Hệ thống thơ văn chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế - Một di sản tư liệu độc đáo

Sꢀ 2 (51) - 2015 - Di sꢁn vꢂn h‚a vꢃt thꢄ  
HỆ THỐNG THƠ VĂN CHỮ HÁN TRÊN  
KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ -  
MỘT DI SẢN TƯ LIỆU ĐỘC ĐÁO  
19  
TS. PHAN THANH HꢀI -  
THS. LÊ THꢁ AN HÒA -  
CN. PHꢂM ꢃꢄC THÀNH DꢅNG  
TÓM TẮT  
Hệ thống thơ văn chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế là những áng thơ văn tinh túy nhất được tuyển  
chọn từ trước tác của các vị hoàng đế, thân vương, quan lại triều Nguyễn, được chạm, khắc, khảm, cẩn, tráng  
men hay đắp nổi trên các kiến trúc cung đình Huế trong giai đoạn 1802 - 1945. Hệ thống này gồm hàng ngàn  
bài thơ, văn, câu đối, là một di sản tư liệu vô cùng quý giá cần được bảo tồn, giới thiệu và phát huy giá trị.  
Từ khóa: thơ văn chữ Hán; Cố đô Huế; kiến trúc cung đình Huế; di sản tư liệu.  
ABSTRACT  
The system of Chinese characters on the Royal Architecture of Huế is very special literature and poems that  
selected from works of kings, princes, high officers of Nguyễn dynasty. They are carved, engraved, mosaic, enam-  
eled or covered on royal architecture of Huế during the period of 1802 - 1945. The system of thousands poems,  
literature works is a very precious document heritage that needed to preserved, introduced and promoted.  
Key words: Chinese language literature and poems; Huế Royal Citadel; Royal Architecture of Huế; doc-  
ument heritage.  
1. Giới thiệu  
Trong và dần dần trở thành một trung tâm văn hóa,  
Hệ thống thơ văn chữ Hán trên kiến trúc cung chính trị mới ở phía Nam Đại Việt… Đến đầu thế kỷ  
đình Huế gồm những áng văn thơ tinh túy nhất XIX, sau khi vua Gia Long lên ngôi, kinh đô Huế  
được tuyển chọn từ trước tác của các vị hoàng đế, được quy hoạch và xây dựng hoàn chỉnh.  
thân vương, quan lại triều Nguyễn trong giai đoạn  
Việc xây dựng các kiến trúc tại kinh đô Huế diễn  
1802 - 1945. Hệ thống này bao gồm hàng ngàn bài ra chủ yếu dưới thời hai vị hoàng đế đầu triều là Gia  
thơ, bài văn, câu đối, được thể hiện bằng nhiều loại Long (1802 - 1820) và Minh Mạng (1820 - 1840), sau  
hình chất liệu khác nhau (gỗ, ngà voi, xương, xà cừ, đó, được hoàn chỉnh dưới thời Thiệu Trị (1841 -  
pháp lam, sành sứ...) trên kiến trúc như một cách 1847) và Tự Đức (1848 - 1883). Đây là thời kỳ của các  
thức trang trí đặc biệt, riêng có tại Huế. Trải qua thời kiến trúc sử dụng vật liệu truyền thống, như gạch,  
gian, Cố đô Huế vẫn bảo tồn được một số lượng rất ngói, gỗ, trong đó, chủ yếu là gỗ. Từ thời Đồng  
lớn thơ văn độc đáo này. Năm 1993, quần thể di tích Khánh (1885 - 1888) trở đi, Việt Nam chịu ảnh  
Cố đô Huế được UNESCO vinh danh là di sản văn hưởng mạnh mẽ của văn minh phương Tây, trong  
hóa thế giới. Như vậy, ngay trên di sản thế giới Huế kiến trúc cung đình đã xuất hiện một loại hình kiến  
lại chứa đựng một di sản tư liệu độc đáo, hiếm có, trúc mới, sử dụng vật liệu bê tông, sắt thép nhưng  
đó là hệ thống thơ văn trên kiến trúc mà chúng tôi lại được trang trí chủ yếu bằng đắp nổi sành sứ.  
sẽ giới thiệu khái lược trong bài viết này.  
Chính vì vậy, bên cạnh hệ thống kiến trúc gỗ (chiếm  
số lượng chủ yếu), trong kiến trúc cung đình Huế  
2. Lịch sử hình thành  
Vùng đất Huế có lịch sử lâu đời, là nơi giao thoa, còn có một số công trình được xây dựng bằng vật  
hội tụ của nhiều luồng văn hóa. Từ năm 1636, Huế liệu cứng theo phong cách Tân - Cổ điển (Neo - Clas-  
đã được lựa chọn để xây dựng thủ phủ của Đàng sique), đặc biệt là trong thời kỳ hai vị hoàng đế cuối  
Phan Thanh Hꢁi - L˚ Thꢅ An H’a - Phꢆm ꢇꢈc Thšnh Dꢉng: ...  
cùng của triều Nguyễn là Khải Định (1916 - 1925) này cũng được áp dụng. Sang thời vua Thiệu Trị,  
và Bảo Đại (1925 - 1945).  
một vị hoàng đế nổi tiếng uyên thâm về Nho học và  
giỏi thi phú, lối trang trí“nhất thi nhất họa”,“nhất tự  
nhất họa” càng được áp dụng phổ biến, mà tiêu  
biểu là ở Hiếu lăng (lăng vua Minh Mạng), cung Bảo  
Định (cung điện riêng của vua Thiệu Trị)… Thậm  
chí, ở các quốc tự tại kinh đô, như chùa Thiên Mụ,  
chùa Giác Hoàng, chùa Thánh Duyên cũng sử dụng  
lối trang trí này.  
Thời vua Tự Đức (1848 - 1883), do điều kiện đất  
nước khó khăn và có lẽ cũng do lấy chữ“Khiêm”để  
tự răn mình, nên vị hoàng đế giỏi thơ ca bậc nhất  
của triều Nguyễn lại không dùng văn thơ để trang  
trí cho các kiến trúc của riêng ông, mà chỉ sử dụng  
lối trang trí“nhất thi nhất họa”cho một số kiến trúc  
trong lăng tẩm của vua cha, tức tại Xương lăng  
(lăng vua Thiệu Trị). Truyền thống trang trí“nhất thi  
nhất họa” chỉ được nối mạch lại từ thời vua Đồng  
Khánh (1885 - 1888) tại lăng tẩm của chính vị vua  
này (Tư lăng), rồi được các vua Khải Định, Bảo Đại về  
sau tiếp tục kế thừa, dù cách thức thể hiện và vật  
liệu sử dụng đã thay đổi, thể hiện rõ trên lăng vua  
Khải Định (Ứng lăng), cung An Định… Đó là cách  
sử dụng mảnh sành sứ để trang trí trên kiến trúc xây  
bằng bê tông, sắt thép.  
Trải qua thời gian và các biến động lịch sử, hàng  
trăm công trình trong hệ thống kiến trúc cung đình  
đã bị thiêu hủy, tàn phá và cùng với chúng là một số  
lượng rất lớn văn thơ trang trí gắn liền với các công  
trình ấy3. Đó là một tổn thất vô cùng to lớn của văn  
hóa Huế, văn hóa Việt Nam. Tuy vậy, số lượng văn  
thơ chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế còn lại  
cũng khá phong phú và có thể xem là một di sản tư  
liệu có quy mô lớn, rất cần được bảo tồn và phát  
huy giá trị.  
Có thể nói, kinh đô Huế thời Nguyễn là sự tích  
hợp và phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật kiến  
trúc truyền thống Việt Nam với một quy hoạch  
hoàn chỉnh và một hệ thống kiến trúc đồ sộ, bao  
gồm thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu,  
chùa quán, phủ đệ, vườn uyển, thủy hệ, cầu..., được  
đặt trong một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng,  
tuyệt đẹp, với sông Hương, núi Ngự, đồi Vọng Cảnh,  
phá Tam Giang...  
20  
Năm 1804, vua Gia Long bắt đầu xây dựng  
Hoàng thành Huế, mở đầu là 3 công trình kiến trúc  
quan trọng nhất: Thái miếu để thờ tổ tiên, điện Cần  
Chánh làm nơi nhà vua thiết triều, và cung Diên Thọ  
dành cho Hoàng thái hậu. Sau đó, các kiến trúc  
khác trong Hoàng thành và Cung thành (sau gọi là  
Tử Cấm thành) lần lượt được xây dựng. Tuy nhiên,  
phải sau khi vua Minh Mạng lên ngôi và tiến hành  
quy hoạch lại toàn bộ Hoàng thành, Tử Cấm thành,  
cho xây dựng Thế Tổ miếu, sắp đặt lại vị trí của  
Hoàng Khảo miếu (sau đổi là Hưng Tổ miếu), dời vị  
trí điện Thái Hòa về phía Nam, xây dựng Ngọ môn  
(thay cho Đoan môn)… thì bố cục, diện mạo của  
Hoàng cung triều Nguyễn mới trở nên cân phân,  
hoàn chỉnh. Nhưng, điều đáng chú ý nhất, là từ thời  
Minh Mạng, việc sử dụng thơ văn để trang trí trên  
các công trình mới trở nên phổ biến và trở thành  
điển chế. Các kiến trúc từ Ngọ môn đến điện Thái  
Hòa, Đại Cung môn, điện Cần Chánh, Thái Tổ miếu,  
Triệu Tổ miếu, Hưng Tổ miếu, Thế Tổ miếu… đều sử  
dụng văn thơ để trang trí khắp trên liên ba, đố bản,  
ở cả nội và ngoại thất. Và, cách trang trí 1 ô thơ hoặc  
một đại tự đi liền với 1 bức họa tạo nên kiểu thức  
“nhất thi nhất họa”hoặc“nhất tự nhất họa”gần như  
đã trở thành một phong cách riêng trong trang trí  
kiến trúc cung đình thời Nguyễn. Trong giai đoạn  
này, chất liệu chế tác để tạo nên hệ thống văn tự là  
gỗ quý (lim, kiền kiền…) hoặc xà cừ, xương hay cao  
cấp hơn là ngà voi, hoặc đồ pháp lam (đồ đồng  
tráng men). Nghệ nhân sẽ khắc, chạm hoặc khảm,  
cẩn trực tiếp lên những tấm gỗ đã định sẵn kích cỡ  
rồi gắn trực tiếp lên công trình (sau đó có thể sơn  
son thếp vàng hay sơn quang), tạo thành những  
liên ba, đố bản, cổ diềm, vách ván của cung điện,  
đình tạ, lầu các. Đối với pháp lam thì nghệ nhân sẽ  
viết chữ rồi tráng men trên những tấm đồng, tạo  
nên những bức thơ, họa pháp lam nhiều màu sắc,  
chủ yếu dùng để trang trí ở ngoại thất, trên cổ diềm  
cung điện, trán cổng…  
3. Hiện trạng hệ thống thơ văn trên kiến trúc  
cung đình Huế  
Như đã đề cập ở trên, tương ứng với 2 giai đoạn  
lớn trong lịch sử hình thành hệ thống kiến trúc  
cung đình Huế, thơ văn trang trí trên kiến trúc cũng  
có 2 loại hình: trang trí trên kiến trúc gỗ (từ đầu  
triều Nguyễn đến thời vua Đồng Khánh) và trang trí  
trên kiến trúc bằng vật liệu hiện đại, như bê tông,  
đá…(chủ yếu là thời Khải Định - Bảo Đại). Tuy nhiên,  
chúng tôi chủ yếu căn cứ vào chất liệu thể hiện để  
phân thành 3 loại hình: Thơ văn trang trí trên vật  
liệu kiến trúc gỗ, thơ văn trang trí trên pháp lam và  
thơ văn trang trí trên vật liệu hiện đại.  
Về từng loại hình cụ thể, chúng tôi đã thống kê  
Không chỉ trong chốn hoàng cung mà ở các biệt  
cung1, hành cung, vườn Ngự uyển2… lối trang trí được như sau:  
Sꢀ 2 (51) - 2015 - Di sꢁn vꢂn h‚a vꢃt thꢄ  
21  
Phan Thanh Hꢁi - L˚ Thꢅ An H’a - Phꢆm ꢇꢈc Thšnh Dꢉng: ...  
22  
Sꢀ 2 (51) - 2015 - Di sꢁn vꢂn h‚a vꢃt thꢄ  
4. Nội dung hệ thống thơ văn trên kiến trúc  
cung đình Huế  
Ca ngợi kinh đô văn vật, là nơi tụ hội của nhân  
tài khắp 4 phương có cặp câu đối rất hay ở mặt Bắc  
Với số lượng vô cùng phong phú, thơ văn trên cổng đình Thương Bạc:  
kiến trúc cung đình Huế thể hiện nhiều chủ đề nội  
dung khác nhau, nhưng tựu chung gồm các chủ đề hội,  
chính sau: ca ngợi vương triều, ca ngợi cảnh thái  
bình thịnh trị, đất nước độc lập, bờ cõi thống nhất,  
ca ngợi cảnh đẹp vùng đất đế đô, vẻ đẹp của hoa  
cỏ, cây cối, các mùa trong năm, khuyến khích nông hội,  
nghiệp, chia sẻ nỗi niềm với người dân... Riêng  
Vũ trụ thái hòa thiên ngọc bạch y thường thử  
23  
Kinh sư thủ thiện địa thanh danh văn vật sở đô.  
Tạm dịch:  
Trời vũ trụ thái hòa là lúc áo khăn đua chen như  
Kinh sư nơi đất lành là chốn văn vật của 4  
mảng văn thơ trên các quốc tự thì còn có chủ đề ca phương.  
ngợi đạo Phật, ca ngợi tam giáo đồng nguyên...  
Cùng chủ đề ca ngợi kinh đô, ca ngợi vùng đất  
Về chủ đề ca ngợi triều đại, khẳng định đất nước Thuận Hóa có bài thơ khắc trên điện Sùng Ân - lăng  
độc lập, tự cường có nhiều áng thơ rất hay, mà tiêu vua Minh Mạng:  
biểu nhất là bài thơ khắc tại gian chính giữa của  
điện Thái Hòa:  
Hồi hồi triều phước địa,  
Hoàn nhiễu điện kim thang.  
Thuận Hóa sơn xuyên tú,  
Văn hiến thiên niên quốc,  
Xa thư vạn lý đồ.  
Di mưu tộ vĩnh xương.  
Hồng Bàng khai tịch hậu,  
Nam phục nhất Đường Ngu.  
Tạm dịch:  
“Nơi nơi chầu đất phúc,  
Bao bọc vững âu vàng,  
Thuận Hóa núi sông đẹp,  
Nước ngàn năm văn hiến,  
Thống nhất muôn dặm xa.  
Từ Hồng Bàng mở cõi,  
Trời Nam một sơn hà.  
Truyền mưu bền giang san”.  
(Nguyễn Trọng Tạo dịch)  
Chủ đề ca ngợi nông nghiệp, khuyến nông  
cũng có những bài thơ giàu cảm xúc. Lăng vua  
Ngay từ buổi đầu, triều Nguyễn đã thể hiện khả Minh Mạng có bài thơ:  
năng cai trị thiên hạ và sức ảnh hưởng to lớn của  
mình, niềm tự hào đó được gửi gắm qua bài thơ  
ngũ ngôn trang trí trên pháp lam ở Ngọ môn:  
Vân tế huyền sơ thướng,  
Duyên đồ cục mục hoàng vân bố  
Mãn dã ngu tâm ngọc lạp doanh  
Tải lộ dân nhân giai hỷ sắc  
Hoạch điền dũng phụ dật ca thanh  
“Bên đường ngút mắt mây vàng bủa,  
Đồng ắp niềm vui gạo ngọc căng,  
Ảnh tà thể vị viên.  
Hà tu tam ngũ dạ,  
Dĩ chiếu mãn sơn xuyên.  
Tạm dịch:  
Vén mây trăng mới mọc,  
Mặt người chuyển lúa tươi như hội,  
Mùa được nhà nông tiếng hát tràn”.  
(Nguyễn Trọng Tạo dịch)  
Dẫu trăng chưa kịp tròn.  
Đợi chi đêm rằm đến,  
Đã chiếu sáng núi non.  
Ca ngợi vẻ đẹp các loài hoa, của tứ thời, tứ quý  
cũng là một chủ đề khá phổ biến trong thơ văn trên  
kiến trúc cung đình. Ở các bức tranh ghép bằng  
Một bài khác ở điện Thái Hòa có nội dung ca sành sứ trên lăng Khải Định, các câu thơ được ghép  
ngợi triều đại mới hùng mạnh, thịnh trị:  
Thái bình tân chế độ,  
Hiên khoát cựu quy mô.  
Văn vật thanh danh hội,  
Xuân phong mãn đế đô.  
Tạm dịch:  
trực tiếp vào các bức tranh tạo thành kiểu “trong  
họa có thi, trong thi có họa” chứ không tách thành  
kiểu “nhất thi nhất họa” như trên kiến trúc gỗ.  
Chẳng hạn, bức tranh hoa mai (chủ đề mùa xuân)  
có câu thơ: Sổ điểm mai hoa thiên địa tâm (Mấy  
bông hoa mai nở ra như trái tim của đất trời); bức  
tranh về sen (chủ đề mùa hạ) thì có câu thơ: Thái  
diệp phong đầu ngọc tỉnh liên (Chiếc lá lớn bên  
giếng ở đầu núi là lá sen vậy); bức tranh về hoa cúc  
(chủ đề mùa thu) có câu: Thiên hạ vô song phẩm,  
Thái bình chế độ mới,  
Mở rộng quy mô xưa,  
Văn vật về tụ hội,  
Gió xuân tràn kinh đô.  
Phan Thanh Hꢁi - L˚ Thꢅ An H’a - Phꢆm ꢇꢈc Thšnh Dꢉng: ...  
24  
Khꢁm thꢊ vꢂn trang tr˝ tr˚n ꢋiꢌn Long An (Cꢀ ꢋ“ Huꢍ) - ꢎnh: TŸc giꢁ  
nhân gian đệ nhất hương (Phẩm giá đứng đầu Ngoài mảng thơ chiếm số lượng chủ yếu, trên  
thiên hạ, hương thơm nhất chốn nhân gian); bức kiến trúc cung đình Huế cũng có những bài văn rất  
tranh cây trúc thì có câu: Vị xuất địa thời tiên hữu độc đáo do chính vua Nguyễn ngự chế. Tại điện  
tiết, đáo lăng vân xứ dã vô tâm (Chưa lên khỏi mặt Biểu Đức, lăng vua Thiệu Trị có bài ký về vườn Cơ Hạ  
đất đã có khí tiết, vươn đến tận mây xanh lòng vẫn và bài thơ ngự chế về điện Khâm Văn rất hay, với  
rỗng không).  
toàn bộ văn tự được khảm xà cừ trên những tấm gỗ  
Trên đình Hương Nguyện, chùa Thiên Mụ, ngoài lớn, gắn vào công trình5.  
2 bài thơ đề vịnh cảnh chùa Thiên Mụ và quán Linh  
Tại tấm bình phong gắn trên tầng 3 của tòa Khải  
Hựu4, còn có một số bài thơ ca ngợi về chủ đề Phật Tương lâu, cung An Định thì có bài văn của chính  
giáo, tiêu biểu như bài thơ dưới đây:  
Tường trưng quý địa hiệp thiên nhân,  
Đan hoạch kim đài hoán nhất tân.  
Chân dĩ chí minh thôi thiện huệ,  
Danh nhân tình lập quảng năng nhân.  
Tạm dịch:  
vua Khải Định soạn và cho đắp nổi trên công trình.  
Có thể xem đây là một bản di chúc của nhà vua  
được gắn ngay trên công trình để muôn đời sau rõ  
ý nguyện của ông về việc xây dựng cung An Định,  
một kiến trúc mang phong cách Tân - Cổ điển rất  
đặc sắc.  
Nơi đây tỏ rõ là chốn đất thiêng hòa hợp giữa  
trời và người,  
Như vậy, thơ văn trên kiến trúc cung đình không  
chỉ có cách thức thể hiện đa dạng mà nội dung  
Chùa được dựng lên tô điểm thêm mới vẻ cũng rất phong phú. Đây thực sự là một di sản văn  
rực rỡ. hóa vô giá mà triều Nguyễn đã gửi gắm lại cho thế  
Thực là dùng trí dũng sáng suốt để khơi nguồn hệ mai sau.  
trí tuệ,  
Danh nghĩa thì vì tình với chúng sinh mà ban  
phát lòng nhân.  
5. Tính chất, ý nghĩa  
Tính xác thực:  
Văn thơ chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế là  
Sꢀ 2 (51) - 2015 - Di sꢁn vꢂn h‚a vꢃt thꢄ  
25  
Trang tr˝ ¹nhꢏt thi nhꢏt hꢐaº tr˚n kiꢍn tr…c Cꢀ ꢋ“ Huꢍ - ꢎnh: TŸc giꢁ  
những bản gốc (dưới dạng dương bản6) duy nhất dạng văn tự chữ Hán - một thứ văn tự được sử dụng  
hiện còn ở quần thể di tích Cố đô Huế, Việt Nam. chung trong các nước đồng văn (thuộc khối văn  
Trong lịch sử xây dựng và tu sửa các công trình dưới hóa Nho giáo) suốt hàng nghìn năm qua nên có  
triều Nguyễn chưa hề có tư liệu nào đề cập việc tính quốc tế, tính phổ biến rất cao. Đó là thứ văn tự  
thay đổi, chỉnh sửa hay làm mới hệ thống thơ văn không chỉ dành cho người Việt Nam mà các sứ thần  
này. Sau khi triều Nguyễn chấm dứt (8/1945), việc của Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên… khi đến kinh  
trùng tu có tác động đến các chi tiết trang trí“nhất đô Huế đều có thể dễ dàng đọc và lĩnh hội được ý  
thi nhất họa”chưa hề được đặt ra. Sau khi quần thể nghĩa. Đó là một điểm rất đặc biệt và chỉ thấy xuất  
di tích cố đô Huế được công nhận là di sản thế giới, hiện tại kinh đô Huế dưới thời Nguyễn. Hơn nữa,  
khoa học trùng tu di tích tại Cố đô Huế ngày càng cách sử dụng thơ văn như một hình thức trang trí  
tiến bộ, sự quan tâm của cả nước và quốc tế đến cho kiến trúc, kể cả kiểu “nhất thi nhất họa” trên  
công cuộc bảo tồn di tích ngày càng sâu sắc, song, kiến trúc gỗ hay thi họa xen lẫn nhau trên kiến trúc  
các ô hộc thơ văn chữ Hán hiện còn vẫn được giữ hiện đại ở giai đoạn sau cũng là phong cách hiếm  
nguyên trạng, hoàn toàn chưa có sự thay đổi, điều gặp và gần như đã đi vào điển chế/quy định của  
chỉnh hay làm mới. Đến nay, công cuộc bảo tồn di triều Nguyễn. Phong cách trang trí này đã thực sự  
sản văn hóa Huế đã đạt được những thành tựu to tạo nên một dấu ấn trong lịch sử mỹ thuật kiến trúc  
lớn, văn thơ chữ Hán trên di tích luôn được nhìn trang trí của Việt Nam.  
nhận là những tác phẩm nghệ thuật vô giá, hàm  
- Từ góc nhìn nghệ thuật: đây là những tác  
chứa những giá trị lịch sử quý báu, nên ngày càng phẩm mỹ thuật có giá trị cao trong trang trí kiến  
được chú ý bảo tồn. Trong những năm gần đây, trúc, vừa có hiệu ứng lớn đối với cảm thức mỹ học  
nhiều di tích được trùng tu lớn, các văn tự này ở của người thưởng thức, vừa đẹp, vừa trang trọng,  
một số nơi đã được bảo tồn, tôn vinh bằng nhiều vừa quí phái, vừa trí tuệ. Văn tự được thể hiện là một  
giải pháp khoa học tiên tiến để bảo đảm các văn tự bức tranh, là một bức thư pháp, vừa là một tác  
đó được giữ gìn như vốn có trong quá khứ, vừa đảm phẩm thủ công mỹ nghệ độc bản thể hiện sự tài  
bảo tính lịch sử vừa thể hiện sự trân trọng với mảng hoa và tâm hồn của các nghệ nhân xưa. Để thể hiện  
văn hóa độc đáo này.  
được điều này, những nhà kiến trúc xưa phải am  
hiểu về thư pháp, họa pháp và các loại công nghệ  
Ý nghĩa quốc tế:  
Di sản thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế có truyền thống để tạo nên hình thức trang trí độc đáo  
giá trị rất độc đáo và không thể thay thế. Đây là này. Bên cạnh đó, những người nghệ nhân muốn  
Phan Thanh Hꢁi - L˚ Thꢅ An H’a - Phꢆm ꢇꢈc Thšnh Dꢉng: ...  
thể hiện được ý đồ của thi nhân, thư pháp gia, họa vụ độc giả tra cứu. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô  
gia, thì bản thân họ ngoài tay nghề chạm khảm, Huế đang tổ chức thực hiện công việc này.  
đắp nổi đạt đến đỉnh cao, còn phải am hiểu chữ  
Từ năm 2002, Trung tâm đã phối hợp với Trường  
nghĩa (chữ Hán cổ), am tường nghệ thuật của thư Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (thuộc Đại học  
pháp, họa pháp... mới có thể thể hiện được các ô Quốc gia Hà Nội) tổ chức hội thảo“Bảo tồn và phát  
26  
thơ như hiện còn.  
huy di sản Hán Nôm Huế”. Tại hội thảo này, vấn đề  
- Từ góc nhìn nội dung: đây là những cứ liệu lịch bảo tồn và phát huy hệ thống thơ văn trên kiến trúc  
sử chân xác phản ánh tư tưởng một thời đại; phản cung đình Huế đã chính thức được đặt ra. Cũng  
ánh một số chính sách của triều đình; phản ánh về trong nhiều năm qua, Trung tâm đã trực tiếp tổ  
thế giới quan và nhân sinh quan của tầng lớp vua chức hoặc tạo điều kiện hỗ trợ cho một số nhà  
quan, hoàng thân quốc thích... và cũng phản ánh nghiên cứu công bố các tác phẩm, luận văn có đề  
tài năng của các thi nhân đương thời qua các bài cập đến hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình,  
thơ vịnh cảnh, vịnh người, vịnh trăng, trời, mây, tiêu biểu là: Lăng của Hoàng đế Minh Mạng (1993),  
nước, xuân, hạ, thu, đông... qua bút pháp tài tình Từ Ngọ môn đến điện Thái Hòa (1994), Về hai bài thơ  
của họ, đồng thời, thể hiện tư tưởng để“quán được hồi văn kiêm liên hoàn của vua Thiệu Trị (1994), Khiêm  
nhân sự”thì phải thông thiên văn, tường địa lý, hòa Lăng và vua Tự Đức (2003), Tuyển tập những bài  
mình trong thiên nhiên kỳ tú...  
nghiên cứu về triều Nguyễn (2002), Dấu ấn Nguyễn  
Qua những phân tích trên, có thể nhìn nhận, đây trong văn hóa Phú Xuân (2002), Kỷ yếu hội thảo Bảo  
là một di sản tư liệu độc đáo và không thể thay thế, tồn và phát huy di sản Hán Nôm Huế (2003), Điện  
không thể làm mới được. Nếu di sản này không còn Long An - Di tích kiến trúc nghệ thuật (2005), Đặc  
nữa, hoặc bị mất mát, hư hỏng, thì di sản văn hóa điểm ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa (2007), Tập san  
nhân loại sẽ bị khuyết đi không phải chỉ là một di sản Di sản văn hóa Huế - Nghiên cứu & Bảo tồn, tập I  
tư liệu mà còn là một thể loại di sản độc đáo; sẽ làm (2007), tập II (2012), tập III (2013)...  
nghèo đi về di sản và loại hình di sản trong kho tàng  
Trung tâm cũng đã công bố nội dung của thơ  
di sản của loài người. Đây là một di sản tư liệu chân văn trên nhiều phương tiện thông tin, như: báo chí,  
xác, hàm chứa một nội dung giá trị được lưu giữ truyền hình, trang thông tin điện tử... gây được sự  
bằng những tác phẩm nghệ thuật vô giá: những bức chú ý của công chúng và các nhà nghiên cứu. Dự  
tranh, những bức thư pháp được các nghệ nhân tài định, trong những năm tới, Trung tâm Bảo tồn Di  
hoa chạm khảm trên một loại gỗ quý và bền như sắt tích Cố đô Huế sẽ tổ chức nhiều cuộc hội thảo về  
thép (lim: thiết mộc), hay tráng men pháp lam, đắp khối tư liệu này để rộng đường nghiên cứu và  
nổi bằng sành sứ lung linh màu sắc để trang hoàng thưởng lãm cho mọi tầng lớp nhân dân.  
làm tôn vinh giá trị của các kiến trúc cung đình Huế.  
6. Vấn đề quản lý và bảo tồn hệ thống văn  
thơ trên kiến trúc cung đình Huế  
Kế hoạch quản lý:  
Kế hoạch bảo tồn:  
Hệ thống thơ văn chữ Hán đang được Trung tâm  
Bảo tồn Di tích Cố đô Huế bảo quản tốt cùng với việc  
bảo tồn các kiến trúc đang chứa đựng di sản tư liệu  
Toàn bộ hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung này. Tuy mỗi ô thơ văn là một cổ vật, nhưng vì nằm  
đình Huế đã được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô trên những công trình cổ nên không thể áp dụng  
Huế quay phim, chụp ảnh, số hóa để lưu trữ, phòng những phương pháp hiện đại như kho chuyên dụng  
tránh những tình huống đáng tiếc bất ngờ xảy đến để điều khiển nhiệt độ, độ ẩm. Hệ thống này vẫn  
với di tích, cũng như để hạn chế việc phải sử dụng đang chịu đựng tác động của thời gian, khí hậu,  
tư liệu gốc. Vì rằng, không thể cho tất cả mọi người nhiệt độ, độ ẩm như 200 năm vừa qua chúng đã  
tùy tiện quay phim, chụp ảnh (do ánh đèn flash ảnh từng chịu đựng. Tất nhiên, nhiều cơ quan chuyên  
hưởng xấu đến sức bền và màu sắc sơn thếp; hơn ngành bảo quản và bảo tồn đang nỗ lực nghiên cứu  
nữa, việc bắc thang, giàn giáo thường xuyên ở di nhằm giữ gìn bằng nhiều biện pháp, đặc biệt là sơn  
tích ảnh hưởng đến khách tham quan, mỹ quan, thếp bằng chất liệu truyền thống, hoặc sơn son thếp  
cũng như an toàn của đối tượng...), nên nội dung bằng vàng thật ở các công trình quan trọng, bảo  
tư liệu này đang được tổ chức dịch thuật và xây quản các bức tranh và thơ văn trên pháp lam, tôn  
dựng hệ thống cơ sở dữ liệu có thể tra cứu bằng các tạo, giữ gìn những bức tranh thơ ghép bằng sành  
bộ mục lục truyền thống và mạng thông tin phục sứ... Mục tiêu chiến lược của Trung tâm Bảo tồn Di  
Sꢀ 2 (51) - 2015 - Di sꢁn vꢂn h‚a vꢃt thꢄ  
4- Nguyễn Phước Hải Trung,“Thơ chữ Hán trên di tích Huế,  
những giá trị nhân văn và vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn”,  
in trong Di sản Hán Nôm Huế, Kỷ yếu hội thảo Bảo tồn và phát  
huy giá trị di sản Hán Nôm Huế, Huế 2003, tr. 230 - 238.  
5- Nguyễn Phước Hải Trung, “Những đặc điểm về dẫn ngữ  
trong thơ trên điện Thái Hòa”, in trong tập san Di sản văn hóa  
Huế - Nghiên cứu & bảo tồn, tập III, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố  
đô Huế xuất bản, Huế, 2013, tr. 87 - 96.  
tích Cố đô Huế là đề nghị với UNESCO đưa Hệ thống  
thơ văn trên kiến trúc gỗ cung đình Huế vào Danh  
mục Di sản tư liệu của nhân loại. Nếu hệ thống này  
được công nhận là Di sản tư liệu của nhân loại hẳn sẽ  
dễ dàng tiếp thu những công nghệ bảo quản hiện  
đại nhằm lưu trữ một kho tàng tư liệu vô giá./.  
P.T.H - L.T.A.H - P.ꢃ.T.D  
27  
Chú thích:  
6- Nguyễn Phước Hải Trung, Đặc điểm ngôn ngữ thơ trên  
điện Thái Hòa, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Huế,  
Huế, 2006.  
1- Chẳng hạn như cung Khánh Ninh và cung Bảo Định, là  
2 biệt cung của vua Minh Mạng và vua Thiệu Trị tọa lạc ở bờ  
Bắc sông Ngự Hà, trong Kinh thành Huế. Đây là 2 biệt cung có  
quy mô lớn, bao gồm hàng chục kiến trúc khác nhau, nhưng về  
sau cả hai công trình này đều bị triệt giải. Riêng cung Bảo Định  
thì có 2 công trình là điện Long An và Minh Trưng các được  
tháo rỡ, đưa về dựng làm tòa giảng đường chính của Quốc Tử  
Giám từ năm 1908, nay vẫn còn.  
7- Nguyễn Tài Cẩn, Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn liên hoàn trong  
bài Vũ Trung Sơn Thủy của Thiệu Trị, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1998.  
8- Nguyễn Tân Phong, Về hai bài thơ hồi văn kiêm liên hoàn  
của vua Thiệu Trị, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1994.  
9- Nguyễn Tiến Cảnh, “Mỹ thuật Huế: Trung tâm mỹ thuật  
Việt Nam thế kỷ XIX”, in trong Di sản Hán Nôm Huế, Kỷ yếu hội  
thảo Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hán Nôm Huế, Huế 2003,  
tr. 299 - 302.  
2- Dưới triều vua Minh Mạng đến Thiệu Trị, triều Nguyễn có  
hàng chục khu vườn thượng uyển, như vườnThiệu Phương, vườn  
Cơ Hạ, Ngự Viên, Hậu Hồ, cungTrường Ninh (ở ngay trong hoàng  
cung), các khu vườn thượng uyển nằm ngoài hoàng cung, như  
vườn Thư Quang, vườn Thường Mậu, vườn Thường Thanh...  
3- Chẳng hạn, một số công trình quan trọng được trang trí  
rất nhiều thơ văn đã bị phá hủy trong cơn binh lửa đầu năm  
1947, như Thái Tổ miếu, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, điện  
Khôn Thái trong hoàng cung hay các ngự uyển; các công trình  
kiến trúc bố trí bên trục tả, hữu của lăng Minh Mạng (Truy Tư  
trai, Quan Lan sở, Hư Hoài tạ..); hay các công trình thuộc trục  
lăng mộ của lăng Thiệu Trị (Bi Đình), chùa Giác Hoàng, cung  
Khánh Ninh, cung Bảo Định…  
10- Phạm Đức Thành Dũng, “Ghép những ô thơ trên đình  
Hương Nguyện (chùa Linh Mụ) - Đề xuất giải pháp trùng tu”,  
Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển, Sở KH&CN Thừa Thiên Huế, số  
3 (46), 2004.  
11- Phạm Đức Thành Dũng, “Bảo tồn di sản văn hóa Hán  
Nôm”, in trong tập san Di sản văn hóa Huế - Nghiên cứu & bảo  
tồn, tập II, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản, Huế,  
2012, tr. 148 - 162.  
12- Phan Thanh Hải,“Ngọ Môn - biểu tượng vĩnh hằng của  
cố đô Huế”, Tạp chí Sông Hương.  
13- Phan Thanh Hải, Dấu ấn Nguyễn trong văn hóa Phú  
Xuân, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2002.  
4- Đó là bài Thiên Mụ chung thanh và Linh quán khánh vận  
vịnh 2 thắng cảnh nổi tiếng dưới thời Nguyễn, là chùa Thiên  
Mụ và quán Linh Hựu, hai danh lam này đều được vua Thiệu Trị  
xếp vào 20 thắng cảnh đất Thần Kinh và có thơ đề vịnh.  
5- Đó là bài Khâm Văn điện quan thư đắc cú (Đọc sách ở  
điện Khâm Văn làm được bài thơ) và bài Ngự chế Cơ Hạ viên  
được vua Thiệu Trị cho khảm xà cừ năm 1844.  
14- Tài liệu khảo sát thực tế của Phòng Nghiên cứu Khoa  
học - Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.  
15- Tổ nghiên cứu xuất bản (Phòng Nghiên cứu Khoa học),  
“Định dạng, định vị hệ thống văn tự Hán Nôm trên lăng Đồng  
Khánh, nghiên cứu bước đầu của hồ sơ di sản ký ức”, in trong tập  
san Di sản văn hóa Huế - Nghiên cứu & bảo tồn, tập 2, Trung tâm  
Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản, Huế, 2012, tr. 325 - 332.  
16- Trần Đại Vinh, “Thơ trên các di tích kiến trúc cung đình  
Huế”, in trong Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn,  
Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế - Trung  
tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Huế, 2002, tr. 252 - 259.  
17- Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Hồ sơ các di tích  
thuộc quần thể di tích cố đô Huế, Tài liệu lưu tại Phòng Nghiên  
cứu Khoa học.  
6- Chúng tôi gọi đây là dương bản vì hệ thống thơ văn này  
đều được thể hiện nổi trên bề mặt công trình kiến trúc, khác  
với mộc bản là bản in, âm bản (hiện nay đã có 2 di sản thuộc  
dạng này đã được UNESCO công nhận là Di sản ký ức thế giới:  
Mộc bản triều Nguyễn và Mộc bản in kinh Phật ở chùa Vĩnh  
Nghiêm - Bắc Giang).  
Tài liệu tham khảo:  
1- Huỳnh Minh Đức, Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hòa, Nxb.  
Trẻ, 1994.  
18- Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Điện Long An - di  
tích kiến trúc nghệ thuật, Huế, 2005.  
2- Mai Khắc Ứng, Lăng của hoàng đế Minh Mạng, Hội sử học  
Việt Nam - Hội Sử học Thừa Thiên Huế xuất bản, Huế, 1993.  
3- Mai Khắc Ứng, Khiêm Lăng và vua Tự Đức, Nxb. Thuận  
Hóa, 2003.  
(Ngày nhận bài: 03/1/2015; Ngày phản biện đánh giá:  
14/4/2015; Ngày duyệt đăng bài: 23/4/2015).  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 17200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hệ thống thơ văn chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế - Một di sản tư liệu độc đáo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhe_thong_tho_van_chu_han_tren_kien_truc_cung_dinh_hue_mot_di.pdf