng trên phạm  
vi lãnh thổ của Vương quốc Phổ, trong khi  
Công quốc Nassau lên kế hoạch kéo dài  
tuyến đường sắt từ sông Ranh bên cạnh  
tuyến từ Westerwald và Taunus đến  
Frankfurt và từ Siegerland qua Gießen đến  
Frankfurt [3, tr.169]. Tháng 5 năm 1860,  
tuyến Bringerbrück-Neunkirchen chính  
thức khai thông [7, tr.124-125]. Năm 1860,  
đến lượt tuyến Oberlahnstein-Nassau khởi  
hành [3, tr.41]. Tháng 1 năm 1862, tuyến  
Deutz-Gießen mở cửa và tháng 2 năm  
1862, tuyến Rüdesheim-Oberlahnstein được  
kết nối. Năm 1862, tuyến Bringerbrück-  
Rüdesheim cũng hoàn thành [7, tr.124-125,  
128-129]. Năm 1862, tuyến Rüdesheim-  
Oberlahnstein được khởi công [3, tr.41].  
Công quốc Nassau cũng là cầu nối cho  
tuyến đường sắt từ Koblenz đến Cologne và  
Lahnban đến Gießen. Hệ thống này được  
bổ sung bằng tuyến đường sắt Rüdesheim-  
Oberlahn năm 1862, tuyến đường sắt đến  
Lahn năm 1863, tuyến đường sắt đến  
Koblenz năm 1864 [10, tr.448-449].  
3. Tuyến đường đi qua Frankfurt am Main  
Tuyến đường sắt từ Frankfurt am Main đến  
Soden được xây dựng năm 1844 dưới sự  
quản trị của Công ty cổ phần Soden và các  
nhóm kinh tế Frankfurt [3, tr.501]. Ngày 7  
tháng 4 năm 1853, đại biểu Philipp Jakob  
Bertram đề nghị xây dựng tuyến đường sắt  
Wiesbaden-Limburg-Hachenburg-Deutz đi  
qua các vùng lãnh thổ nội địa của Công  
quốc Nassau [10, tr.465]. Ngày 24 tháng 6  
năm 1856, tuyến đường sắt từ Wiesbaden  
đến Rüdesheim được đưa vào sử dụng đã  
nối với tuyến Taunus nửa năm sau [7,  
tr.124]. Ngày 16 tháng 8 năm 1856, đại  
biểu Ludwig Marburg trình bày kế hoạch  
xây dựng Hiệp hội đường sắt Wiesbaden để  
Ngày 10 tháng 1 năm 1863, tuyến  
Weilburg-Niederlahnstein cũng được đưa  
93  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2019  
vào hoạt động. Ngày 3 tháng 6 năm 1864, các tuyến đường sắt đã trở thành một đối  
tuyến Koblenz-Wetzlar được hoàn thành [7, thủ cạnh tranh với các phương thức vận  
tr.128-129]. Ngày 10 tháng 6 năm 1863, chuyển truyền thống khác, trong đó có cả  
Karl Braun đề nghị tổ chức các tuyến đường thuỷ, đặc biệt trong lĩnh vực vận  
đường sắt theo quan điểm thương mại. Năm chuyển hàng hoá và người với số lượng lớn  
1864, tuyến đường sắt qua vùng [3, tr.499].  
Westerwald và Taunus ở Hattersheim cho  
tuyến đường từ Frankfurt đến Cologne  
4. Vai trò của hệ thống đường sắt đối với  
quá trình thống nhất nước Đức  
được lên kế hoạch xây dựng, cùng với đó  
tuyến đường sắt từ Rhein-Lahn đến Deutz-  
Gießen cũng được lên kế hoạch thi công  
[10, tr.450, 470]. Năm 1864, việc xây dựng  
tuyến đường sắt Deutz-Gießen qua  
Westerwald và Taunus được hoàn thành đã  
kết nối với Koblenz. Năm 1865, tuyến  
đường sắt Cologne-Gießener Railway của  
Hiệp hội Đường sắt Cologne-Minden nước  
Phổ chạy qua các khu vực Dillenburg của  
Công quốc Nassau [3, tr.169, 502].  
Tuyến đường sắt từ Frankfurt đến  
Wiesbaden đã nhận được sự chấp thuận của  
Hessen-Darmstadt ngày 15 tháng 2 năm  
1838, Frankfurt ngày 16 tháng 2 năm 1838  
[3, tr.500]. Tất cả các nước này đều có chủ  
quyền riêng và đều thuộc Liên bang Đức  
(1815-1866). Mặc dù độc lập về chính trị,  
nhưng các nước này có sự hợp tác chặt chẽ  
về mặt kinh tế và giao thông vận tải. Tuyến  
đường thuỷ dọc sông Rhein và Main cùng  
tuyến đường sắt Taunus nối Frankfurt am  
Main với Wiesbaden là một ví dụ tiêu biểu  
cho quá trình thống nhất nước Đức trên  
phương diện kinh tế. Năm 1844, theo thoả  
thuận giữa Vương quốc Phổ và Đại Công  
quốc Hessen-Darmstadt năm 1844, Công  
quốc Nassau có thể xây dựng nhiều tuyến  
Sau cuộc Cách mạng 1848-1871, nước Đức  
đã chuyển mình mạnh mẽ nhờ hệ thống  
đường sắt kết nối các thành phố lớn. Hệ  
thống đường sắt hiện đại và hệ thống thông  
tin liên lạc tiện lợi đã mang con người lại  
gần nhau hơn. Cơ hội gặp gỡ giao lưu và  
phát triển các mối quan hệ cũng trở nên dễ  
dàng và thuận lợi hơn. Đó chính là cơ sở để  
hình thành một ý thức cộng đồng chung cho  
quá trình thống nhất Đức.  
Trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm  
1866, tình trạng tài chính của các quốc gia  
tham chiến này cũng có những ảnh hưởng  
và tác động khác nhau đến quá trình giải  
quyết vấn đề nước Đức giữa thế kỷ XIX.  
Áo phải dựa vào giới đầu tư tư nhân để phát  
triển cơ sở hạ tầng, chủ yếu là đường sắt.  
Hệ thống đường sắt của Phổ cũng nằm  
trong tay của các công ty tư nhân, nhưng  
nền tài chính khoẻ mạnh của nước Phổ cho  
phép quốc gia này đóng một vai trò lớn hơn  
trong việc lên kế hoạch cho một mạng lưới  
đường sắt bao phủ phần lớn miền Bắc nước  
Đức. Nhu cầu giao thương và đi lại đã buộc  
các nước liên hệ và hợp tác với nhau. Sự  
đường sắt trong các thập kỷ tiếp theo đi qua hợp tác trong kinh tế và liên kết trong trong  
thương mại là một trong những tiền đề và  
đặc điểm nổi bật của quá trình thống nhất  
nước Đức.  
Sự phát triển của hệ thống đường sắt  
cũng góp phần không nhỏ vào các chiến  
thắng quân sự của Phổ trên chiến trường  
các vùng lãnh thổ của hai nước này, đặc  
biệt ở Weilburg [3, tr.499].  
Hệ thống đường thuỷ vốn là một trong  
trong những phương tiện vận chuyển được  
ưa chuộng của các cư dân nói tiếng Đức  
giữa thế kỷ XIX. Tuy nhiên, đến năm 1863,  
94  
Nguyễn Mậu Hùng  
trong các cuộc chiến tranh thống nhất nước thống đường sắt buộc các nước phải ngồi  
Đức giữa thế kỷ XIX. Hệ thống đường sắt lại với nhau vì tương lai chung. Hệ thống  
hiện đại và phát triển cao của Phổ đã cho đường sắt và thông tin liên lạc cũng góp  
phép tướng Helmuth von Moltke di chuyển phần làm cho cơ hội giao lưu và trao đổi  
quân đội ra chiến trường một cách nhanh thông tin của người dân được tăng lên đáng  
chóng và dễ dàng với số lượng lớn hơn kể. Đó chính là cơ sở để hình thành nên ý  
trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866, thức cộng đồng và nền tảng tinh thần dân  
cũng như cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ tộc cho quá trình thống nhất nước Đức giữa  
những năm 1870-1871. Đó được xem là thế kỷ XIX. Chính vì thế, hệ thống đường  
một trong những nguyên nhân chủ đạo dẫn sắt đóng một vai trò quan trọng trong quá  
đến thắng lợi của Phổ trong các cuộc chiến trình hiện đại hoá nước Đức. Điều này đã  
tranh này.  
dẫn đến một đặc điểm mang tính khu vực  
Công quốc Nassau nằm ở trung tâm của của quá trình thống nhất Đức (1848-1871)  
con đường thương mại giữa Cologne và [1, tr.136].  
Frankfurt, giữa Niederrhein và các khu vực  
phía Nam [7, tr.11]. Hệ thống đường sắt  
5. Kết luận  
mới xây dựng giữa thế kỷ XIX đã giúp  
Công quốc Nassau được kết nối và trở  
thành một bộ phận quan trọng, thậm chí  
đóng vai trò huyết mạch đối với nền thương  
mại Đức giữa thế kỷ XIX. Cùng với đó,  
những người nông dân nghèo của vùng  
Westerwald được hưởng lợi nhiều nhất trên  
con đường thương mại từ Frankfurt qua  
Idstein và Westerwald đến Cologne. Con  
đường Cologne-Leiziger Straße ở phía Bắc  
của Công quốc Nassau cũng đóng một vai  
trò quan trọng trong việc giao thương và  
liên lạc của công quốc này với các nhà  
Thế kỷ XIX chứng kiến quá trình tăng  
trưởng kinh tế và công nghiệp hoá nhanh  
chóng, đặc biệt là trong lĩnh vực công  
nghiệp nặng ở Đức. Đến năm 1850, Đức về  
cơ bản vẫn tụt lại phía sau so với các nền  
kinh tế hàng đầu Châu Âu (như Anh, Pháp,  
Bỉ). Đến khoảng giữa thế kỷ XIX, Đức bắt  
đầu bắt kịp các nước khác trên một số  
phương diện (Đức là một nền kinh tế công  
nghiệp hàng đầu thế giới cùng với Anh và  
Mỹ). Đến năm 1900, Đức trở thành nền  
nước khác trong Liên bang Đức từ 1815 kinh tế lớn nhất Châu Âu. Cùng với đó là  
quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn  
ra mạnh mẽ ở các đô thị lớn như Berlin,  
Hamburg, Munich.  
đến 1866 [7, tr.38-39].  
Như vậy, chính cuộc cách mạng công  
nghiệp giữa thế kỷ XIX đã tạo dựng cho  
người Đức một số lợi thế nhất định trong  
việc sử dụng hệ thống đường sắt có hiệu  
quả cho việc vận chuyển quân đội Phổ đến  
các khu vực chiến đấu một cách nhanh  
chóng và thuận tiện trong các cuộc chiến  
tranh thống nhất đất nước [6, tr.219-221].  
Hệ thống đường sắt đã thúc đẩy quá trình  
giao thương giữa các nhà nước và đặt ra  
một yêu cầu hợp tác và liên kết. Thay vì đối  
đầu về quân sự vì quyền lực chính trị, hệ  
Nổi bật nhất trong cuộc cách mạng công  
nghiệp của Đức giữa thế kỷ XIX chính là sự  
ra đời và phát triển của hệ thống đường sắt.  
Trước sự thờ ơ của chính phủ các nước, các  
nhà đầu tư tư nhân đã làm thay đổi quan  
niệm của nhà nước bằng chất lượng và hiệu  
quả của một hệ thống đường sắt rộng khắp  
sau Cách mạng (1848-1849). Sự phát triển  
của hệ thống đường sắt buộc chính phủ các  
nước phải tăng cường hợp tác và liên kết  
95  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2019  
[2] Mathias, Peter and Postan, M. M. (1978), The  
Cambridge Economic History of Europe,  
Volume VII: The Industrial Economies:  
Capital, Labour, and Enterprise, Part 1:  
Britain, France, Germany, and Scandinavia,  
Cambridge University Press, Cambridge.  
[3] Herzogtum Nassau 1806-1866, Politik - Wirtschaft  
- Kultur (1981), Eine Ausstellung des Landes  
Hessen und der Landeshauptstadt Wiesbaden  
unter der gemeinsamen Schirmherrschaft S.K.H.  
des Prinzen Henri, Erbgroßherzog von  
Luxemburg, Prinz von Nassau und des Hessischen  
Ministerpräsidenten Holger Börner, Museum  
Wiesbaden, 5. April bis 26. July.  
[4] Hessisches Hauptstaatsarchiv Wiesbaden, Abt:  
1156, Nr. 117, Ernst Jungmann (Sammler und  
Schreiber), Als das Gestern heute war..., Band  
17, S. 91-93.  
[5] Hessisches Hauptstaatsarchiv Wiesbaden, Abt.  
238, Nr. 136, Gründung von Vereinen in  
specie: 1. Gesangvereine, 2. Turnvereine, 3.  
với nhau để phát triển kinh tế vì lợi ích  
chung, thay vì đối đầu quân sự cho các mục  
tiêu chính trị. Hệ thống đường sắt này  
không chỉ đã góp phần xây dựng các nền  
tảng tinh thần và thị trường cho quá trình  
thống nhất nước Đức, mà còn mang lại cho  
người Đức nhiều lợi thế trong các cuộc  
chiến tranh thống nhất đất nước. Hệ thống  
đường sắt không chỉ đóng một vai trò quan  
trọng trong quá trình giải quyết vấn đề nước  
Đức giữa thế kỷ XIX, mà còn trở thành  
một bản sắc riêng của quá trình hiện đại hoá  
nước Đức thế kỷ XIX (như là một bộ  
phận của cuộc cách mạng công nghiệp lần  
thứ nhất).  
Hệ thống đường sắt đã làm cho cuộc  
cách mạng công nghiệp của Đức mang  
nhiều đặc điểm dân tộc hơn trong quá trình  
thống nhất đất nước, cũng như quá trình  
tiến lên hiện đại của nước này.  
Vereine  
zur  
Armen=Unterstützung,  
4.  
Carnevalsgesellschaften 1846-65.  
[6] Howard, Michael Eliot (1961), The Franco-  
Prussian War: the German invasion of France,  
1870-1871, MacMillan, New York.  
[7] Lerner, Franz (1965), Wirtschafts- und  
Sozialgeschichte des Nassauer Raumes 1816-  
1964, Herausgegeben von der Nassauischen  
Sparkasse anlässlich der 125 jährigen  
Widerkehr des Tages ihrer Gründung am 22.  
Januar 1840, Wiesbaden.  
[8] Nipperdey, Thomas (1983), Germany from  
Napoleon to Bismarck, Princeton University  
Press, Princeton.  
Chú thích  
2
Kastel thuộc phạm vi lãnh thổ của Đại Công quốc  
Hessen-Darmstadt. Wiesbaden là thủ phủ của Công  
quốc Nassau. Frankfurt am Main là một thành phố  
tự do đóng vai trò là thủ đô của Liên bang Đức  
(1848-1871).  
3 Gulden (fl.) là một đơn vị tiền tệ của các nhà nước  
Đức giữa thế kỷ XIX. Một gulden (fl.) tương đương  
với khoảng 12 ơrô (euro) năm 2007 [9, tr.79].  
[9] Reuschling, Dieter và Schlecker, Roswitha  
(2007), Bürgerwille gegen Herrscherwillkür,  
Hofheim am Taunus-eine Kleinstadt zwischen  
französischer und deutscher Revolution,  
Stadtmuseum Hofheim am Taunus.  
4
Kreuzer (kr.) là một đơn vị tiền tệ của các nhà  
[10] Schüler, Winfried (Hrg., eig., be.,) và Reyer,  
nước Đức giữa thế kỷ XIX.  
Herbert  
(be.)  
(2010),  
Nassauische  
Parlamentsdebatten, Band 2, Revolution and  
Reaktion 1848-1866, Historische Kommission  
für Nassau, Wiesbaden.  
Tài liệu tham khảo  
2008/2008_30-39/2008-37/pdf/38-5_3536.pdf,  
truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017.  
vtabs 1.asp, truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2018.  
[1] Blackbourn,  
David  
Nineteenth Century: A History of Germany,  
(1997), The  
Long  
1780-1918, Oxford University Press, Oxford.  
96  
Nguyễn Mậu Hùng  
97  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 14480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hệ thống đường sắt ở Đức thế kỷ XIX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhe_thong_duong_sat_o_duc_the_ky_xix.pdf