Các giai đoạn phát triển của Hindu giáo

́
́
́
Nghiên cưu Tôn giao. Sô 4 - 2016  
113  
HOÀNG THỊ THƠ*  
NGUYỄN NGỌC QUỲNH**  
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA HINDU GIÁO  
Tóm tắt: Có nhiều cách phân kỳ lịch sử hình thành và phát triển  
của Hindu giáo, trong số đó có cách chia lịch sử hình thành và  
phát triển Hindu giáo thành ba giai đoạn ứng với ba tên gọi là:  
Veda giáo, Bàlamôn giáo và Hindu giáo, cách phân kỳ này góp  
phần làm rõ hơn sự tiếp nối, cách tân và đổi tên (ba trong một) của  
cùng một tôn giáo do những mục đích thần quyền hóa, giai cấp hóa  
hay dân tộc hóa trong mỗi giai đoạn.  
Từ khóa: Veda giáo, Bàlamôn giáo, Hindu giáo, tôn giáo Ấn Độ.  
Hầu hết các công trình nghiên cứu cũng như từ điển đều khẳng định  
Hindu giáo có lịch sử rất sớm ở Ấn Độ, như một tôn giáo sớm nhất của  
nhân loại. Song phân kỳ của nó có những sự chồng lặp về lịch sử, giáo lý,  
kinh điển với Veda giáo và Bàlamôn giáo. Qua tên gọi, có thể tạm chia  
lịch sử Hindu giáo làm 3 giai đoạn: Giai đoạn Veda giáo (khoảng 1500  
năm - 500 năm TCN); Giai đoạn Bàlamôn giáo (khoảng 500 năm TCN -  
500 năm CN); Giai đoạn Hindu giáo (500 năm CN - 1500 năm CN)1.  
Tuy có nhiều cách phân kỳ khác, song cách phân kỳ này có thể góp phần  
làm rõ hơn các tên gọi đó là sự tiếp nối, cách tân và đổi tên (ba trong  
một) của cùng một tôn giáo do những mục đích thần quyền hóa, giai cấp  
hóa hay dân tộc hóa trong mỗi giai đoạn đặc trưng của nó.  
1. Giai đoạn Veda giáo (Vedic religion)  
Thời kỳ Veda, kéo dài khoảng từ giữa thiên niên kỷ II đến thế kỷ IV  
TCN, nhưng cũng có ý kiến đẩy lên sớm hơn tới khoảng 2500 - 1500  
năm TCN2. Veda giáo là tôn giáo khởi nguyên của tộc ngươi Dravidian ở  
̀
Ấn Độ. Kinh điển của Veda giáo là bộ Kinh Veda, gồm 4 tập hợp các bài  
thánh ca hay thần chú cổ, nên còn gọi là Tứ Veda, và cổ nhất trong đó là  
Rig Veda (Lê Câu Vê Đa)3. Rig Veda gồm 1.028 bài thánh ca và 10.600  
câu thơ, được sắp xếp thành mười tập (Mandalas)4 ngợi ca các thần, thể  
hiện khát vọng tâm linh, song đó cũng chính là những tri thức đầu tiên của  
người Ấn Độ cổ về tự nhiên và xã hội qua ngôn ngữ tâm linh, được tin là  
* Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
** Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
́
́
́
114  
Nghiên cưu Tôn giao. Sô 4 - 2016  
do thiên khải hay mặc khải bởi thần thánh chứ không phải do con người  
sáng tạo ra. Tiếng Sanskrit của Veda cổ nhất này đã trở thành một nhân tố  
mang bản sắc truyền thống quan trọng góp phần tạo nên sự thống nhất văn  
hóa Ấn Độ từ rất sớm.  
Tứ Veda gồm: Rig Veda (Thánh ca thọ minh) là sổ tay hướng dẫn sử  
dụng thánh ca, nghi thức tế lễ, cầu nguyện, thần chú trong các lễ hiến tế;  
Sāma Veda (Thánh ca bình minh) là các tán ca; Yajur Veda (Thánh ca tự  
minh) tán ca trích từ Sama Veda để sử dụng cho lễ hiến tế thần; và  
Atharva Veda (Thánh ca thuật minh) gồm thuật chú, bùa phép. Mỗi Veda  
lại gồm 4 phần: Mantras (Thần chú thư), Brāhmana (Phạm thư, còn gọi  
là Tế nghi thư), Āraṇyakas (Sân lâm thư, còn gọi là A lan nhã thư), và  
Upaniṣads (Áo nghĩa thư). Như vậy, kinh Veda và Upanishad có tính liên  
tục và được gọi gộp thành Veda-Upanishad như bảng hệ thống kinh điển  
Veda- Upanishad dưới đây.  
Hệ thống kinh điển Veda - Upanishad  
BRAHMANS 8 BRAHMANAS  
MANTRAS  
4 ARANYAKAS  
13 UPANISHADS  
̀
(Gôm 4 SANHITAS)  
RIG-VEDA  
AITAREYA  
AITAREYA  
AITAREYA  
KAUSHITAKI  
2. KAUSHITAKI  
2. KAUSHITAKI  
SAMA-VEDA  
3. TANGYAMADA  
4. SADVINSA  
3. CHANDOGYA  
KENA  
3. JAIMINIYA  
5. JAIMINIYA  
5. BRIHADARANYAKA  
KENA  
́
STAPTHA  
Trăng  
---------------------------------  
TANTTARIYA  
KATHABALLI  
SETACHWATARA  
PASHNA  
YAJUR-VEDA  
------------------------  
----------------------  
Đen TANTTARIYA  
4. TANTTARIYA  
11. MUNDAKA  
MAITRAYANI  
MANDUKYA  
ATHARVA-VEDA  
GOPATHA  
Veda giáo là tập hợp niềm tin tôn giáo đa thần của tộc người  
Dravidian bản địa ở lưu vực Sông Ấn, về thời kỳ văn hóa lưu vực Sông  
Ấn (Indus Valley Culture), nằm phía Tây bắc Ấn Độ, với đỉnh cao hưng  
thịnh khoảng 2500 - 1500 TCN5. Nhiều di vật về Veda giáo của thời kỳ  
này đã được tìm thấy ở hai địa điểm khảo cổ lớn: Mohenjodaro và  
Harappa.  
Nghi lễ Veda giáo chủ yếu là cúng tế thần linh với nhiều lễ vật tế  
(rượu soma, bơ, sữa, ngũ cốc, đồ ăn dâng tế…) và nghi thức đọc tụng các  
̉
̀
̣
̣
̀
́
̣
́
Hoang Thi Thơ, Nguyêñ Ngoc Quynh. Cac giai đoan phat triên...  
115  
bài thánh ca thuộc Tứ Veda hay Phạm thư hoặc Sân lâm thư, kệ tụng, ca  
vịnh, cầu đảo để cầu mong các thần thánh che chở và ban cho phước lộc.  
Nghi thức tế lễ này có xu hướng ngày càng nhấn mạnh sự thanh tịnh,  
không một chút sai sót trong các nghi thức tế lễ phức tạp, đòi hỏi một sự  
chuyên môn hóa cao, và đẳng cấp Bàlamôn lúc đó đã đáp ứng được. Mặt  
khác, tu sĩ Bàlamôn cũng cố gắng sửa đổi kinh điển gốc để loại các đẳng  
cấp khác ra khỏi việc thực hành tế tự cũng như nghiên cứu, tụng niệm  
Kinh Veda như một nghề. Theo đó, xếp số đông những người không  
thuộc gốc ngươi Aryan vào các đẳng cấp dưới, hay vào đẳng cấp nô lệ  
̀
(śūdra, còn gọi là Thủ đà la). Đồng thời giới Bàlamôn tự đồng nhất mình  
với đấng Phạm Thiên để hợp pháp hóa vị thế thống trị tối cao của nó6.  
Dần dần tế tự trở thành đặc quyền của đẳng cấp Bàlamôn, chuẩn bị cho  
giai đoạn sau của Veda giáo - gọi là Bàlamôn giáo.  
Tuy số lượng các thần của Veda giáo rất nhiều, song ngay từ đầu đã  
có xen lẫn quan niệm nhất thần với quan niệm đa thần. Chẳng hạn, trong  
kinh Brhadaranyaka Upanishad khi được hỏi có bao nhiêu thần, hiền  
triết Yajnavalkya đã trả lời nhiều cách: Lúc đầu là 303, rồi lại có thể là  
3.003, song có lúc lại là 33, 6, 3, 2, 1½ và cuối cùng lại chỉ là 1 thần  
Brahma7. Ngoài ra, còn có nhiều vị là bán thần, như tổ tiên hay anh hùng  
cũng được tôn xưng và thờ cúng. Đặc biệt về biểu tượng, các thần không  
hoàn toàn tách biệt khác nhau, và chức năng tâm linh của các thần cũng  
có lúc chồng chéo lên nhau, không được phân định rõ ràng. Các thần đều  
được gọi là Deva, có nghĩa là “tỏa sáng”, “ánh sáng”, hàm nghĩa đề cao  
bản tính siêu nhiên và tốt lành của các vị thần, chẳng hạn như:  
Thần Phạm Thiên - Brahma là Đấng Sáng Tạo toàn năng không chỉ  
của tất cả mọi yếu tố vật chất và tinh thần mà còn là đấng sáng tạo ra các  
thần và lèo lái cả vũ trụ. Ban đầu “Phạm Thiên” là một thuật ngữ được  
dùng để chỉ quyền năng linh thiêng trong buổi lễ hiến tế, nhưng về sau nó  
được dùng để chỉ quyền năng tuyệt đối đằng sau mọi sự sáng tạo. Phạm  
Thiên thường có hình tướng bốn đầu và bốn tay với vòng hoa trên ngực,  
cưỡi thiên nga có tên Hamsa, hoặc ngồi trên đài sen. Bốn tay thần cầm 4  
pháp khí, trong đó có tay cầm cuốn Kinh Veda, và bình nước sông Hằng.  
Thần Sấm Sét - Indra làm ra sấm và mưa, quyết định may rủi cho mùa  
màng, được thờ cúng ở hàng vạn thần miếu Veda giáo. Thần còn có  
quyền năng kiểm soát cả sự hỗn loạn và sự mờ ám. Trong thần thoại, thần  
Indra giết chết quỷ Vitra, giải phóng các dòng sông trở lại tươi đẹp, hiền  
hòa cung cấp nước cho đồng ruộng. Thần Indra còn là vị thần chiến  
́
́
́
116  
Nghiên cưu Tôn giao. Sô 4 - 2016  
thắng, che chở và đem lại may mắn cho các chiến binh. Biểu tượng vũ  
khí quyền năng của thần Indra là tia chớp, kim cương (vadja).  
Thần Lửa - Agni bảo trợ cho nghệ thuật, đồng thời làm trung gian giữa  
thế giới của thần với thế giới của người. Thần Agni còn gắn liền với  
quyền năng ban phúc, lộc, thọ (tức sinh con nối dõi, sự thịnh vượng, sống  
lâu) cho con người trong lễ cưới và lễ tang. Biểu tượng của thần Agni  
khá đa dạng như: tia chớp, mặt trời trên bầu trời, song cũng rất gần gũi  
khi chỉ là tia lửa (arani) trong bếp của đời thường.  
Thần Mặt Trăng - Soma là biểu tượng về sự phôi thai chuẩn bị cho sự  
tái sinh, sinh trưởng và nuôi dưỡng trong Veda giáo. Soma còn là tên gọi  
nguồn thức uống tinh khiết vĩnh hằng dùng để dâng cúng cho các vị thần  
linh khác trong các lễ tế8. Hình tượng về thần Soma là Mặt Trăng hoặc  
các hình tượng gắn với Mặt Trăng.  
Thần Mặt Trời - Savitar là biểu tượng quyền năng của sức sống, sức  
sáng tạo vũ trụ. Hình tượng của thần Savitar là Mặt Trời với gam mầu  
chủ đạo màu vàng: tay, chân, tóc, trang phục đều màu vàng và bằng  
vàng. Thần Savitar có nhiều tay dài vươn tới khắp mọi nơi trong bầu trời  
và thức tỉnh mọi sinh thể.  
Thần Không Trung - Varuna bảo vệ luật Rita (luật toàn năng của vũ  
trụ)9. Thần có muôn vàn mắt, quan sát hết mọi sự vận hành của vũ trụ và  
mọi chuyện xảy ra trong tam giới để nghiêm khắc trừng phạt thói hư tật  
xấu cũng như ban thưởng cho việc thiện lành.  
Toàn bộ kinh sách, hệ thống thần thánh căn bản của Veda giáo gần  
như được bảo tồn và tiếp tục phát triển trong các giai đoạn Bàlamôn giáo  
và Hindu giáo.  
2. Giai đoạn Bàlamôn giáo (Brahmanism)  
Bàlamôn giáo là sự tiếp tục Veda giáo cổ, vào khoảng 500 TCN - 500  
năm CN10. Tín đồ của Bàlamôn giáo chủ yếu là những người gốc Aryan  
vốn sống bán du mục ở phía Bắc du nhập nhiều đợt vào miền Tây và Tây  
bắc Ấn Độ trong khoảng thời gian dài 1700 - 1200 TCN và trở thành kẻ  
thống trị vùng văn hóa này. Danh từ Bàlamôn ban đầu có nghĩa chỉ hạng  
người quý tộc, giáo sĩ Bàlamôn hay học giả, song trong thể chế nhà nước  
- tôn giáo có giai cấp, đẳng cấp Bàlamôn dần trở thành giai cấp thống trị  
cao nhất và Veda giáo đã được giai cấp hóa, trở thành Bàlamôn giáo có  
tổ chức giáo hội với quyền lực tối cao trên cả nhà nước (nhà vua và triều  
đình). Cũng do vậy, Bàlamôn giáo trở thành vũ khí thần quyền để bảo vệ  
̉
̀
̣
̣
̀
́
̣
́
Hoang Thi Thơ, Nguyêñ Ngoc Quynh. Cac giai đoan phat triên...  
117  
sự bất bình đẳng giai cấp mà quyền lợi tối cao thuộc về đẳng cấp  
Bàlamôn. Trong bối cảnh đó, Bàlamôn giáo đã là một tôn giáo thần  
quyền của riêng đẳng cấp Bàlamôn trong một thời kỳ dài.  
Bàlamôn giáo phát triển khuynh hướng nhất thần. Trước hết là quan  
niệm các thần không giữ vị trí của mình một cách riêng biệt, mà mỗi thần  
lại là sự thể hiện cái tuyệt đối một cách toàn diện bao gồm cả các thần  
khác, nhưng không có sự xung đột hoặc loại trừ giữa các vị thần. Các  
thần vĩ đại nhất luôn trong mối tương tác với các vị thần khác. Chẳng  
hạn, vai trò, vị trí của thần Brahma (Đại Thiên/Phạm Thiên/Đấng Tuyệt  
đối) là cao nhất, song nhiều khi cũng có thay đổi thành thần Shiva hoặc  
thần Visnu là cao nhất. Sang giai đoạn Bàlamôn giáo, thần Brahman  
được phối hợp cùng với các thần Vishnu, Shiva hợp thành bộ ba gọi là  
Trimurti (Tam vị nhất thể: thần Brahma sáng tạo, thần Shiva phá hoại và  
thần Visnu bảo vệ). Song đó chỉ là ba phương diện của Đấng tuyệt đối,  
có tính toàn thể. Ba vị thần này cùng phối hợp để sự sống, sáng tạo và  
phát triển không ngừng tiếp diễn qua các chu kỳ. Cuối mỗi chu kỳ phát  
triển, thần Shiva lại tiêu diệt thế giới cũ, còn đấng Phạm Thiên (Brahma)  
lại tạo ra thế giới mới. Khi vào chu kỳ chuyển đổi này, con người gặp vô  
vàn khó khăn không thể tự giải quyết và thần Vishnu xuất hiện như một  
con người hay dưới một hình thức nào đó, dùng thần thông đặc biệt, đem  
đến sự giúp đỡ cần thiết cho loài người.  
Bàlamôn giáo cho rằng đấng Brahma sáng tạo và bảo tồn vũ trụ, vạn  
vật và cả con người trong chế độ đẳng cấp (varṇa). Đấng Brahma đã  
được tôn xưng cao nhất trong triết học Vedānta sau này, tuy nhiên tư  
tưởng này đã có mầm mống từ trong Rig Veda, song chỉ đến giai đoạn  
Bàlamôn giáo mới có quan niệm đấng Brahma vĩ đại như một nguyên lý  
tối thượng, chi phối sức mạnh thần bí của tất cả các vị thần khác. Đáng  
chú ý là Bàlamôn giáo quan niệm rằng con người do bị ràng buộc trong  
vòng ngu dốt (vô minh) và huyễn ảo (vô thường) nên tạo nhiều nghiệp  
quả, vì vậy phải chịu luân hồi (samsara). Nhưng con người vẫn có khả  
năng thoát khỏi luân hồi, nghiệp báo bằng con đường tu luyện để trở lại  
hòa nhập với đấng Brahma bằng đạo đức, nghi lễ, tế tự thành kính.  
Bàlamôn giáo có niềm tin rằng “Ai biết chính mình sẽ biết Thượng Đế”.  
Như vậy, Bàlamôn giáo khẳng định con người có thể biết Phạm Thiên  
(Tuyệt đối) chỉ bằng con đường trở về tự hiểu chính mình. Hướng phát  
triển này đã góp phần phân loại các thần theo thứ tự, mà cao nhất vẫn là  
thần Brahma, đồng thời làm cho lễ tế trở nên có giá trị như là một thể  
́
́
́
118  
Nghiên cưu Tôn giao. Sô 4 - 2016  
thức có thể làm thay đổi nghiệp quả. Song mặt khác, nó cũng góp phần  
đẩy sự phân biệt đẳng cấp xã hội của thời kỳ Bàlamôn giáo trở nên ngày  
càng khắc nghiệt.  
Bàlamôn giáo phân xã hội theo chế độ luật chủng tính (varṇa) thành thứ  
tự 4 hạng người: Đẳng cấp có vị trí cao nhất là Bàlamôn (Brahmin), vì là  
đẳng cấp thần thánh, sinh ra từ miệng Phạm Thiên (Brahma) và có thể thay  
Phạm Thiên lãnh đạo tinh thần dân tộc Ấn Độ, nên họ được quyền ưu tiên  
và được tôn kính nhất. Họ có thể trở thành giáo sĩ làm nghề tế tự, giữ  
quyền thống trị tinh thần, phụ trách mọi lễ nghi, cúng bái; Sát Đế Lị  
(Kshastriya) là hàng vua chúa, quý tộc, sinh từ cánh tay của Phạm Thiên,  
nên thay mặt Phạm Thiên nắm giữ quyền hành thống trị xã hội; Vệ Xá  
(Vaisya) vì sinh ra từ bắp đùi của Phạm Thiên nên đảm đương về kinh tế  
(buôn bán), sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công); Thủ Đà La  
(Sudra) vì sinh từ gót chân của Phạm Thiên, nên đời đời kiếp kiếp làm nô  
lệ cho các giai cấp trên; Ngoài ra, còn có đẳng cấp Chiên Đà La (Pariah) là  
con lai của đẳng cấp thứ tư với các đẳng cấp trên, song bị gạt ra ngoài lề xã  
hội, và bị các đẳng cấp khác đối xử như thú vật, vô cùng khổ nhục11.  
Bàlamôn giáo góp phần hoàn thiện thêm quan niệm đời người với 4  
mục đích quan trọng: Dharma (hoàn thành các nghĩa vụ luân lý, luật pháp  
và tôn giáo); Artha (mưu sinh và thành đạt trong xã hội); Kama (thỏa  
mãn các ham muốn (dục vọng) nhưng biết tiết chế và điều độ); Moksa  
(giải thoát khỏi vòng luân hồi) bằng cách giải trừ hết các nghiệp (karma)  
vì khi chết mà vẫn còn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào kiếp sau ở thế  
gian, tức là luân hồi (samsara)12. Theo đó Bàlamôn giáo chia trách nhiệm  
và nghĩa vụ đời người thành 4 giai đoạn (ashramas): Môn sinh  
(brahmacharga) khoảng 8-12 tuổi phải tập trung học đạo và phục vụ vị  
thầy tâm linh (guru) của mình; Trưởng giả (grhastha) sau khi lập gia  
đình, phải có trách nhiệm gây dựng gia sản, sinh con nối dõi, thực hiện  
các nhiệm vụ xã hội và tôn giáo như bố thí, các lễ nghi tôn giáo...; Ẩn sĩ  
(vanaprastha) khi đã có tóc bạc và có cháu nối dõi thì rút lui khỏi cuộc  
sống tất bật, tập trung chuẩn bị cho bản thân vào giai đoạn giải thoát; Tu  
khổ hạnh để rũ bỏ hết dục vọng, quay trở về làm trong sạch Bản ngã để  
tìm kiếm Giải thoát (Moksa)13.  
Bàlamôn giáo cũng góp phần hoàn thiện một số chuẩn mực đạo đức và  
nhân phẩm như: Ghi nhớ 3 trọng ân (ơn đấng Phạm Thiên, ơn thầy, ơn tổ  
tiên); Cân bằng 3 phương diện: phụng sự (karmamarga), trí tuệ/minh triết  
(jnanamarga), sùng tín (bhaktimarga). Đó cũng là cách để bảo vệ vị thế cao  
̉
̀
̣
̣
̀
́
̣
́
Hoang Thi Thơ, Nguyêñ Ngoc Quynh. Cac giai đoan phat triên...  
119  
nhất của đẳng cấp Bàlamôn. Từ đó, giáo lý Bàlamôn được cụ thể hóa thành  
10 giới răn (chuẩn mực đạo đức): không sát sinh (ahimsa); không nói dối  
(satya); không trộm cắp (asteya); biết kiềm chế dục vọng và ham muốn  
(brahmacharya); không tham lam (aparigraha); sạch sẽ, tinh khiết (saucha);  
biết bằng lòng (santosha); kỷ luật với bản thân (tapas); phải học tập  
(svadhyaya); vâng phục mệnh trời (ishvara pranidhana).  
Về nghi lễ tôn giáo, kế thừa từ Veda giáo, Bàlamôn giáo cũng tiếp tục  
nhiều thánh lễ, mà sau đó Hindu giáo cũng tiếp tục duy trì đến nay. Một  
số thánh lễ chính như: Lễ Mahashivarati (giữa tháng 2) tôn thờ thần  
Shiva; Lễ Holi (trong mùa xuân) là lễ hội màu sắc; Lễ Ramnavami (cuối  
tháng 3) kỷ niệm ngày sinh của thần Ram; Loạt lễ Navaratri, Dussehra,  
và Durga Puja (10 ngày liên tục trong đầu tháng 11), vừa tôn vinh nữ  
thần Navaratri, vừa kỷ niệm chúa Rama chiến thắng quỷ Ravana, đồng  
thời kỷ niệm chiến thắng của nữ thần Durga đối với trâu quỷ  
Mahishasura; Lễ Diwali (giữa tháng 11) là lễ ánh sáng với nến đèn, đốt  
pháo trong 3 giờ liền để kỷ niệm thời khắc chúa Ram đưa vợ là nàng Sita  
trở về. Đến nay, nhiều nghi lễ này vẫn được Hindu giáo duy trì với tư  
cách là bản sắc văn hóa, tôn giáo của ngươi Hindu.  
̀
Về mặt kinh điển, tuy vẫn đặt Kinh Veda lên trên hết (như đã nói ở  
trên), song giai đoạn Bàlamôn giáo phát triển nhiều hơn về thần học và  
triết học. Tín đồ Hindu giáo tin rằng thánh điển Veda không phải do con  
người sáng tác ra mà được khải thị cho các bậc hiền triết Bàlamôn rồi  
được truyền miệng qua các đời cho đến ngày nay. Các kinh điển được  
hoàn thiện trong thời kỳ này như:  
Kinh Phạm Thư (Brahmana) được viết bằng văn xuôi, khi hệ thống 4  
giai cấp trong xã hội Ấn Độ đã định hình và giai cấp Bàlamôn cũng đã  
khẳng định được vị trí tối cao trong xã hội. Kinh Phạm Thư mang tính  
thần học cao, chủ yếu giải thích ý nghĩa sự linh thiêng trong các nghi lễ  
khác nhau, sắp xếp các chức năng cúng tế khác nhau cho các tầng lớp  
tăng lữ, quy định những nghi lễ và những hệ thống biểu tượng tâm linh.  
Đây là giai đoạn phát triển cao của Bàlamôn giáo nên Kinh này (cũng  
như trong luật Manu) khẳng định rõ tăng lữ Bàlamôn có đặc quyền làm  
tế tự.  
Kinh Sân Lâm thư (Aryanka) được phát triển tiếp tục từ kinh Phạm  
Thư, song đặc biệt chỉ dành cho những vị đạo sĩ Bàlamôn tu kín trong  
rừng sâu. Thay thế cho các kỹ thuật tế lễ, nội dung của Sân Lâm Thư chú  
trọng các kỹ thuật tập trung thiền định vào những biểu tượng tâm linh  
́
́
́
120  
Nghiên cưu Tôn giao. Sô 4 - 2016  
siêu việt. Các nghi thức tế lễ rườm rà dần được thay thế bởi các vấn đề  
suy nghiệm và tư duy triết học. Có lẽ Sâm Lâm thư là giai đoạn chuẩn bị  
cho sự ra đời Áo nghĩa thư (Upanishads) với nội dung tập trung vào triết  
học Hindu giáo nói riêng và của Ấn Độ nói chung14.  
Kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad) thực chất là tập hợp những bộ luận  
do giáo sĩ Bàlamôn triển khai các tư tưởng có trong kinh Veda trên  
phương diện thần học và mang tính triết học cao, như là phần cuối của  
Veda. Nhưng Upanishad được thực hiện trong một thời gian rất dài, bởi  
nhiều tác giả và đều không còn rõ danh tính. Upanishad là sự phát triển  
tiếp tục Veda, nó là phần kết của Veda và được coi là nền tảng cơ bản cho  
trường phái Vedanta. Tổng số có hơn 200 Upanishads, nhưng theo truyền  
thống ngươi Ấn Độ nói là có 108 Upanishads. Trong đó có 10 cho đến 13  
̀
Upanishads cơ bản như: Isa, Kena, Katha, Prasna, Mundaka, Mandukya,  
Taittiriya, Aitareya, Chandogya và Brhadaranyaka15. Đây là những tác  
phẩm có nội dung thần học và triết học uyên thâm, thể hiện xu hướng  
nhất nguyên của Bàlamôn giáo.  
Đáng chú ý, sự chuyển đổi ở các kinh đã phản ánh sự chuyển biến về  
tôn giáo và triết học từ giai đoạn Veda giáo sang Bàlamôn giáo. Kinh  
Veda chú trọng về nghi thức thờ phụng, nhưng sang giai đoạn Bàlamôn  
giáo, kinh Upanishad đi sâu hơn vào những vấn đề về Tự ngã (Atman  
hay gọi là Tiểu ngã, Linh hồn bất diệt) và mối liên hệ của chúng với bản  
thể Tuyệt đối (Brahma, còn gọi là đấng Phạm Thiên hay Đại Ngã) của vũ  
trụ vạn vật từ góc độ thần học và có xu hướng thiên về nhất thần luận.  
Ngay trong Upanishad cũng phần nào phản ánh điều nay, những  
Upanishad cổ nhất, có lẽ được biên soạn vào khoảng thế kỷ 18 - 17  
TCN16, cũng khác các Upanishad muộn hơn.  
Upanishad cho rằng con người, cũng như mọi chúng sinh đều có một  
Tự ngã (Atman) bất sinh, bất diệt, thường tịnh. Nó đồng về chất với bản  
thể tuyệt đối (Brahman). Khi Tự ngã của chúng sinh chưa hòa nhập với  
bản thể tuyệt đối, thì con người vẫn còn phải luân hồi trong vòng sinh tử.  
Giải thoát là một trạng thái Atman đạt được sự hòa đồng với bản thể  
tuyệt đối (Brahman) hằng hữu vĩnh cửu.  
Kinh điển Bàlamôn giáo còn là hệ thống lý luận đầu tiên chứng minh  
cho sự hợp lý của tình trạng bất bình đẳng giai cấp bằng mô hình xã hội  
thần quyền, mà trong đó giới Bàlamôn được coi là đẳng cấp thần thánh,  
có vị trí cao nhất trong xã hội. Đó là công cụ tinh thần bảo vệ chế độ  
đẳng cấp của giai cấp thống trị Bàlamôn lúc đó.  
̉
̀
̣
̣
̀
́
̣
́
Hoang Thi Thơ, Nguyêñ Ngoc Quynh. Cac giai đoan phat triên...  
121  
3. Giai đoạn Hindu giáo (Hinduism)  
Hindu giáo bắt đầu khoảng thế kỷ 6 - 7, cũng là khi Phật giáo bắt đầu  
suy tàn tại Ấn Độ, và phát triển đến nay. Hindu giáo là sự tiếp nối từ  
Veda giáo và Bàlamôn giáo, song theo khuynh hướng dân tộc hóa, biến  
tôn giáo này thành tôn giáo của ngươi Ấn Độ, của tất cả ngươi Hindu. Ở  
̀
̀
giai đoạn này, xu hướng thờ thần Brahman đã nhường bước cho xu  
hướng thờ Tam vị nhất thể (Brahma, Vishnu và Shiva). Ngày nay, ở toàn  
Ấn Độ chỉ có duy nhất còn một đền thờ dành riêng thờ Phạm Thiên. Giữa  
Bàlamôn giáo và Hindu giáo có nhiều điểm kế thừa và chia sẻ:  
Về thiết chế tôn giáo - xã hội: Hindu giáo tiếp tục duy trì sự phân chia  
xã hội thành 4 đẳng cấp, song không còn gay gắt mang tính thần quyền  
như thời kỳ Bàlamôn giáo.  
Về kinh điển: Hindu giáo là sự kế thừa liên tục từ kinh sách của Veda  
giáo và Bàlamôn giáo. Kinh điển Hindu giáo vẫn gồm Veda - Upanishad,  
song có thêm các bộ luận (Sastra). Cho nên, hầu như không có tài liệu  
nào nói về kinh sách của Hindu giáo một cách rõ ràng, có lẽ vì đó là sự  
tiếp tục các tập hợp kinh sách đã có từ các thời kỳ trước. Người Ấn Độ  
chia hệ thống kinh điển phong phú của Hindu giáo thành hai loại chính là  
Shruti (được mặc khải) và Smriti (được thuộc lòng).  
Shruti gồm: Kinh Veda (còn gọi Thánh điển Veda hay Bản tập Veda  
(tức Saṃhitā)); Kinh Phạm Thư (Brahmana) là cẩm nang lễ nghi, luận  
giải Kinh Veda; Kinh Sân lâm thư (Aryanka); Kinh Áo nghĩa thư  
(Upanishad), tức các luận giải thần học và triết học về Kinh Veda.  
Smriti gồm: Các thiên anh hùng ca (Hindu epics) của Hindu giáo như:  
Ramayana, Mahabharata, Bhagavad Gita17; Chuyện cổ tích và thần thoại  
(Puranas18). Đó là các truyền thuyết kể về thần thánh, (đặc biệt dành cho  
những người thờ thần Brahma, Shiva, và Vishnu) và về các hóa thân vô  
hạn của các thần, mô tả hoạt động của các thần, bao gồm cả chuyện tái  
sinh; Các luận giải về kinh sách gốc (dharmaśāstra), về giáo luật gốc  
(Sastras) bàn nhiều về nguồn gốc thế giới, quy định về trật tự đẳng cấp  
xã hội, trách nhiệm đạo đức, về sự giải thoát của Hindu giáo.  
Về giáo lý: Hindu giáo cho rằng mọi người đều bị ràng buộc bởi luân  
hồi (samsara) do nghiệp (karma) theo quy luật nhân - quả mà khởi đầu là  
do dục vọng dẫn dắt. Cách duy nhất để thoát khỏi chu kỳ này là Atman  
phải kết hợp được với Brahman, đồng thời gỡ bỏ mọi ham muốn. Để đạt  
điều này con người có thể tu luyện theo phép Yoga huyền bí, theo đuổi  
́
́
́
122  
Nghiên cưu Tôn giao. Sô 4 - 2016  
con đường tu khổ hạnh từ bỏ thế giới và đạt tới giải thoát. Khi còn bị  
ràng buộc bởi nghiệp thì con người không thể nhận biết được bản ngã  
(Atman) đích thực của mình cũng như Bản ngã Tuyệt đối (Brahman).  
Các phạm trù chủ đạo của Hindu giáo gồm Dharma (Pháp, nguyên lý  
đạo đức và chức phận), Samsàra (Luân hồi, sống, chết và tái sinh),  
Karma (Nghiệp, hành động tạo tác và kết quả của hành động tạo tác),  
Moksha (Giải thoát khỏi luân hồi), và Yoga (các phương pháp tu tập).  
Cho đến đến nay, nhiều nghi thức quy định trong kinh Phạm Thư  
(Brahma), cả lời các bài kệ tụng cách đây 2.000, 3.000 năm vẫn được tín  
đồ Hindu giáo giữ nguyên.  
Về biểu tượng thờ cúng, Hindu giáo tiếp tục xu hướng thờ đa thần với  
các thần linh truyền thống, cùng nhiều vị thần trong tín ngưỡng dân gian  
(thần tự nhiên (thần cây, thần đá, thần lửa), thần nông, thần ca múa, thần  
chữa bệnh…) kèm theo nhiều nghi thức cúng tế xa xỉ có từ thời Bàlamôn  
giáo. Ngoài ra, Hindu giáo còn duy trì hình thức sùng bái một số loài vật  
(khỉ, bò, voi, rắn…) luôn đi cùng vác vị thần.  
Tuy nhiên, thờ thần Brahma như vị thần chủ có giảm, song sự sùng  
bái đối với các thần khác lại rất phổ biến trong tín đồ Hindu giáo. Hindu  
giáo cũng được phân thành hai phái, thờ thần Vishnu và thần Shiva, tuy  
sự phân phái này đã manh nha từ thời kỳ Bàlamôn giáo. Phái thờ thần  
Vishnu được gọi là “Vaishnava” tôn sùng thần là Đấng sáng tạo. Vishnu  
được mô tả với bốn cánh tay, nhiều đầu và nhiều pháp khí (ốc tù và, tràng  
hạt và hoa sen), hay với tay phải làm dấu abhayamudra, tức không kinh  
sợ, nên còn được gọi là “thần tay phải”. Thần Vishnu còn là hiện thân  
cho nữ tính và khả năng sinh sản. Thần có nhiều hóa thân (avataras) có  
vai trò giữ đạo đức và văn minh của nhân loại. Trong Ramayanna, thần  
Vishnu hiện thân làm vợ của Nara, còn trong Chí Tôn Ca (Bhagavad  
Gita) thần giáng làm đấng Krisna giảng về triết lý sống vĩ đại cho Arjuna  
trước trận chiến. Hình tượng phối ngẫu thường xuyên với thần Vishnu là  
nữ thần may mắn Lakshmi hoặc cưỡi chim thần Garuda. Đối thủ chính  
của Vishnu là thần Chết (Yama) và lũ ác quỷ.  
Phái thờ thần Shiva tôn sùng thần như Đấng Tối cao, là hiện thân của  
sáng tạo, cân bằng và cả hủy diệt. Thần được tôn sùng như sự vô hạn,  
siêu việt, bất biến và vô tướng vô hình. Bởi vì thần có rất nhiều hình  
tướng lúc nhân từ, lúc gây kinh sợ. Chẳng hạn, trong biểu hiện nhân từ  
của thần là một Yogi toàn trí sống khổ hạnh trên núi Kailash..., trong biểu  
hiện kinh sợ, thần là ác thần hay chém giết. Thần Shiva còn được tôn  
̉
̀
̣
̣
̀
́
̣
́
Hoang Thi Thơ, Nguyêñ Ngoc Quynh. Cac giai đoan phat triên...  
123  
sùng như thần bảo trợ của Yoga và nghệ thuật. Thần Shiva có hình tượng  
với con mắt thứ ba trên trán; rắn Vasuki quanh cổ; trăng lưỡi liềm trên  
đầu; dòng sông thánh Ganga (sông Hằng) chảy theo từ búi tóc; pháp khí  
Trishula (đinh ba), và nhạc cụ damaru (trống lắc). Tín đồ Hindu giáo còn  
thờ cúng thần dưới hình thức Linga - Yoni, hay hình tượng đạo sĩ đang  
thiền định, hoặc thần đang múa điệu Tandava trên quỷ Maya.  
Tuy nhiên, Hindu giáo cũng có một số điểm phát triển mới tương đối  
khác so với Bàlamôn giáo như:  
Về biểu tượng thần thánh: Hindu giáo có bổ sung và điều chỉnh khá  
nhiều song hệ thống hơn. Chẳng hạn, tuy vẫn thờ 3 vị thần (Tam vị nhất  
thể), song các vị thần được bổ sung thêm và trật tự các thần cũng có  
chút đảo lộn. Thần Brahma có phần bị hạ thấp so với giai đoạn  
Bàlamôn giáo, nhưng thần Vishnu lại được đề cao hơn. Hình tượng  
nhận dạng các thần cũng có thay đổi nhưng đều nhằm làm tăng tính  
thần thánh, siêu phàm và hoàn hảo. Ví dụ, biểu tượng thần nhiều tay,  
nhiều mặt, nhiều đầu, nhiều pháp khí càng được tận dụng (thần Brahma  
có 4 đầu để nhìn thấu mọi nơi; thần Shiva có mắt thứ 3 ở trán, hay thờ  
cúng biểu tượng Linga và Yoni của thần Shiva để tôn vinh quyền năng  
sinh sản vô tận. Các phả hệ thần thánh cũng được mở rộng (gia đình  
thần Shiva gồm có vợ là thần Kali và con trai là thần Ganesha). Ngoài  
ra, nghệ thuật tạo hình các thần cũng đa dạng hơn, hàm ý tôn giáo nhiều  
hơn. Chẳng hạn, hình tượng nữ thần Kali, vợ của thần Shiva có bộ mặt  
đe dọa (mặt đen, miệng há rộng, lưỡi thè ra ngoài...); thần Ganesha  
thông tuệ và phúc hậu, nhưng đầu voi...  
Hindu giáo cũng đã thêm nhiều quy định về chuẩn mực, hình phạt, lễ  
hội, nghi thức tế lễ tỉ mỉ hơn, như: thêm luật kiêng ăn thịt bò, dùng đồ  
bằng da bò; tín đồ Vishnu vẽ son lên trán còn tín đồ Shiva thì bôi than  
phân bò ngang trên trán hay đeo biểu tượng linga ở cổ tay; khi tế lễ có  
thêm nghi thức xức dầu thơm, nước hoa cho các tượng thần...  
Điều đặc biệt ghi dấu ấn sự chấn hưng của Bàlamôn giáo và sự chuyển  
đổi thành Hindu giáo bằng cách tiếp thu thêm Phật giáo, đó là truyền  
thuyết cho rằng thần Vishnu đã giáng trần 9 lần và lần cuối cùng là với  
hình hài đức Phật. Đây cũng là cách mà Hindu giáo đã thu hút được cả tín  
đồ Phật giáo và liên tục củng cố sức mạnh tín ngưỡng tôn giáo và khắc  
phục những hạn chế để trở thành một tôn giáo mạnh nhất ở Ấn Độ./.  
́
́
́
124  
Nghiên cưu Tôn giao. Sô 4 - 2016  
CHÚ THÍCH:  
1
Gavin Flood (1998), An Introduction to Hinduism, Cambridge University Press,  
Foundation Books, New Delhi: 21.  
2
Niên đại của Veda giáo có tính ước đoán dựa trên những chuẩn định khác nhau  
về tộc người cổ, hay ngôn ngữ cổ, hay biểu tượng, lễ nghi tôn giáo cổ của người  
Ấn Độ nên không thống nhất, và có độ chênh lệch rất lớn. Tham khảo: Gavin  
Flood (1998), Sđd: 20 - 21.  
3
4
Ban đầu Rig Veda chỉ được lưu giữ bằng truyền khẩu, về sau nó mới được sưu  
tập và biên soạn thành văn bản.  
Stephanie Jamison & Joel Brereton (2014), The Rigveda: The Earliest Religious  
Poetry of India, Oxford University Press: 4, 7 - 9.  
5
6
Gavin Flood (1998), Sđd: 21.  
Có nghiên cứu kinh Upanishad, cho thấy lúc đầu kinh cho rằng Sát Đế Lợi là  
đẳng cấp cao nhất vì được sinh ra trước tiên, và tại buổi lễ tế các Bàlamôn phải  
ngồi phía dưới các Sát Đế Lợi. Nhưng về sau Upanihad có sự chỉnh sửa: “Chính  
Bàlamôn là nguồn gốc của Sát Đế Lợi. Do đó, cho dù vua có quyền uy tối cao,  
song vẫn phụ thuộc vào Bàlamôn như là nguồn gốc của mình. Vì vậy, bất cứ  
người nào làm tổn hại Bàlamôn là đang tấn công chính nguồn gốc của người ấy.  
Vị ấy chịu sự tổn hại tương xứng khi vị ấy làm hại người tốt hơn”. (Brihad-  
Āranyaka Upanishad 1.4.10)[Tham khảo: The Thirteen Principal Upanishads  
(1921). Ngươi dịch: R. E. Hume. Oxford: Oxford University Press: 38; A. B.  
̀
Keith (1925), The Religion and Philosophy of Veda and Upanishads, London:  
Oxford University Press: 585.  
7
8
9
Gavin Flood (1998, Sđd: 44.  
Gavin Flood (1998), Sđd: 44.  
Luật Rita là đạo trời, thiên lý, trật tự điều hành vũ trụ trong quan niệm của ngươi  
Ấn Độ.  
̀
10 Gavin Flood (1998), Sđd: 21.  
11 Có tài liệu còn ghi rằng ba đẳng cấp đầu có thể tái sinh, còn hai đẳng cấp dưới  
cùng không được quyền tái sinh.  
12 C. Scott Littleton (2003), Sđd: 45.  
13 C. Scott Littleton (2003), Sđd: 40 - 42.  
14 Tham khảo S. Radhakrishnan (2009), Indian Philosophy (Vol. 1), second edition,  
Oxford India Paperbacks; Hà Thúc Minh (2002), Triết học phương Đông - triết  
học Ấn Độ, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh: 32 - 45.  
15 A Source Book in Indian Philosophy (1989), Edited by Sarvepalli Radhakrishnan  
& Charles A. Moore. Princeton, New Jersey - Princeton University Press. USA:  
37. Chú ý thêm: các Upanishad thuộc về Shruti.  
16 A Source Book in Indian Philosophy (1989): 37.  
17 Rāmāyana là thiên anh hùng ca về chiến công của thái tử Rāma chiến thắng vua  
quỷ Rāvana, dành lại công chúa Sītā; Mahābhārata là thiên anh hùng ca về cuộc  
chiến tranh dành ngai vua giữa hai dòng hoàng tộc; Chí tôn ca (Bhagavad Gītā) là  
thiên anh hùng ca về cuộc đàm đạo giữa thần Kṛṣṇa với Arjuna trước đêm sảy ra  
cuộc chiến tranh giành ngai vàng về nghĩa vụ, sứ mệnh cuộc đời và chiến tranh...  
18 Các Puranas có nội dung như: Giới thiệu tiểu sử các thần và vũ trụ; Ca tụng các  
thần. Khó xác định niên đại của Purāṇa. Có nhiều Purāṇas, nổi tiếng nhất là  
Bhāgavata Purāṇa.  
̉
̀
̣
̣
̀
́
̣
́
Hoang Thi Thơ, Nguyêñ Ngoc Quynh. Cac giai đoan phat triên...  
125  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Sarvepalli Radhakrishnan & Charles A. Moore (ed., 1989), A Source Book in  
Indian Philosophy, Princeton, New Jersey - Princeton University Press, USA.  
2. Axel Michaels (2004), Hinduism - Past and Present, Translated by Barbara  
Harshav, Princeton University Press, Princeton and Oxford.  
3. “Các vị thần trong tôn giáo của nền văn minh Ấn Độ (kỳ 1)”, Báo sinh viên Đại  
học An Giang, đăng ngày 15/11/2015.  
4. Gavin Flood (1998), An Introduction to Hinduism, Cambridge University Press.  
Foundation Books, New Delhi.  
5. Hồng Hải, Thủy Chung, “Biểu tượng Makara trong văn hóa Ấn Độ” trong Cục  
Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm và ape.gov.vn/bieu-tuong-makara-trong-van-  
hoa-an-do, ngày 20/01/2015.  
6. A. B. Keith (1925), The Religion and Philosophy of Veda and  
Upanishads, London: Oxford University Press.  
7. “Lễ hội cầu mưa-Varuna Vajna-Vietnam Vacations” trên Vietnam-vacations.com.vn.  
8. C. Scott Littleton (2003), Trí tuệ phương Đông, Ngươi dịch: Trần Văn Huân.  
̀
Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.  
9. Hà Thúc Minh(2002), Triết học phương Đông-Triết học Ấn Độ, Nxb. Tp. HồChí Minh.  
10. S. Radhakrishnan (2009), Indian Philosophy (vol 1), second edition, Oxford  
India Paperbacks.  
11. Stephanie Jamison & Joel Brereton (2014), The Rigveda: The Earliest Religious  
Poetry of India, Oxford University Press.  
12. Textual Sources for the Studies of Hinduism (1988), bản dịch Wendy Doniger  
O’Flaherty, Manchester: Manchester University Press.  
13. The Thirteen Principal Upanishads (1921), Ngươi dịch: R. E. Hume, Oxford:  
̀
Oxford University Press.  
Abstract  
THE DEVELOPMENT STAGES OF HINDUISM  
There are many ways to make a chronology of the Hinduism’s history  
and its development. One of which is the division of its history into three  
stages, namely Vedic religion, Brahmanism and Hinduism. This way of  
making chronology helps clarifying the continuity, innovation, and  
terminology (confusion of three names into one) of the same religion for  
the various purposes of theocracy, classification, or building ethnicity in  
different historical periods.  
Keywords: Vedic religion, Brahmanism and Hinduism, Indian  
religion.  
pdf 13 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 17940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các giai đoạn phát triển của Hindu giáo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_giai_doan_phat_trien_cua_hindu_giao.pdf