Từ khởi nghĩa Bắc Sơn đến căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai

ISSN: 1859-2171  
e-ISSN: 2615-9562  
TNU Journal of Science and Technology  
201(08): 135 - 141  
TỪ KHỞI NGHĨA BẮC SƠN ĐẾN CĂN CỨ ĐỊA BẮC SƠN - VÕ NHAI  
Bùi Thị Thu Thủy  
Học viện Cảnh sát Nhân dân  
TÓM TẮT  
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta. Góp phần vào thắng  
lợi của Cách mạng tháng Tám có vai trò quan trọng của các căn cứ địa cách mạng. Bắc Sơn - Võ  
Nhai là căn cứ địa đầu tiên được hình thành trong thời kì vận động giải phóng dân tộc 1939-1945  
dựa trên cơ sở về yếu tố địa lí, lịch sử, con người... Trong đó, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng  
9/1940) đã đặt tiền đề cho sự hình thành và phát triển của căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Bài viết  
tập trung làm rõ mối liên hệ giữa cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn với sự hình thành căn cứ địa Bắc Sơn -  
Võ Nhai.  
Từ khóa: Khởi nghĩa; Bắc Sơn; du kích Bắc Sơn; căn cứ địa; Bắc Sơn - Võ Nhai...  
Ngày nhận bài: 07/5/2019; Ngày hoàn thiện: 22/5/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019  
FROM THE BACSON UPRISING TO THE BACSON – VONHAI  
REVOLUTIONARY BASE  
Bui Thi Thu Thuy  
The People’s Police Academy Portal  
ABSTRACT  
The Vietnamese August Revolution in 1945 was a great milestone in Vietnamese history. The  
revolutionary bases played an important role in contributing to the victory of the Revolution. The  
first Bacson-Vonhai revolutionary base was established during the period of national liberation  
campaign between 1939 and 1945 based on geographical, historical and human factors... In  
particular, the Bac Son uprising (in September, 1940) set the premise for the formation and  
development of Bac Son - Vo Nhai base. This article focuses on clarifying the connection between  
the Bacson uprising and the establishment of the Bacson-Vonhai revolution base.  
Keywords: Uprising; Bacson; Bacson guerrilla; revolutionary base; Bacson - Vonhai...  
Received: 07/5/2019; Revised: 22/5/2019; Approved: 06/6/2019  
135  
Bùi Thị Thu Thủy  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 135 - 141  
1. Mở đầu  
trương chỉ đạo quần chúng, sử dụng tất cả các  
lực lượng của quần chúng tiến hành khởi  
nghĩa, đánh đồn Mỏ Nhài, giành chính quyền  
ở Bắc Sơn. Ngay sau đó, một số đồng chí đã  
đi về các xã Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn,  
Trấn Yên,… vận động quần chúng, chuẩn bị  
vũ khí để tiến hành khởi nghĩa.  
Căn cứ địa cách mạng là khu vực lãnh thổ có  
đầy đủ các yếu tố “địa lợi, nhân hòa”, “tiến  
khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, có cơ sở vững  
chắc về chính trị và quân sự, được dùng làm  
nơi xây dựng lực lượng cách mạng (bao gồm  
lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang) để từ  
đó phát triển rộng ra các nơi khác; là nơi cung  
cấp sức mạnh về vật chất, quân sự, nguồn cổ  
vũ về tinh thần, chính trị trong cách mạng [1,  
tr. 77]. Nhận thức được vai trò quan trọng của  
căn cứ địa với cuộc cách mạng giải phóng dân  
tộc, ngay từ năm 1940, Đảng Cộng sản Đông  
Dương đã chủ trương xây dựng vùng Bắc Sơn  
- Võ Nhai thành căn cứ địa.  
Sáng 27/9/1940, một hội nghị quan trọng giữa  
các tổ đảng Bắc Sơn và các chiến sĩ cộng sản  
từ Lạng Sơn về đã được triệu tập. Hội nghị  
trao đổi tình hình, thông qua chủ trương khởi  
nghĩa và quyết định đấu tranh vũ trang ngay  
trong ngày hôm ấy. Giờ khởi nghĩa được chọn  
vào lúc chập tối, từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ.  
Kế hoạch khởi nghĩa cụ thể như sau:  
2. Nội dung  
“1. Thành lập ban chỉ huy khởi nghĩa gồm các  
đồng chí Hoàng Văn Hán, Dương Công Bình,  
Hoàng Đình Duệ, Đường VănThức và Thái Long.  
2.1. Khởi nghĩa Bắc Sơn và những cơ sở để  
hình thành căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai  
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai  
bùng nổ. Sự kiện này đã chấm dứt thời kỳ vận  
động dân chủ 1936 - 1939 do Đảng lãnh đạo  
và mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt  
Nam - thời kỳ vận động giải phóng dân tộc.  
2. Chỉ định ban phụ trách đánh đồn Mỏ Nhài  
gồm các đồng chí Hoàng Văn Hán, Hoàng  
Đình Ruệ và Dương Công Bình.  
3. Cử cán bộ đi báo cáo quyết định khởi nghĩa  
với các đồng chí trong ban cán sự Tỉnh ủy.  
4. Cử một số đồng chí về các tổ Đảng phổ  
biến quyết định khởi nghĩa và trao trách  
nhiệm cho các tổ Đảng huy động đảng viên  
và quần chúng nơi mình tham gia khởi nghĩa.  
5. Cử người đi điều tra tình hình chính quyền  
thực dân ở Bình Gia, để biết rõ lực lượng  
địch ở đấy.  
6. Lực lượng vũ trang đi đánh chiếm đồn Mỏ  
Nhài là các đảng viên có vũ khí ở các tổ đảng,  
các tổng đoàn, xã đoàn, lính dõng, tức là lực  
lượng vũ trang của chính quyền địa phương  
mà các tổ đảng đã nắm được từ trước.  
Ngày 22/9/1940, quân Nhật tràn qua biên giới  
Việt - Trung tiến đánh Lạng Sơn, Hải Phòng.  
Chỉ trong vài ngày, quân Pháp đã thất bại,  
chính quyền địch ở vùng này đã hoàn toàn tan  
rã, một số đầu hàng, còn lại rút chạy theo  
đường Điềm He - Bình Gia - Bắc Sơn về Thái  
Nguyên. Trước tình hình đó, nhân dân ở  
nhiều địa phương đã tự động thu nhặt súng  
đạn, có nơi còn đón đường tước vũ khí của  
tàn binh Pháp, trừng trị những tên tri châu, tri  
phủ ác ôn. Chính quyền tay sai của địch ở một  
số địa phương hoang mang, tan rã.  
7. Cử một số đồng chí cùng quần chúng cách  
mạng có vũ trang tiếp tục chặn đánh đám tàn  
binh Pháp” [2, tr. 66-67].  
Không bỏ lỡ cơ hội trên, rạng sáng ngày  
25/9/1940, một số đảng viên vừa thoát khỏi  
nhà tù Lạng Sơn trở về địa phương như: Nông  
Văn Cún (tức Thái Long), Hoàng Đình Ruệ  
đã họp với các đồng chí trong chi bộ Hưng  
Vũ, Bắc Sơn (Dương Công Bình, Hoàng Văn  
Hán…) tại làng Nông Lục (xã Hưng Vũ) để  
trao đổi tình hình và thảo luận phương hướng  
hành động. Cuộc họp quyết định đề ra chủ  
Tối 27/9/1940, khoảng 600 quần chúng với  
súng trường, súng kíp, giáo mác... chia làm ba  
mũi tiến đánh đồn Mỏ Nhài. Khởi nghĩa Bắc  
Sơn bùng nổ. Quân khởi nghĩa vừa bắn vừa  
kêu gọi địch đầu hàng. Trước khí thế sục sôi  
và sức tấn công mạnh mẽ của quần chúng,  
136  
Bùi Thị Thu Thủy  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 135 - 141  
quân địch càng thêm hoang mang và nhanh  
chóng đầu hàng. Quân khởi nghĩa chiếm đồn,  
làm chủ được châu lị. Ngay hôm sau, những  
người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã tổ chức  
mít tinh ngay tại châu lị và tuyên bố chính  
quyền địch không còn. Cùng thời điểm đó,  
một số quần chúng nhân dân ở xã Nam Nhi,  
Tràng Sơn phục kích tàn binh Pháp ở đèo  
Canh Tiến, Thâm Thông. Nhân dân ở Chiêu  
Vũ, Hưng Vũ cũng tổ chức đánh đuổi bọn  
lính Pháp bại trận ở Dập Dị và Nà Ti.  
cán bộ cách mạng được rèn luyện và tập dượt  
đấu tranh, từ xây dựng lực lượng để hình thành  
căn cứ đến chỉ đạo và trực tiếp đấu tranh trên  
căn cứ địa. Trước và sau khởi nghĩa Bắc Sơn,  
nhiều cán bộ như: Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng  
Ninh, Lê Xuân Thụ... đã được đưa lên đây để  
lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Trong quá  
trình tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, nhiều  
thanh niên ưu tú của địa phương đã được giác  
ngộ và hăng hái tham gia phong trào cách  
mạng, sau này đã trở thành cán bộ nòng cốt  
của khu căn cứ địa. Khởi nghĩa Bắc Sơn là  
điều kiện để cán bộ cách mạng trưởng thành  
hơn trong thực tiễn đấu tranh, tạo ra yếu tố  
“nhân hòa” cho sự ra đời của khu căn cứ địa  
sau này.  
Lo sợ trước sự tấn công và khí thế của khởi  
nghĩa Bắc Sơn, thực dân Pháp hèn nhát thỏa  
hiệp cùng quân Nhật để quay lại đàn áp  
phong trào cách mạng. Thực dân Pháp tập  
trung lực lượng tiến vào Bắc Sơn theo hai  
hướng: hướng thứ nhất từ Đình Cả - Võ Nhai  
lên, hướng thứ hai từ Bình Gia xuống. Do  
chênh lệch về lực lượng và vũ khí nên thực  
dân Pháp đã chiếm lại được châu lị, tiến hành  
đốt phá các làng bản, bắt bớ, tàn sát, khủng bố  
quần chúng nhân dân, nhằm trả thù quân cách  
mạng, dập tắt cuộc khởi nghĩa. Trước tình thế  
đó, các chiến sĩ Bắc Sơn phải rút vào trong  
rừng sâu hoạt động bí mật. Cuộc khởi nghĩa  
tạm thời lắng xuống.  
Ba là, khởi nghĩa Bắc Sơn để lại cho cách  
mạng những bài học kinh nghiệm quý báu:  
Bài học về chớp thời cơ, chiến tranh du kích...  
Nhận định về khởi nghĩa Bắc Sơn, đồng chí  
Trường Chinh đã đánh giá:“Ưu điểm lớn nhất  
của nhân dân Bắc Sơn là đã kịp thời nổi dậy  
giành chính quyền khi quân đội phát xít Nhật  
xâm lược Lạng Sơn và hàng ngũ quân Pháp  
cùng hàng ngũ tay sai đã hoang mang dao  
động đến cực điểm. Khuyết điểm của khởi  
nghĩa Bắc Sơn là đã không sớm dùng chiến  
tranh du kích để châm ngọn lửa cách mạng ra  
các địa phương khác trong tỉnh Lạng Sơn và  
các tỉnh lân cận” [4, tr. 48].  
Khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại nhưng đã để lại  
những cơ sở quan trọng cho việc hình thành  
căn cứ địa Bắc Sơn -Võ Nhai về sau:  
Một là, khởi nghĩa Bắc Sơn tạo cơ sở chính trị  
để hình thành căn cứ địa. Đồng thời, thổi  
bùng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng và tạo  
ra bước ngoặt trong hình thức đấu tranh của  
nhân dân nơi đây. Sau khởi nghĩa, phong trào  
đấu tranh của nhân dân tiếp tục diễn ra mạnh  
mẽ dưới nhiều hình thức, tổ chức cơ sở Đảng  
không ngừng lớn mạnh, lực lượng chính trị  
dần được hình thành và phát triển. Đây là cơ  
sở để Trung ương Đảng chủ trương xây dựng  
căn cứ địa cách mạng lấy Bắc Sơn, Võ Nhai  
làm trung tâm. “Nó có tác dụng thức tỉnh quần  
chúng, động viên phong trào cách mạng toàn  
quốc và mở ra thời kì đấu tranh mới cho cách  
mạng Việt Nam” [3, tr. 26].  
Bốn là, khởi nghĩa Bắc Sơn cho ra đời lực  
lượng vũ trang để làm cơ sở hình thành căn cứ  
địa. Thành quả quan trọng nhất của cuộc khởi  
nghĩa Bắc Sơn mà sau này có ảnh hưởng trực  
tiếp đến sự hình thành căn cứ Bắc Sơn - Võ  
Nhai là khai sinh ra đội du kích Bắc Sơn - một  
trong những tổ chức vũ trang đầu tiên của  
Đảng. Sự lớn mạnh và hoạt động của Đội là cơ  
sở quan trọng nhất để hình thành nên căn cứ địa  
Bắc Sơn - Võ Nhai.  
2.2. Từ khởi nghĩa Bắc Sơn đến căn cứ địa  
Bắc Sơn - Võ Nhai  
Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra đã thúc đẩy  
phong trào cách mạng ở nơi đây phát triển  
Hai là, khởi nghĩa Bắc Sơn là điều kiện để các  
137  
Bùi Thị Thu Thủy  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 135 - 141  
phát triển. Trước sự phát triển ngày càng  
mạnh của phong trào cách mạng Bắc Sơn,  
Trung ương Đảng đã quyết định tăng cường  
cán bộ lên Bắc Sơn tham gia lãnh đạo phong  
trào. Đầu tháng 10/1940, Xứ ủy Bắc Kỳ đã cử  
đồng chí Trần Đăng Ninh lên Bắc Sơn cùng  
đảng bộ địa phương trực tiếp lãnh đạo và xây  
dựng phong trào cách mạng. Ngay sau khi lên  
Bắc Sơn, đồng chí Trần Đăng Ninh đã kiểm  
tra, nắm bắt tình hình và triệu tập một cuộc  
họp với các đảng viên tại Sa Khao - Vũ Lăng  
để trao đổi về phương hướng hoạt động. Qua  
thảo luận, các đồng chí tham dự cuộc họp  
quyết định: Tập trung đảng viên và một số  
quần chúng tích cực, vận động nhân dân thu  
thập vũ khí để thành lập đội du kích Bắc Sơn.  
Xây dựng khu vực Nà Tấu (xã Ngư Viễn), Sa  
Khao, Mỏ Tát, Bản Me, Nam Nhi (xã Vũ  
Lăng) thành căn cứ của đội du kích... Thành  
lập ban chỉ huy đội du kích gồm có các đồng  
chí: Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn...  
tiểu đội, mỗi tiểu đội là 10 người.  
Trên cơ sở đội du kích Bắc Sơn, khu du kích  
Bắc Sơn cũng dần được hình thành và ngày  
càng mở rộng. Khu du kích được xây dựng  
trên các xã Ngư Viễn, Vũ Lăng, Sa Khao, Mỏ  
Tát, Bản Me. Đây là những xã có cơ sở cách  
mạng trong quần chúng phát triển từ rất sớm.  
Tại khu du kích, các hoạt động tuyên truyền đã  
diễn ra, hoạt động sản xuất được đẩy mạnh để  
đảm bảo nhu cầu tự cung tự cấp. Công tác bảo  
vệ khu du kích cũng được chú trọng, mọi  
người trong khu du kích đều có tinh thần cảnh  
giác cao độ. Khu du kích là chỗ dựa cho du  
kích Bắc Sơn hoạt động. Đội du kích và khu  
du kích Bắc Sơn ra đời nhận sự hưởng ứng và  
ủng hộ của nhân dân địa phương. Từ đây, căn  
cứ địa cách mạng dần được mở rộng sang Thái  
Nguyên. Sự ra đời của đội du kích Bắc Sơn có  
ý nghĩa vô cùng quan trọng, là đơn vị đầu tiên  
của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do  
Đảng ta thành lập và trực tiếp chỉ đạo.  
Thực hiện chủ trương của Hội nghị Sa Khao,  
ngày 16/10/1940, Ban chỉ đạo khu du kích Bắc  
Sơn đã tổ chức một cuộc mít tinh diễn thuyết  
tại làng Đon Úy (xã Vũ Lăng) với hơn 100  
người tham gia gồm đảng viên và các quần  
chúng cách mạng. Thay mặt Ban chỉ đạo, đồng  
chí Trần Đăng Ninh tuyên bố: thành lập “Đội  
du kích Bắc Sơn” và kêu gọi nhân dân tích cực  
ủng hộ đội du kích và phong trào cách mạng.  
Đồng chí Trần Đăng Ninh còn giải thích rõ  
đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật của Đảng và  
nêu nhiệm vụ cấp thiết của đảng viên và nhân  
dân địa phương là phải tổ chức bộ đội vũ trang,  
xây dựng căn cứ địa và đánh du kích chống  
khủng bố trắng của giặc.  
Chỉ sau một thời gian, đội du kích Bắc Sơn đã  
phát huy được sức mạnh, tác dụng của mình  
trong việc bảo vệ quần chúng, tiễu trừ bọn  
phản động. Đội đã lập được nhiều công lớn:  
Ngày 15/10/1940, du kích đã giết tên xã đoàn  
Niên ở Nà Tấu. Ngày 23/10/1940, một tiểu  
đội du kích đột nhập vào nhà tên Chánh  
hương ở Vũ Lăng, tịch thu tài sản đem chia  
cho dân nghèo. Ngày 24/10/1940, Đội tiến  
công toán lính dõng do Châu đoàn Trịnh Văn  
Nghiêm chỉ huy và chiếm được trường Vũ  
Lăng. Những hoạt động của Đội du kích Bắc  
Sơn đã cổ vũ, động viên tinh thần cho quần  
chúng nhân dân, khiến họ càng thêm tin và tự  
nguyện đi theo cách mạng, giúp cho lực  
lượng của Đội tiếp tục lớn mạnh. Trên thực  
tế, cho đến cuối tháng 10/1940, lực lượng  
quân du kích đã lên đến hai, ba trăm người,  
uy thế rất mạnh.  
Có phương hướng hoạt động cụ thể và được  
sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Bắc Kỳ, nhân  
dân Bắc Sơn một lòng ủng hộ và đứng lên  
cầm vũ khí đánh giặc. Chỉ trong một thời gian  
ngắn lực lượng du kích đã tăng lên nhanh  
chóng. Khi mới thành lập, đội du kích Bắc  
Sơn có 20 chiến sĩ, được biên chế thành 5 đội,  
đến cuối tháng 10/1940, quân số du kích đã  
tăng tới gần 200 người, biên chế thành từng  
Trước sự hình thành, lớn mạnh của đội du  
kích Bắc Sơn và khu du kích Bắc Sơn, Hội  
nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung  
ương Đảng (diễn ra từ ngày 6 đến ngày  
9/11/1940 tại Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc  
138  
Bùi Thị Thu Thủy  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 135 - 141  
Ninh) đã có những chủ trương chỉ đạo đối với  
phong trào đấu tranh cách mạng ở Bắc Sơn,  
Võ Nhai. Hội nghị đã quyết định: “Duy trì và  
phát triển đội du kích Bắc Sơn và căn cứ của  
đội du kích để tiến tới xây dựng căn cứ địa  
cách mạng lấy vùng Bắc Sơn - Võ Nhai làm  
trung tâm” [5, tr. 28], đồng thời cũng quyết  
định duy trì và bồi dưỡng lực lượng du kích  
Bắc Sơn để làm “vốn” quân sự đầu tiên cho  
quân khởi nghĩa sau này. Từ đó, công tác xây  
dựng căn cứ địa cách mạng được chú ý quan  
tâm, lấy vùng Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung  
tâm. Hội nghị cũng nêu rõ hoạt động của đội  
du kích là dùng hình thức võ trang công tác,  
khi cần thì chiến đấu chống địch khủng bố để  
bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân,  
phát triển thật sâu rộng các cơ sở cách mạng  
để mở rộng căn cứ du kích.  
kích. Ở Võ Nhai, từ đầu tháng 11/1940, đồng  
chí Chu Văn Tấn đã tổ chức đưa một số đảng  
viên và quần chúng tích cực ở các xã Lâu  
Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá lên Bắc Sơn  
bổ sung lực lượng cho đội du kích. Nhờ vậy,  
phong trào cách mạng Bắc Sơn được củng cố,  
từng bước vượt qua những khó khăn kể từ sau  
khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bị đàn áp.  
Phong trào cách mạng Bắc Sơn - Võ Nhai đã  
bắt đầu có những mối liên hệ chặt chẽ hỗ trợ  
lẫn nhau. Đến tháng 12/1940, đội du kích Bắc  
Sơn đã được củng cố lại với khoảng 20 đội  
viên mỗi tiểu đội, được trang bị đầy đủ vũ  
khí: súng trường, súng kíp…  
Cuối tháng 2/1941, đoàn đại biểu đi dự Hội  
nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương  
Đảng ở Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), đã lên đến  
Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ - Bắc Sơn). Trong thời  
gian dừng chân ở Bắc Sơn, các đồng chí họp  
với Ban chỉ huy đội du kích để nắm tình hình  
và đề ra một số chủ trương, công tác cần kíp.  
Tại cuộc họp ở Khuổi Nọi vào ngày  
23/2/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt  
Trung ương đưa ra chủ trương là phát triển  
đội du kích Bắc Sơn thành Cứu quốc quân  
làm lực lượng nòng cốt xây dựng và bảo vệ  
khu căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Tích cực  
dùng hình thức vũ trang công tác, củng cố và  
mở rộng căn cứ của đội du kích Bắc Sơn,  
nhanh chóng phát triển lực lượng của mình về  
mọi mặt để kịp khi thời cơ đến thì tiến hành  
khởi nghĩa giành chính quyền. Tại cuộc họp,  
đồng chí đã trao cho đội lá cờ đỏ sao vàng 5  
cánh do Hội phụ nữ phản đế Hà Nội tặng.  
Đồng chí Lương Văn Chi thay mặt đội Cứu  
quốc quân hứa với Trung ương Đảng quyết  
tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng, và  
đọc năm lời thề của đội là: Không phản Đảng;  
tuyệt đối trung thành với Đảng; kiên quyết  
phấn đấu và trả thù cho những đồng chí đã hy  
sinh; không hàng giặc; không hại dân.  
Như vậy, sau khởi nghĩa Bắc Sơn, đội du kích  
và khu du kích Bắc Sơn đã được hình thành  
và phát triển. Quá trình hoạt động của Đội  
cùng với sự lớn mạnh không ngừng của khu  
du kích là cơ sở thực tiễn để Đảng quyết định  
xây dựng căn cứ địa cách mạng lấy vùng Bắc  
Sơn, Võ Nhai làm trung tâm.  
Sau Hội nghị Trung ương lần 7, Trung ương  
Đảng đã ra “Thông báo khẩn cấp”, chỉ thị các  
địa phương phải có những biện pháp cụ thể để  
ủng hộ khởi nghĩa Bắc Sơn. Xứ ủy Bắc Kỳ  
cũng cấp tốc mở hai lớp huấn luyện quân sự  
ngắn ngày ở Đức Thắng (Bắc Giang). Sau đó,  
các lớp huấn luyện quân sự như vậy được  
chuyển lên Bắc Sơn (Lạng Sơn). Trong lúc  
phong trào cách mạng ở Bắc Sơn gặp nhiều  
khó khăn thì nhận được sự ủng hộ tích cực  
của phong trào cách mạng ở Võ Nhai. Từ đầu  
năm 1941, Trung ương Đảng đã cử một số  
đồng chí lên chi viện, chỉ đạo phong trào cách  
mạng Bắc Sơn: Lương Văn Chi, Nguyễn Cao  
Đàm, Hoàng Văn Thái,…  
Đồng chí Lương Văn Chi (tức Giáo hay Huy  
Còm, Ủy viên Thường vụ xứ ủy Bắc Kỳ)  
được Đảng giao nhiệm vụ trực tiếp phụ trách  
mở các lớp huấn luyện quân sự cho đội du  
Trong cuộc họp, Trung ương chỉ định đồng  
chí Lương Văn Chi làm chỉ huy trưởng Cứu  
quốc quân, đồng chí Chu Văn Tấn làm chỉ  
139  
Bùi Thị Thu Thủy  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 135 - 141  
huy phó. Đồng chí Hoàng Văn Thụ còn trực  
tiếp giao cho Ban chỉ huy đội nhiệm vụ tổ  
chức, chỉ huy một tổ Cứu quốc quân dẫn  
đường và bảo vệ đoàn cán bộ đi dự Hội nghị  
Trung ương Đảng lần thứ 8 ở Pác Bó (Hà  
Quảng - Cao Bằng) và nhiệm vụ phát triển  
các tổ chức của quần chúng, lực lượng tự vệ,  
mở rộng địa bàn hoạt động, chuẩn bị điều  
kiện để đến ngày 1/5/1941, khi Trung ương  
trở về sẽ làm lễ ra mắt chính thức trung đội  
Cứu quốc quân.  
Giang. Hơn nữa, các cuộc mít tinh lớn, hội họp,  
các đoàn thể quần chúng được tổ chức công  
khai. Trong căn cứ địa, sinh hoạt diễn ra rất sôi  
nổi, các cuộc mít tinh liên tiếp được tổ chức.  
Trên diễn đàn, đại biểu của các dân tộc Tày,  
Dao, Nùng, Kinh đã phát biểu nêu rõ niềm tin  
tưởng của mình và hứa sẵn sàng ủng hộ mọi thứ  
khi cách mạng cần. Những cuộc biểu tình, thị  
uy rầm rộ xuống đường từ trong căn cứ ra ngoài  
được nhân dân các dân tộc tham gia ngày càng  
đông, có lực lượng tự vệ bảo vệ. Nhân dân các  
dân tộc ở đây được hưởng một cuộc sống mới,  
bình đẳng, tự do, mọi người đều nguyện gắn bó  
mật thiết cách mạng.  
Từ sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, đội du kích  
Bắc Sơn đã ra đời, căn cứ của đội du kích  
không ngừng lớn mạnh. Trên cơ sở đội du kích  
Bắc Sơn được rèn luyện, thử thách trong đấu  
tranh, Trung ương Đảng đã quyết định phát  
triển thành trung đội Cứu quốc quân để làm  
vốn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng  
của Đảng và làm lực lượng nòng cốt xây dựng  
căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Đây là thành  
quả tất yếu của một phong trào cách mạng sôi  
nổi, được hình thành dưới sự lãnh đạo của  
Đảng: “Được Trung ương Đảng chỉ đạo, du  
kích Bắc Sơn sau đó đã phát triển thành Cứu  
quốc quân. Địa bàn hoạt động của đội du kích  
không ngừng mở rộng trên nhiều xã ở Bắc Sơn  
như Hữu Vĩnh, Vũ Lễ và lan xuống Lâu  
Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá, La Hiên (Võ  
Nhai), Cây Thị (Đồng Hỷ, Thái Nguyên). Đó  
cũng chính là những cơ sở đầu tiên của căn cứ  
địa Bắc Sơn - Võ Nhai” [6, tr. 239].  
Ngoài ra, các đồng chí trong Ban chỉ huy Cứu  
quốc quân cũng quyết định mở rộng khu căn  
cứ. Trung đội đã phiên chế lại đội ngũ, phân  
công cụ thể cho từng người, từng đơn vị đi  
mở rộng địa bàn, gây dựng phong trào: Tổ  
của đồng chí Hà Khai Lạc và Khơi Hoàng  
phụ trách Hữu Vĩnh; Dương Thần Tần, Quốc  
Vinh phụ trách Bắc Sơn; Hoàng Văn Hán,  
Hoàng Đình Duệ đi Hưng Vũ; Dương Công  
Bình ở Chiêu Vũ. Đến tháng 4/1941, nhiều  
vùng núi rừng hiểm trở thuộc các xã: Lâu  
Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá (Võ Nhai)  
nối liền với các xã: Vũ Lễ, Vũ Lăng, Hữu  
Vĩnh, Ngư Viễn (Bắc Sơn) đã trở thành khu  
trung tâm của căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai.  
Ngày 1/5/1941, các đồng chí lãnh đạo quân du  
kích quyết định tổ chức một cuộc mít tinh lớn  
nhân ngày Quốc tế Lao động, đồng thời làm lễ  
ra mắt đội Cứu quốc quân theo chỉ thị của  
Trung ương. Cuộc mít tinh được tổ chức trọng  
thể ở Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn) và  
được đông đảo quần chúng nhân dân Bắc Sơn,  
Võ Nhai hưởng ứng. Thay mặt Ban lãnh đạo  
Cứu quốc quân, chỉ huy trưởng Lương Văn  
Chi đã phát biểu trước cuộc mít tinh, tuyên bố  
quyết định thành lập đội Cứu quốc quân của  
Trung ương Đảng, đọc Năm lời thề danh dự  
của Cứu quốc quân, hứa quyết tâm hoàn thành  
mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao cho.  
Quần chúng cách mạng dự mít tinh hân hoan  
chào đón sự ra đời của đội Cứu quốc quân vì  
Ngay sau khi cuộc họp ở Khuổi Nọi, đồng chí  
Lương Văn Chi đã chỉ huy Cứu quốc quân ra  
sức thực hiện những công tác cấp bách mà  
Trung ương giao phó. Cứu quốc quân tích cực  
hoạt động mở rộng cơ sở, tiến hành trừ gian,  
giết bọn phản động, đẩy mạnh công tác tuyên  
truyền, vận động và tổ chức quần chúng, tích  
cực luyện tập quân sự. Mặt khác, Cứu quốc  
quân còn tổ chức giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ  
căn cứ. Các lớp huấn luyện quân sự và chính trị  
do Xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức ở Khuổi Nọi không  
chỉ đào tạo được nhiều cán bộ cho căn cứ Bắc  
Sơn - Võ Nhai, mà còn đào tạo được một số cán  
bộ cho các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc  
140  
Bùi Thị Thu Thủy  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 135 - 141  
đây là đội quân cách mạng của Đảng và nhân  
dân, gồm con em các dân tộc Tày, Nùng, Dao,  
Kinh, ra đời và chiến đấu ngay ở quê hương  
của mình. Hơn nữa, quần chúng nhân dân còn  
bày tỏ niềm tin thiết tha, niềm tự hào lớn lao  
vào con em của chính mình, vào sự lớn mạnh  
của căn cứ địa cách mạng và thành công của  
sự nghiệp giải phóng dân tộc.  
Bắc Sơn - Võ Nhai xây dựng một trung tâm căn  
cứ mạnh mà họ còn vượt vòng vây quân thù tiến  
sang các địa bàn ngoài trung tâm để xây dựng  
các cơ sở cách mạng nhằm mở rộng địa bàn  
khu căn cứ” [7, tr. 316].  
3. Kết luận  
Sự ra đời, phát triển của căn cứ địa Bắc Sơn -  
Võ Nhai có vai trò quan trọng trong quá trình  
chuẩn bị lực lượng cho cách mạng tháng Tám  
năm 1945. Trước hết căn cứ Bắc Sơn - Võ  
Nhai mở rộng giúp cho quân du kích có thêm  
địa bàn để hoạt động đấu tranh du kích, xây  
dựng phát triển các cơ sở cách mạng. Căn cứ  
địa này có vị trí rất quan trọng, nó nối liền với  
căn cứ địa Cao Bằng và là bàn đạp để phát  
triển phong trào cách mạng từ Bắc xuống  
Nam, từ miền núi xuống đồng bằng, “một  
hành lang chính trị được đánh thông nối liền  
hai căn cứ địa lớn nhất ở miền Bắc nước ta:  
căn cứ địa Cao Bằng và căn cứ địa Bắc Sơn -  
Võ Nhai, tạo điều kiện cho việc ra đời khu  
giải phóng Việt Bắc sau này” [8, tr. 49].  
Đầu năm 1941, một tổ Cứu quốc quân đã  
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dẫn đường bảo  
vệ đoàn đại biểu đi họp Hội nghị Trung ương  
Đảng lần thứ 8. Từ Khuổi Nọi đoàn đi qua  
Bình Gia, Văn Mịch, Tràng Định ra Long  
Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), tháng  
4/1941 đã vào đến Pác Bó (Hà Quảng - Cao  
Bằng) an toàn. Sau Hội nghị, tổ Cứu quốc  
quân này lại tiếp tục đưa đường và bảo vệ các  
đồng chí Trung ương Đảng trở về căn cứ Bắc  
Sơn - Võ Nhai an toàn vào đầu tháng 7/1941.  
Như vậy, vượt qua mọi khó khăn gian khổ,  
phát huy tinh thần cách mạng, Cứu quốc quân  
đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị lớn mà  
Trung ương giao phó. Đây là một thành tích  
to lớn của Cứu quốc quân ngay từ những  
ngày đầu thành lập.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Từ điển thuật ngữ  
lịch sử phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia, Hà  
Nội, 2010.  
Trên cơ sở đội du kích và khu du kích Bắc Sơn,  
theo chủ trương của Trung ương Đảng về xây  
dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai trong Hội  
nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng  
11/1940, quân và dân Bắc Sơn - Võ Nhai đã  
cùng nhau đoàn kết, tích cực xây dựng khu căn  
cứ. “Chỉ trong vòng hơn một năm từ ngày có  
chủ trương trên, đến đầu năm 1942, một khu  
căn cứ địa cách mạng rộng lớn đã được hình  
thành và ngày một phát triển. Khu căn cứ này  
lấy Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung tâm bao gồm  
nhiều địa phương thuộc các tỉnh: Thái Nguyên,  
Lạng Sơn, Bắc Giang, Tuyên Quang. Trong quá  
trình xây dựng khu căn cứ, Cứu quốc quân  
đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Những  
cán bộ chiến sĩ cứu quốc quân đã không quản  
ngại khó khăn, trong hoàn cảnh bị địch bao  
vây, cô lập, họ không chỉ cùng với quân và dân  
[2]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Lạng Sơn,  
Lịch Sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và  
Nhân dân huyện Bắc Sơn (1930 - 1954), Xí  
nghiệp in 1 - Thông tấn xã Việt Nam - Hà  
Nội, 1990.  
[3]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng khu tự trị Bắc Thái,  
Lịch sử Cứu quốc quân, Nxb Việt Bắc, 1975.  
[4]. Trường Chinh, Diễn văn đọc trong lễ kỉ niệm  
lần thứ 40 ngày khởi nghĩa Bắc Sơn, Báo  
Nhân dân ngày 30/9/1980.  
[5]. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đảng  
1939 - 1945, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963.  
[6]. Trần Bá Đệ (chủ biên), Một số chuyên đề lịch sử  
Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2000.  
[7]. Vũ Quang Hiển (chủ biên), Cách mạng tháng  
Tám năm 1945 (Một số chuyên khảo), Nxb  
Đại học Thái Nguyên, 2013.  
[8]. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương,  
Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nxb Sự  
Thật, Hà Nội, 1963.  
141  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 18060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Từ khởi nghĩa Bắc Sơn đến căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_khoi_nghia_bac_son_den_can_cu_dia_bac_son_vo_nhai.pdf