Vài nét về lịch sử nhiếp ảnh và điện ảnh ở Thừa Thiên Huế

3
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
VĂN HÓA - LỊCH SỬ  
VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NHIẾP ẢNH VÀ ĐIỆN ẢNH Ở  
*
THỪA THIÊN HUẾ  
**  
Nguyễn Xuân Hoa  
I. Nhiếp ảnh  
1. Sự du nhập nhiếp ảnh vào Huế  
Lịch sử nhiếp ảnh ra đời kể từ ngày Chính phủ Pháp công bố phương pháp  
chụp ảnh của Jacques Daguerre (1787-1851) vào năm 1839, như một món quà cho  
nhân loại, và năm 1845, dưới thời vua Thiệu Trị, đã có hai bức ảnh đầu tiên của  
nhiếp ảnh gia Alphonse Jules Itier chụp về Việt Nam.  
A. J. Itier là phóng viên đi theo phái đoàn Pháp sang Trung Hoa ghi hình sự  
kiện ký hiệp ước Hoàng Phố giữa Pháp và Trung Hoa; trên đường trở về theo tàu  
L’Alemène, tàu đã ghé bến Tiên Sa, Đà Nẵng để thị uy, đòi thả Giám mục Lefebvre  
bị triều đình Huế bắt giam. Lúc ở Đà Nẵng, A. J. Itier đã chụp được đồn binh “Non  
Nay” và bến cảng Đà Nẵng. Trong hồi ký của mình, A. J. Itier viết: “Trong khi  
mọi người đứng trên boong tàu, chờ đón giáo sĩ, tôi tranh thủ chụp mấy kiểu ảnh  
và tiến tới chân đồn binh Non Nay. Khi tôi đặt chân lên đất, cũng là lúc người ta  
kéo cờ hiệu khởi hành lên nóc cột chiến hạm, tiếp đó là một phát đại bác nổ rền  
vang, ra lệnh nhổ neo. Vài phút trễ tràng có thể làm thay đổi vận mệnh đời tôi. Xin  
Thượng đế phù hộ! Cầu cho hai tấm phim đã chụp, đạt được kết quả. Đó là bến  
cảng Đà Nẵng… Tất cả quang cảnh đã được thu vào ống kính một cách trung thực,  
ngoại trừ cảm xúc của tác giả.”(1) Bức ảnh “Đồn binh xứ Đàng Trong Non Nay”  
hiện còn trưng bày tại Bảo tàng Nhiếp ảnh Pháp.  
Phải đến năm 1863, khi sứ bộ của triều đình Tự Đức, do Phan Thanh Giản  
làm Chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm Phó sứ, Ngụy Khắc Đản làm Bồi sứ sang Pháp  
điều đình xin chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đang ở Paris, người Việt Nam mới  
tiếp cận với kỹ thuật nhiếp ảnh và được chụp ảnh, để lại những bức ảnh đầu tiên  
của các vị quan triều Nguyễn. Trong tập Tây hành nhật ký, Phạm Phú Thứ đã ghi  
chép các chi tiết:  
“Ngày mồng bảy, (tức ngày 20/9/1863, mồng 7 tháng Chín năm Quý Hợi, Tự  
Đức thứ 16) Hà-ba-lí (2) báo rằng Quốc trưởng của họ muốn xem ảnh của Sứ bộ,  
*
Trích kết quả nghiên cứu đề tài KHCN cấp tỉnh: “Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Văn hóa”,  
được ngân sách nhà nước tỉnh TTH đầu tư.  
** Thành phố Huế.  
4
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
nên quan đại thần của đô thành đã sức cho thợ đến sứ quán và giao cho y đến báo  
với các quan sứ sáng mai, mặc phẩm phục sẵn sàng để chụp ảnh đệ trình lên trên...”  
“Ngày mồng tám… chúng tôi lần lượt mặc phẩm phục lên nhà lầu lợp kính  
trong quán để chụp ảnh, quán nầy có mấy gian trên tầng lầu mà mái và tường đều  
lợp bằng pha-lê để lấy ánh sáng mặt trời. Cách chụp ảnh làm như thế nầy:  
Trước hết, lấy nước thuốc xoa trên một tấm kính rồi đặt tấm kính vào ống  
kính; sau đó, người được chụp đứng trước ống kính và quay mặt về ống kính; ánh  
sáng mặt trời lọt vào ống kính làm cho hình người ta in lên tấm kính, không sai  
một sợi tóc. Tục người Tây thích chụp ảnh nhất, phàm những người mới quen biết  
nhau thì thích có ảnh của người quen; người trên, kẻ dưới đều như vậy vì người  
ta nói rằng, làm như vậy để tỏ tình không quên nhau. Từ đó về sau, viên quan nầy  
nhiều lần đưa thợ mang máy đến quán mời chúng tôi chụp ảnh và chia tặng chúng  
tôi. Tiền công chụp một tấm ảnh nhỏ là một quan, tấm lớn hơn là bốn, năm quan.”  
“Ngày mồng chín… Mấy người thợ chụp ảnh lại đến mời chúng tôi chụp  
chung một tấm ảnh nhỏ (hôm trước, đã chụp riêng từng người, hôm nay, mời chụp  
chung cả đoàn để cùng đệ trình lên Quốc trưởng).”(3)  
Sự kiện nầy đã để lại cho chúng ta một số bức ảnh của các quan triều đình  
Huế mặc phẩm phục đại triều, có ảnh Phan Thanh Giản đứng và ngồi, ảnh riêng  
của từng người trong đoàn sứ bộ và tấm ảnh chung ba đại thần ngồi và mười một  
quan văn võ tùy tùng đứng ở hàng sau, trong đó có ảnh của Phó Đề đốc Nguyễn  
Hữu Thân, người Thừa Thiên, trong trang phục võ quan.  
Hai năm sau, 1865, theo đề nghị của Phạm Phú Thứ và Viện Cơ Mật, Đặng  
Huy Trứ, người có xu hướng canh tân, được cử đi Hồng Kông làm nhiệm vụ “thám  
thính Dương phòng”, có cơ hội tiếp xúc với kỹ thuật nhiếp ảnh. Năm 1867, nhân  
chuyến đi Quảng Châu hơn một năm để mua “quá sơn pháo”, Đặng Huy Trứ đã tìm  
hiểu kỹ về kỹ thuật, mua máy móc và vật liệu chụp ảnh đưa về Hà Nội (lúc bấy giờ  
Đặng Huy Trứ được cử làm Thương biện Tỉnh vụ Hà Nội), mở hiệu ảnh Cảm Hiếu  
Đường, hiệu ảnh đầu tiên của Việt Nam.(4) Đặng Huy Trứ, người Thừa Thiên, sinh  
tại làng Thanh Lương, nay thuộc phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, được  
giới nhiếp ảnh trong nước tôn xưng là vị tổ của ngành nhiếp ảnh Việt Nam.  
Cùng với sự du nhập nghề nhiếp ảnh vào Việt Nam, được khởi đầu từ Đặng  
Huy Trứ, tháng Năm năm Mậu Dần (1878), sau khi Trương Văn Sán đi du học ở  
Pháp về, Bộ Hộ đã tâu trình với vua Tự Đức về “tiểu pháp chụp ảnh” do Trương  
Văn Sán đã học được:  
“Phép chụp ảnh, phải có nhà riêng, dùng kính che cả 4 mặt cho sáng, mới  
phân biệt được râu, mày, hình dung, có giá để đồ chụp ảnh, bắt đầu cắm ống kính  
5
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
vào hòm máy, để lên trên cái giá, mở máy, bỏ cái nắp đậy ra, cho người ngồi trên  
cái ghế dựa trước ống kính, lấy cái trụ sắt đỡ đằng sau khăn ở đầu cho khỏi lay  
động, mới đem giá để máy chụp đưa đi đưa lại, khiến cho bóng người ở trong hòm  
kính rõ ràng. Xong rồi liền bỏ khuôn kính vuông ở mặt hòm đi, lấy khuôn kính bôi  
thuốc đổi đặt vào hòm máy, sẽ bỏ miếng ván che đi, khiến cho bóng người chiếu  
vào trong kính, liền để ván che vào, rồi nhẹ tay rút ra, đem vào chỗ kín, lấy nước  
thuốc rửa 3 lần, khiến cho bóng người dần hiện ra, đem phơi khô, để vào trong cái  
khuôn có hình chụp ảnh. Lại đem ngay tấm giấy in một mặt ngâm vào chậu nước  
thuốc, rồi phơi ở chỗ râm, lại đặt lên trên kính ảnh trước để trong khuôn, đem  
khuôn che áp vào, khiến cho bóng người thấu vào giấy, lại phơi khô rồi lấy ra, lại  
dùng nước thuốc rửa qua 3 lần, đợi khô, mới xem được và các thứ máy móc (1 cái  
chuông ở trong ống kính chụp ảnh, 1 cái hòm chụp ảnh, 2 cái trụ sắt, 1 cái khuôn  
để chặn giấy, 1 cái giá chụp hình)”.  
Vua Tự Đức đã cho phép làm một nhà riêng ở bên phải Sở Thương Bạc (khu  
vực Nhà Văn hóa Huế hiện nay, phía gần cửa Thượng Tứ), cho phép Trương Văn  
Sán làm việc chụp ảnh, chụp cho cả quan lại và dân chúng.(5) Hiệu ảnh Trương Văn  
Sán do vua Tự Đức cho phép hoạt động năm 1878 là hiệu ảnh đầu tiên ở kinh đô Huế.  
Cũng vào năm nầy, trong bài viết “Huit jours d’ambassade à Hué” (Tám  
ngày trong đoàn ngoại giao ở Huế) của Brossard de Corbigna đăng trên Le Tour  
du Monde, tháng 1/1878 lại cho biết Émile Gsell, nhà nhiếp ảnh thương mại đầu  
tiên ở Sài Gòn, chủ hiệu ảnh Gsell Photographie, người đã từng triển lãm ảnh tại  
Vienne (Áo), đi theo đoàn ngoại giao của Pháp đến Huế, được Hoàng đế An Nam  
cho phép chụp ảnh (cảnh vật) tại Huế.  
Cuối năm 1916, theo đề nghị của Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương,  
Chính phủ Pháp đã cử đoàn nhiếp ảnh điện ảnh quân đội sang Đông Dương quay  
phim, chụp ảnh để giới thiệu về cuộc sống, phong tục, phong cảnh đất nước Việt  
Nam, Lào, Cambodia. Trong hai năm 1917-1918, nhà nhiếp ảnh Tétart đã chụp  
hàng trăm bức ảnh về con người và phong cảnh Huế. Những năm sau đó, một số  
công chức, viên chức, nhà truyền giáo và doanh nhân sống và làm việc tại kinh đô  
Huế đã chụp lại nhiều hình ảnh ghi nhớ về sinh hoạt của vua quan và cuộc sống  
xứ Huế, để lại những hình ảnh có giá trị lịch sử độc đáo. Đặc biệt, tháng 1/1886,  
Đô thống Pháp tại Huế đã cử nhà nhiếp ảnh đến triều đình xin chụp ảnh vua Đồng  
Khánh gởi về Pháp, để tỏ tình giao hiếu giữa hai nước, vua đã “chọn ngày quang  
tạnh, vua mặc mũ, áo đại triều, ngồi ở điện Văn Minh cho quan Pháp chụp ảnh.  
Rồi chuẩn cho in thành 2 tấm ảnh, 1 tấm để lại dâng lên, 1 tấm gửi về Pháp”.(6)  
Đến nay, chúng ta có những bức ảnh chân dung vua Đồng Khánh, vua Thành  
Thái, vua Duy Tân, vua Khải Định, vua Bảo Đại, được chụp dưới nhiều góc cạnh  
6
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
(mặc đại triều ngồi trên ngai hoặc mặc tế phục, thường phục…), hình ảnh một số  
bà phi, đại thần, lăng tẩm, thắng tích, cảnh vật và sinh hoạt của xứ Huế xưa, có một  
số bức ảnh vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị mỹ thuật khá tốt. Ngoài các bức ảnh  
rời, người Pháp còn để lại bộ ảnh quý về lễ Tứ tuần đại khánh của vua Khải Định,  
bộ ảnh tang lễ vua Khải Định, bộ ảnh về lễ tế Nam Giao. Đặc biệt, 10 bức ảnh về  
Huế (cửa Hiển Nhơn, công chúa và người hầu, viên quan lại, hai vị quan, con gái  
Huế, học sinh Đồng Khánh Huế, nhà sư, cổng chùa Thiên Mụ, đài tưởng niệm  
tử sĩ, người dân tộc thiểu số) chụp năm 1931 của W. Robert Moore thường được  
đánh giá là bộ ảnh sắc sảo. Ngoài những bức ảnh màu của W. Robert Moore chụp  
vào năm 1931, còn có một số ảnh màu và đen trắng rất quý do Maynard Owen  
Williams - một phóng viên người Mỹ - chụp tại Huế vào năm 1935. (Xem M.  
O. Williams, “By motor trail across French Indo-China”, đăng trên The National  
Geographic Magazine, số tháng 10/1935, tr. 487). Tư liệu còn cho biết, trước đây,  
Hội Đô thành Hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Hué) có kho lưu trữ khoảng  
9.000 bức ảnh về Đông Dương từ 1885-1944. Hầu hết các bức ảnh về lăng tẩm các  
vị vua triều Nguyễn, ảnh cầu Trường Tiền, cửa Ngọ Môn, chùa Thiên Mụ, nhà thờ  
Phủ Cam, ga Huế, chợ Đông Ba, thiếu nữ Huế, sinh hoạt cung đình và dân gian ở  
Huế… được phổ biến dưới hình thức bưu thiếp (cartes postales), lưu hành trong  
khu vực Đông Dương, gởi sang Pháp và một số nước, giới thiệu khá rộng rãi về  
kinh đô Huế.  
2. Hoạt động của nghệ thuật nhiếp ảnh ở Huế thời kỳ đầu  
Chỉ không lâu sau ngày hiệu ảnh của Trương Văn Sán được thành lập năm  
1878, triều đình nhà Nguyễn liên tục trải qua nhiều biến động, kinh đô Huế bị thất  
thủ (1885), hoạt động của hiệu ảnh đầu tiên gắn liền với Sở Thương Bạc, nơi bị  
Pháp kiểm soát nghiêm ngặt, không để lại dấu ấn gì đáng kể. Nhưng tại khu vực  
gần cửa Thượng Tứ này, chỉ trên con đường rất ngắn, lại là nơi quần tụ của 7 tiệm  
ảnh vào nửa đầu thế kỷ XX.  
Tính từ Sở Thương Bạc vào cửa Thượng Tứ (tức đầu đường Đinh Tiên Hoàng  
hiện nay), có “nhà chụp hình” Tăng Vinh (của gia đình cụ Võ Truy, nhạc gia của  
bác sĩ Lê Khắc Quyến), nhà chụp ảnh Ngọc Châu, tiệm chụp hình Phi Phước (con  
trai của họa sĩ Phi Hổ), tiệm chụp hình và vẽ chân dung của họa sĩ Phi Long. Bên  
kia đường là tiệm chụp hình Tôn Thất Dung, tiệm chụp hình và vẽ chân dung của  
nữ họa sĩ Maria Mộng Hoa, cuối đường là hiệu ảnh Đông Nam của gia đình ông  
Thị Bốn.(7) Đặc biệt, Phi Hổ, Phi Long, Maria Mộng Hoa là ba anh em ruột, cùng  
là họa sĩ và cùng mở ba tiệm chụp ảnh gần kề nhau. Phi Long và Maria Mộng Hoa  
là hai họa sĩ nổi tiếng của Huế, là tác giả một số tranh chân dung có giá trị mỹ  
thuật, ảnh của hai tiệm này có chất lượng cao. Tiệm Đông Nam của ông Thị Bốn có  
7
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
nhiều ảnh về cung đình. Hầu hết các hiệu ảnh đều có phần tiền sảnh trang trí những  
bức ảnh chân dung, ảnh phong cảnh đẹp được sang lớn để thu hút khách; ngoài  
ảnh chụp theo yêu cầu của khách hàng, mỗi tiệm đều bày bán bưu thiếp (cartes  
postales) về những cảnh đẹp nổi tiếng của vùng đất kinh kỳ, do từng tiệm ảnh sản  
xuất. Khu vực ngoài cửa Thượng Tứ mặc nhiên trở thành một con đường nhiếp  
ảnh, vừa mang tính thương mại, vừa có tính nghệ thuật của Huế trong thời kỳ đầu.  
Nửa sau thế kỷ XX, hoạt động nhiếp ảnh tiếp tục phát triển, tại khu vực  
Thượng Tứ, tiệm Phi Hổ chuyển lại cho con trai thành tiệm Phi Phước, tiệm Tôn  
Thất Dung đóng cửa thì tiệm Ái Mỹ thay thế, tiệm Phi Long dời về đường Gia  
Long thì tiệm Gina thế chỗ. Trên trục đường Gia Long (nay là Trần Hưng Đạo),  
trục thương mại chính của Huế, xuất hiện thêm hàng loạt tiệm ảnh, ngoài Phi Long  
còn có thêm một số tiệm nổi tiếng như tiệm ảnh Lê Quang, Tuyết Anh ảnh viện,  
tiệm ảnh Mily, tiệm ảnh La Cảnh Lưu. Đường Ngả Giữa (nay là Phan Đăng Lưu)  
có tiệm ảnh Lê Viêm. Trên đường Lê Lợi, có tiệm ảnh Hương Mỹ trước khách sạn  
Hương Giang của nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Nguyễn Khoa Lợi… Ở các thị trấn Sịa,  
Phú Bài, Cầu Hai, Phò Trạch… đã xuất hiện một số tiệm ảnh phục vụ nhu cầu của  
người dân địa phương.  
Thời kỳ này, ngoài một số người cầm máy vừa hoạt động nhiếp ảnh thương  
mại, vừa hoạt động nhiếp ảnh nghệ thuật như Phi Long, Maria Mộng Hoa, Tôn  
Thất Dung, Nguyễn Khoa Lợi, Lê Quang, Võ Viết Đức…, lần lượt còn có một số  
người hoạt động nghệ thuật nhiếp ảnh bán chuyên nghiệp có những tác phẩm nhiếp  
ảnh có giá trị nghệ thuật, tiêu biểu là các nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Đính, Trần  
Nguyên Cáo, Phan Khắc Tuân, Hoàng Xuân Dục, Thái Nguyên Hạnh…  
Nổi bật trong số nầy là nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Khoa Lợi. Ông sinh năm  
1906, xuất thân trong một gia đình viên chức dòng dõi họ Nguyễn Khoa nổi tiếng,  
sớm có thiên hướng nghệ sĩ, say mê tìm đến với nghệ thuật nhiếp ảnh. Năm 1925,  
ông đã rời bỏ ngành học đồ họa kiến trúc để theo đuổi nhiếp ảnh. Bằng sự đam  
mê, cộng với công phu tìm tòi nghiên cứu qua sách vở, Nguyễn Khoa Lợi đã trở  
thành nhà nhiếp ảnh từ rất sớm. Năm 1933, ông may mắn gặp được nhà nhiếp ảnh  
người Nhật Iwata Nakayama, một nhiếp ảnh gia tốt nghiệp ngành nhiếp ảnh năm  
1918 tại Tokyo, đã có nhiều năm sống ở Mỹ, ở Pháp, từng sáng tác ảnh chân dung  
của Fourita và Kiki de Montparnasse (1926), điều hành tạp chí Nhiếp ảnh ở Tokyo,  
thời gian này đang đi sáng tác tại khu vực Đông Nam Á. Nguyễn Khoa Lợi đã được  
Iwata Nakayama hướng dẫn về kỹ thuật lấy ánh sáng, cách chọn khoảnh khắc bấm  
máy, kỹ thuật ảnh đen trắng và ông đã theo chân Iwata Nakayama đi sáng tác, rèn  
luyện tay nghề khắp một số tỉnh ở Việt Nam, Lào, Cambodia; chuyên chụp những  
bức ảnh về đồng quê, chùa chiền, chân dung trẻ em.  
8
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
Trở về Huế hoạt động trong ngành nhiếp ảnh, Nguyễn Khoa Lợi nổi tiếng  
với những bức ảnh có góc nhìn đẹp, bố cục sáng tạo, kỹ thuật vững như Tùng Thế  
Miếu, Cửa Ngọ Môn, Tát nước, Đạp nước, Đắp đê, Cỡi trâu về nhà…; ông được  
xem là “chủ soái” của nhóm nghệ sĩ nhiếp ảnh ở Huế, gồm Tôn Thất Dung, Lê  
Quang, Trần Nguyên Cáo, Võ Viết Đức… Nguyễn Khoa Lợi vừa đứng tên mở hiệu  
ảnh Hương Mỹ, vừa làm việc tại Ty Kiến thiết Thừa Thiên trong khoảng từ 1950  
đến 1963; đây là thời gian ông có nhiều bức ảnh đẹp về di tích, phong cảnh và con  
người xứ Huế như các bức Lăng Tự Đức, Lăng Cô, Bạch Mã, Cô dâu trẻ, Trầm tư  
trước chùa Thiên Mụ, Tung lưới…, ngoài giá trị nghệ thuật, nhiều tác phẩm của  
ông còn có những đóng góp tích cực giúp trùng tu các di tích cố đô Huế.  
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, dù tuổi cao sức yếu, hoàn cảnh  
sống rất khó khăn, nhưng nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Khoa Lợi vẫn tham gia các  
hoạt động của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, tập hợp các nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh  
cao niên ở Huế, đi thực tế sáng tác tận các vùng xa như Cửa Tùng, Nông trường  
Tân Lâm (Quảng Trị), thường xuyên có tác phẩm đăng trên tạp chí Sông Hương.  
Hơn nửa thế kỷ lao động sáng tạo, ông đã tham gia nhiều cuộc triển lãm trong và  
ngoài nước, từng được giải thưởng Osaka Nhật Bản, hai huy chương vàng, một  
huy chương bạc tại các cuộc triển lãm trong nước, được Ủy ban toàn quốc các  
Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao tặng huy chương “Vì sự nghiệp Văn học  
Nghệ thuật”.  
Khi đã ngoài 90 tuổi, niềm say mê nghệ thuật nhiếp ảnh của ông vẫn không  
vơi cạn. Năm 93 tuổi, ông được nhà nghiên cứu và sưu tầm nhiếp ảnh người Pháp  
François Salem tìm đến nhà để khảo sát các bản phim ảnh được lưu trữ, với ý định  
hợp tác làm một CD ROM hơn 300 bức ảnh nghệ thuật, có thể tiến tới tổ chức  
triển lãm hoặc in ấn tại Pháp. François Salem đã lập dự án để tìm nhà tài trợ thì  
trận lũ lịch sử 1999 ập đến Huế, hầu hết bộ sưu tập phim ảnh quý giá của Nguyễn  
Khoa Lợi đã bị nhấn chìm trong nước lụt. Cùng với con cháu trong gia đình, ông  
đã tập trung chăm lo cứu vớt. May mắn là François Salem đã trở lại, giúp ông  
khôi phục một số bản phim quý giá đã bị ố vàng, và ngay sau đó, được La Maison  
de l’Indochine (Tổ chức Ngôi nhà Đông Dương) ở Pháp đồng ý tài trợ khôi phục  
ảnh để tổ chức triển lãm tại Paris. François Salem đã phóng lớn 59 bức để phối  
hợp với tổ chức Nouvelle Association des Amis du Vieux Hué (Hội Những người  
bạn của Huế Xưa mới) tổ chức triển lãm tại Pháp tháng 4/2001 và sau đó được  
Nhà xuất bản Nouvelles Éditions ở Paris xuất bản thành tập sách Huê 1930-1960:  
Photographies de Loi Nguyên Khoa (Huế 1930-1960: Ảnh Nguyễn Khoa Lợi),(8)  
phổ biến đến công chúng Pháp và gởi về tặng tác giả. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh tài  
hoa Nguyễn Khoa Lợi đã kịp nhìn thấy tác phẩm của mình trước khi từ trần vào  
ngày 14/10/2011, hưởng thọ 95 tuổi.  
9
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
Nguyễn Khoa Lợi là nhà nhiếp ảnh đã hoạt động từ trước thập niên 1930, trải  
qua nhiều giai đoạn biến động của nhiếp ảnh Huế, tiếp tục sáng tác và tham gia  
hoạt động sau thời kỳ tổ chức hội đoàn nhiếp ảnh Huế được thành lập, ông là gạch  
nối của nhiều thế hệ nhiếp ảnh gia ở Huế từ đầu thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI.  
3. Hoạt động của các tổ chức nhiếp ảnh tại Huế  
Hoạt động của nghệ thuật nhiếp ảnh đã có bước phát triển ở Huế vào nửa  
đầu thế kỷ XX, nhưng các tổ chức hội đoàn về nhiếp ảnh lại chậm được tổ chức.  
Mặc dù ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, trên báo Quyết chiến số 18 ra ngày  
15/9/1945, bộ ba Hải Triều - Hoài Thanh - Thanh Tịnh, cùng ký chung một văn  
bản, lấy tư cách Ban Tổ chức kêu gọi “các nhà văn, nhà báo, kịch sĩ, họa sĩ, nhạc  
sĩ và các nhà nhiếp ảnh” tham gia thành lập Liên đoàn Văn hóa Trung Bộ. Tối  
18/9/1945, hơn 50 văn nghệ sĩ đã thống nhất thành lập Liên đoàn Văn hóa Cứu  
quốc Thừa Thiên với 4 ban: văn học, hội họa điêu khắc và kiến trúc, âm nhạc, ca  
kịch. Các nhà nhiếp ảnh đã tham gia hội nghị, nhà nhiếp ảnh kiêm họa sĩ Maria  
Mộng Hoa được cử vào Ủy ban lâm thời Ban Hội họa, nhưng tổ chức nhiếp ảnh  
vẫn chưa có cơ duyên ra đời.  
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, các nhà hoạt động nhiếp ảnh tại  
Huế như Nguyễn Khoa Lợi, Tôn Thất Dung, Trần Nguyên Cáo, Võ Việt Đức, La  
Cảnh Lưu, Ích Sanh, Lê Viêm, Thái Nguyên Hạnh, cùng các nghệ sĩ nhiếp ảnh  
từ miền Bắc về như Nguyễn Khoa Quả, Hồng Sáu, Sĩ Sô và một số phóng viên  
ảnh đã tham gia thành lập Hội Văn nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng phải đến  
khi hợp nhất tỉnh Bình Trị Thiên, sau Đại hội Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên lần  
thứ nhất ngày 5/7/1978, Phân hội Nhiếp ảnh Bình Trị Thiên mới được thành lập,  
các nhà nhiếp ảnh Hồng Sáu, Sĩ Sô lần lượt làm Phân hội trưởng. Phân hội đã kết  
nạp thêm một số nhà nhiếp ảnh trẻ ở Huế như Phạm Văn Tý, Võ Đông Bảy, Phạm  
Bá Thịnh, Huỳnh Mẫn, Lê Đình Liên, Phan Phùng…, với tổng số hội viên gần  
20 người thường xuyên đi sáng tác; có nhiều đợt đi về các vùng nông thôn, miền  
biển, lên các nông trường ở Quảng Trị, Quảng Bình. Tác phẩm nhiếp ảnh giai đoạn  
nầy hướng mạnh về các chủ đề phát triển sản xuất, bảo vệ Tổ quốc, nhưng vẫn có  
những bức ảnh đẹp của giới nghệ sĩ lão thành, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng  
người thưởng ngoạn như Trúc Hương Giang của Nguyễn Khoa Lợi, Giao mùa của  
Võ Việt Đức, Tóc thề của Tôn Thất Dung…  
Lúc này, bên cạnh Phân hội Nhiếp ảnh trực thuộc Hội Văn nghệ Bình Trị  
Thiên, Ty Thông tin Văn hóa Bình Trị Thiên còn có Công ty Nhiếp ảnh Bình Trị  
Thiên, một hình thức doanh nghiệp quốc doanh, hoạt động trên lĩnh vực nhiếp ảnh,  
có một số cửa hiệu chụp ảnh và bán thiết bị ngành ảnh, nhưng hiệu quả hoạt động  
không cao, nên sau ngày chia lại tỉnh, Công ty Nhiếp ảnh đã giải thể.  
10  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
Cuối năm 1989, khi tỉnh Thừa Thiên Huế được lập lại, Phân hội Nhiếp ảnh  
Thừa Thiên Huế do nhà nhiếp ảnh Nguyễn Khoa Quả làm Phân hội trưởng liên  
tục hai nhiệm kỳ (từ 1990 đến 2000). Đây là giai đoạn có thêm một số nhà nhiếp  
ảnh như Võ Đông Bảy, Đặng Văn Trân, Hồ Ngọc Sơn, Lê Đình Song, Đặng Việt  
Hùng, Đồng Minh Đống, Nguyễn Văn Thanh, Lê Quang Phú, Trương Vững, Lê  
Quang Hoàng… gia nhập hội. Dù đời sống còn rất nhiều khó khăn, nhưng Phân  
hội đã tổ chức được một số đợt đi sáng tác dã ngoại ở các vùng xa, khai thác những  
góc nhìn mới lạ của vùng đất xứ Huế, tiêu biểu là đợt đi sáng tác tại Vườn Quốc  
gia Bạch Mã vào thời điểm đường lên Bạch Mã còn băng rừng lội suối gian nan,  
nhưng chuyến đi đã mang về nhiều tác phẩm đẹp như Chân trời mới của Đặng Việt  
Hùng, Hoa đỗ quyên của Nguyễn Khoa Quả, Chiều trên đỉnh Bạch Mã của Đặng  
Văn Trân…  
Một số tác phẩm của nghệ sĩ nhiếp ảnh Huế tham gia triển lãm trong và ngoài  
nước đạt kết quả cao như Mùa hoa phượng của Phạm Văn Tý, Bước chạy trên  
đường của Phạm Bá Thịnh, Bóng tịch dương của Võ Đông Bảy, Khói lam chiều  
của Huỳnh Mẫn… Có 10 nhà nhiếp ảnh được trao giải thưởng Văn học Nghệ thuật  
Cố đô (Lê Đình Liên với chùm ảnh Sức sống Việt Nam, Vết hằn trên thành Huế;  
Phạm Bá Thịnh với chùm ảnh Lễ hội làng Chuồn, Nhịp đời thường, Rộn rã Tam  
Giang, Sóng bạc, Sắc màu mùa xuân; Anh Duyệt với chùm ảnh Chung nhất, Mẹ,  
Tôi yêu chiếc áo dài; Lê Quang Hoàng với chùm ảnh Khúc nhạc đồng quê, Chung  
sức, Thân cò lặn lội, Công việc thầm lặng; Đặng Việt Hùng với chùm ảnh Lung  
linh mắt nước, Phần việc đời thường, Đường lên chợ, Đường nét công nghiệp,  
Thời gian còn lại; Nguyễn Văn Vinh với chùm ảnh Thuyền tình, Nét Huế 1, Hoa  
bâng khuâng; Võ Đông Bảy với tác phẩm Bóng tịch dương; Hồ Ngọc Sơn với Bà  
mẹ quê; Huỳnh Mẫn với Tiếng gọi đàn).  
Ngoài các hoạt động sáng tác, Phân hội còn tổ chức một số cuộc triển lãm tác  
phẩm cá nhân của Nguyễn Khoa Lợi, Võ Đức Quý, Nguyễn Khoa Quả, Sĩ Sô; mở  
lớp hướng dẫn về nghệ thuật nhiếp ảnh dành cho những người yêu thích bộ môn nầy.  
Sau Đại hội năm 2000, tổ chức Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế  
chuyển sang mô hình Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, rồi Liên hiệp các Hội Văn  
học Nghệ thuật, Phân hội Nhiếp ảnh chuyển đổi thành Hội Nhiếp ảnh do nhà nhiếp  
ảnh Phạm Văn Tý làm Chủ tịch hội (từ 2001-2015), với số lượng hội viên ngày  
càng đông, công nghệ nhiếp ảnh thay đổi nhanh từ chụp phim nhựa sang chụp thẻ  
nhớ; kỹ thuật sửa ảnh, phóng ảnh bằng máy tính phát triển… Các hoạt động sáng  
tác, triển lãm, liên hoan nghệ thuật, tham gia các cuộc thi và triển lãm quốc tế diễn  
ra liên tục. Xu hướng sáng tác ngày càng đa dạng hơn.  
Từ năm 2000 đến 2005, các nhà nhiếp ảnh Huế đã đạt 11 giải thưởng quốc  
tế, 13 giải thưởng cấp quốc gia. Từ năm 2006 đến nay, đã có gần 2.000 lượt tác  
11  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
phẩm nhiếp ảnh được công bố thông qua các cuộc triển lãm trong nước, hơn 500  
tác phẩm dự triển lãm quốc tế. Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế đã có trên 20 nhà  
nhiếp ảnh: Võ Đông Bảy, Đồng Minh Đống, Tôn Nữ Thị Hà, Nguyễn Hữu Hài,  
Nguyễn Đăng Hạnh, Lê Quang Hoàng, Võ Đình Huy, Nguyễn Phúc Xuân Lê,  
Huỳnh Mẫn, Nguyễn Thanh Minh, Lê Quang Phú, Hồ Ngọc Sơn, Nguyễn Văn  
Thanh, Nguyễn Quang Thuyết, Đặng Văn Trân, Nguyễn Đức Trí, Hoàng Xuân Trí,  
Hoàng Hữu Tư, Trương Vững… được nhận tước hiệu A.VAPA (Artist of Vietnam  
Association of Photographic Artist - Nghệ sĩ nhiếp ảnh Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt  
Nam); 4 nghệ sĩ Nguyễn Văn Dũng, Phạm Bá Thịnh, Phạm Văn Tý, Trương Vững  
nhận tước hiệu E.VAPA (Nghệ sĩ nhiếp ảnh xuất sắc), nhà nhiếp ảnh Nguyễn Văn  
Tý nhận tước hiệu ES.VAPA (Nghệ sĩ nhiếp ảnh có nhiều cống hiến xuất sắc) của  
Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam; 5 nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Dũng, Ngô Thanh  
Minh, Hồ Ngọc Sơn, Đặng Văn Trân, Phạm Văn Tý nhận tước hiệu A.FIAP (Nghệ  
sĩ nhiếp ảnh thế giới), Phạm Bá Thịnh, Hoàng Xuân Trí được nhận tước hiệu E.  
FIAP (Nghệ sĩ nhiếp ảnh thế giới xuất sắc) của Liên đoàn Nhiếp ảnh Thế giới. Huế  
được xem là một trong những trung tâm nhiếp ảnh mạnh của cả nước.  
Các nhà nhiếp ảnh Huế đã đạt nhiều giải thưởng quốc tế: Hồ Ngọc Sơn  
đạt huy chương vàng của FIAP Anh; Phạm Bá Thịnh đạt huy chương vàng đồng  
đội của FIAP; Ngô Thanh Minh đạt huy chương vàng Singapore, huy chương  
bạc Canada; Nguyễn Hữu Hài đạt huy chương vàng PSS Singapore, huy chương  
vàng Argus Romania, huy chương vàng PSA Mỹ, huy chương bạc VNPS Mỹ, huy  
chương đồng FIAP (ICS Mỹ); Phạm Văn Tý đạt bằng danh dự tại Brazin, giải  
thưởng đồng hạng Ashahi Simbun Nhật Bản; Văn Đình Huy đạt huy chương vàng  
PSA Mỹ; Cảnh Tăng đạt giải 3 cúp Thiên thần Ý; Nguyễn Xuân Hữu Tâm đạt huy  
chương bạc PSA, huy chương đồng Croatia; Trương Vững đạt giải thưởng lớn của  
Ashahi Simbun Nhật Bản…  
Các bộ ảnh Công trình kiến trúc triều Nguyễn của Võ Đông Bảy, Chân dung  
bà mẹ Việt Nam anh hùng của Đoàn Dân; các tác phẩm Pháo hoa, Đánh bắt cá của  
Hồ Ngọc Sơn, Phố cũ rêu phong của Đặng Văn Trân, Thăm Huế của Phạm Văn  
Tý, Đồng cảm của Hoàng Xuân Trí, Chung sức của Nguyễn Hữu Hài, Vượt sóng  
của Trương Vững, Góc nhà vườn của Nguyễn Đức Trí, Ngư phủ của Văn Đình  
Huy, Hầm thoát lũ Tả Trạch của Nguyễn Đăng Hạnh đạt giải thưởng Văn học  
Nghệ thuật Cố đô.  
Các hoạt động nhiếp ảnh có quy mô lớn như tổ chức kỷ niệm 60 năm ngày  
truyền thống nhiếp ảnh Việt Nam (1953-2013), Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực  
Bắc Trung Bộ, giao lưu nghệ thuật nhiếp ảnh 3 thành phố kết nghĩa Hà Nội - Huế  
- Thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật “Huế -  
12  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
những góc nhìn mới” lần thứ nhất, lần thứ hai, tổ chức các hoạt động nhiếp ảnh  
gắn với các kỳ Festival Huế… đã thu hút được nhiều công chúng đến với các tác  
phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật.  
Từ năm 2006, Hội Nhiếp ảnh đã thành lập Câu lạc bộ Nhiếp ảnh nữ Hải Âu,  
tổ chức thành sân chơi của các nhà nhiếp ảnh nữ ở Huế, cuối tháng 8/2015 còn  
có thêm Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Đặng Huy Trứ dành cho những người cao tuổi yêu  
thích nghệ thuật nhiếp ảnh. Ngoài tổ chức hội trực thuộc Liên hiệp các Hội Văn  
học Nghệ thuật tỉnh, trên địa bàn còn có hoạt động của Chi hội Nhiếp ảnh của Hội  
Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tại Huế bao gồm 22 hội viên trung ương, Câu lạc bộ  
Nhiếp ảnh Huế thuộc Nhà Văn hóa Huế và Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Huế Thương do  
những người trẻ yêu thích nhiếp ảnh tự thành lập. Hoạt động nhiếp ảnh giai đoạn  
nầy còn sôi động với những hoạt động giao lưu giữa giới nhiếp ảnh Huế với bạn  
bè các địa phương bạn; nổi bật là hoạt động sáng tác tại Huế của nhà nhiếp ảnh Đào  
Hoa Nữ, người gốc Huế đang chủ trì Câu lạc bộ Nhiếp ảnh nữ Hải Âu tại Thành phố  
Hồ Chí Minh. Đào Hoa Nữ đã xuất bản hai tập sách ảnh Huế - quê mẹ của tôi và  
Huế - thành phố Festival gồm nhiều tác phẩm nghệ thuật về Huế có giá trị đặc sắc.  
Nhiếp ảnh đã có quá trình du nhập và phát triển thành một loại hình nghệ thuật  
khá sớm ở Huế. Đội ngũ các nhà nhiếp ảnh, người yêu thích nghệ thuật nhiếp ảnh  
ngày càng nhiều. Tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật ở Huế, ảnh về Huế đã có những  
đóng góp vừa cung cấp các tư liệu lịch sử, vừa làm phong phú đời sống văn hóa,  
phản ánh những khoảnh khắc sinh động trong cuộc sống của người dân xứ Huế.  
II. Điện ảnh  
1. Sự du nhập điện ảnh vào Huế  
Những người hoạt động điện ảnh trên thế giới đã nhất trí lấy ngày 28/12/1895,  
ngày hai anh em Auguste Lumière và Louis Lumière chiếu phim trong nhà hầm  
của quán Grand Café ở số 14 đại lộ Capucines, Paris, làm ngày khai sinh của điện  
ảnh. Điều bất ngờ thú vị là chỉ chưa đầy một năm sau, năm 1896, cũng chính hai  
anh em người Pháp này đã đến Việt Nam và quay cuốn phim “Le Village de Namo  
- Panorama pris d’une chaise à porteurs” ở một ngôi làng gần Đà Nẵng và sau đó,  
năm 1899, Gabriel Veyre, một học viên của hai người này, sau khi qua Thượng Hải  
đã đến Hà Nội tổ chức buổi chiếu phim miễn phí vào ngày 28/4/1899, dành cho  
một số các quan chức, viên chức, doanh nhân và binh lính Pháp đóng tại Hà Nội.  
Thật ra, trước khi Gabriel Veyre đến tổ chức chiếu phim tại Hà Nội, ở Chợ  
Lớn (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay), một người Pháp khác, ông D’Arc,  
đã tổ chức chiếu “hát hình máy” có bán vé thu tiền, với lời đăng quảng cáo trên  
tuần báo Nam Kỳ số 50, ngày 6/10/1898 có nội dung như sau:  
13  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
“HÁT HÌNH MÁY  
Tại Châu Thành Chợ Lớn  
(Phía trước nhà quan Tổng đốc Chợ Lớn)  
Tối bữa nay và mỗi tối đúng 9 giờ  
Ông D’Arc có hát hình máy hay quá sức  
Bọn này là bọn hát hình cá thể  
Và giỏi hơn hết thảy trên thế gian  
Hát nhiều thứ tuồng  
Như những tích kể sau đây  
(các dòng tiếp theo kể về những vở tuồng)  
Giá tiền đi coi  
Buồng (4 chỗ ngồi)  
Ghế bực nhứt  
Ghế bực nhì  
5 đồng 00  
1 đồng 00  
0 đồng 50  
0 đồng 30  
Ghế bực ba  
Lính bộ, lính thủy và con nít chưa tới 12 tuổi đi coi ngồi ghế bực nhứt, bực  
nhì thì trả nửa tiền mà thôi  
Tám giờ tối mở cửa  
Chín giờ khởi sự hát”  
Tuần báo Nam Kỳ số 51, ngày 13/10/1898 đã đăng bài tường thuật cuộc đi  
xem hát hình máy và cho biết “Bọn này ở lại Châu Thành Chợ Lớn năm bữa mà  
thôi, nên ai muốn đi coi chơi, thì phải đi cho kịp”. Như vậy, hoạt động chiếu phim  
của ông D’Arc chỉ diễn ra một đợt ngắn ngày. Nhưng cũng chính trên tuần báo  
Nam Kỳ số 81, ngày 18/5/1899, lại đăng bài viết Cuộc hát hình máy, cho biết:  
“Tại Sàigòn mỗi đêm đều có hai lớp  
Lớp thứ nhứt khởi sự 6 giờ rưỡi  
Lớp thứ hai  
8 giờ rưỡi  
Ai muốn vào coi thời kẻ lớn phải trả 2 cắc, con trẻ một cắc, thời có chỗ tầm  
thường cho mà ngồi; còn như người langsa hay người bổn quốc nào muốn ngồi  
cho tử tế hơn thì phải trả nửa đồng bạc.”  
Bài báo có đoạn mô tả một vài đoạn phim quay tại Chợ Lớn: “Trong mấy hình  
đó thời ban đầu có một người đàn bà bẻ bông mà ngửi, đoạn hình xe lửa bên Tây  
chạy đến ghé nhà bán giấy có bộ hành lên xuống rất đông đảo lắm; hình xe lửa  
chạy vô đậu tại nhà máy giấy Chợ Lớn, hình hai người say rượu phá quán, có lính  
trấn thủ đến bắt… cùng nhiều hình thức khác nữa xem thiệt khoái chí lắm”. Trên  
14  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
một đoạn tin ngắn khác của tuần báo Nam Kỳ số 83, ra ngày 1/6/1899 cho biết:  
“Ông Léopold Bernard (người tổ chức “cuộc hát hình máy” đăng ở số báo 81 trước  
đó) còn ở lại Sàigòn một ít bữa nữa mà thôi, rồi người sẽ ra kinh đô Huế vì triều  
đình có đòi người ra đặng xem cuộc hát hình.”(9)  
Như vậy, có thể nói D’Arc là người đầu tiên du nhập điện ảnh đến Chợ Lớn  
tháng 10/1898, Gabriel Veyre là người đã du nhập điện ảnh đến Hà Nội tháng  
4/1899 và Léopold Bernard là người du nhập điện ảnh đến Huế khoảng tháng  
6/1899. Người đầu tiên tiếp cận với điện ảnh tại Huế là vua (Thành Thái) và một  
số đại thần hoặc người thân cận vua.  
Những thước phim trình chiếu thời đó đều là phim câm. Báo Nam Kỳ số 51  
ngày 13/10/1898 tường thuật buổi “hát hình máy” của ông D’Arc cho biết: “Thật  
khi thấy mấy cái hình nhỏ nhỏ đó nó đi, nó nói chuyện, đầu ngó qua ngó lại, còn  
hai tay múa lia múa lịa, ai cũng tưởng là hình sống. Nó nhảy nó múa cũng chẳng  
thua chi mấy bợm nghề nhảy múa vậy, lại nó còn nhiều tuồng, nhiều cách xem ra  
thật lấy làm lạ kỳ quá sức”. Có lẽ buổi chiếu của Léopold Bernard mà vua nhà  
Nguyễn yêu cầu đưa ra Huế đã có kết hợp thêm phần phụ diễn bằng “máy nói”  
(máy hát) trước khi chiếu phim, như đã diễn ra ở Sài Gòn mà báo Nam Kỳ số 81,  
ngày 18/5/1899 đã mô tả: “Khi thiên hạ vào coi vừa đông một chút, thì người chủ  
cuộc ấy vặn cái máy nói (langsa kêu là phonographe) tức thì điển khí chạy làm cho  
máy kêu nhiều bài bản, như đánh đầu tuồng nghe hay lắm… Mỗi lớp có chừng bảy  
đầu tuồng mà thôi, song khác nhau. Khi vừa xong thì người chủ sự mới khởi sự  
hát hình máy. Lúc ấy đèn trong rạp đều tắt hết song ai nấy cũng thấy nhau được,  
vì có yến sáng điển khí chói lòa ra, nên chẳng có sự chi hỗn loạn. Đó rồi tại cái  
màng bằng vải trắng che ở trước, liền thấy có hiện hình ra như thật vậy, song bởi  
tài năng kẻ bày nó ra nên bắt muốn coi hoài”.  
Từ khi điện ảnh du nhập vào Sài Gòn, Hà Nội, Huế đến thời điểm chiến tranh  
thế giới lần thứ nhất năm 1914, hoạt động chiếu bóng ở Việt Nam chỉ có tính cách  
tự phát, nhất thời; người Pháp chưa thực sự coi trọng việc phổ biến điện ảnh như  
một công cụ để tuyên truyền. Phải đến cuối năm 1916, khi Albert Sarraut, người  
từng làm Toàn quyền Đông Dương từ tháng 1/1911 đến tháng 8/1914, nổi tiếng  
với tư tưởng “khai hóa” được tái bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương lần thứ  
hai, điện ảnh mới có cơ hội phổ biến tại Đông Dương. Sau một thời gian về lại  
Pháp, tận mắt chứng kiến người Đức sử dụng điện ảnh để phục vụ chiến tranh, vì  
vậy ngay khi chưa về Việt Nam nhận nhiệm vụ, Albert Sarraut đã vận động chính  
phủ Pháp cử một đoàn quay phim chụp ảnh quân đội sang làm phim và chiếu phim  
tại Việt Nam. Trong tác phẩm La Mise en Valeur des Colonies Françaises, Albert  
Sarraut đã cho biết: “Tôi nghĩ rằng không ai có thể phủ nhận những thành quả mà  
chúng tôi đã đem lại cho đất nước, cho nhân dân Annam. Và không chỉ có thế,  
15  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
tôi đã đề nghị chính phủ Pháp cử một đoàn quay phim và chụp ảnh tất cả những  
gì liên quan đến tài nguyên kinh tế, phong tục tập quán của dân tộc Annam, giới  
thiệu và giúp thế giới hiểu biết về đất nước và con người của xứ sở nầy một cách  
trung thực.”(10)  
Đoàn quay phim chụp ảnh chỉ có hai người, do nhà nhiếp ảnh kiêm chiếu  
phim Tétart làm trưởng đoàn và nhà quay phim Brun, nhưng từ 1917 đến 1918, họ  
đã hoàn thành 20 phim, có 16 phim làm tại Việt Nam, trong đó có 4 phim làm về  
Huế và một phim liên quan đến Huế và Hà Nội, gồm:  
- Phim Nam Giao, quay lễ tế Nam Giao của triều đình nhà Nguyễn.  
- Phim Lăng tẩm ở Huế, giới thiệu các lăng vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu  
Trị, Tự Đức.  
- Phim Huế, kinh đô của triều đình Annam, giới thiệu Huế với hình ảnh của  
sông Phủ Cam (sông An Cựu), Sông Hương, cung điện, Hoàng thành, khu người  
Âu và lăng tẩm các vua.  
- Phim Sinh hoạt trong cung đình Huế, giới thiệu sinh hoạt của hoàng cung,  
những buổi thiết triều của vua Khải Định, các vị thượng thư và một số nghi lễ của  
triều đình nhà Nguyễn.  
- Phim Nước Pháp ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ, quay dịp đón Toàn quyền Albert  
Sarraut đến Hà Nội, thăm Huế, giới thiệu các dinh thự ở Hà Nội, cung điện và triều  
đình Huế.  
André Touzet trong bài viết “Une Oeuvre de guerre et d’après-guerre. La  
mission cinématographique du Gouvernement de L’Indochine” đăng trên Revue  
Indochinoise, tập XXXI còn cho biết phim được Brun “in tráng ngay tại Việt Nam  
bằng thủ công trong những điều kiện khí hậu nóng làm cháy, dính phim, nước  
nhiều bụi làm xước sát phim”; hoạt động chiếu phim do Tétart phụ trách “phải đi  
chiếu phim tuyên truyền lưu động khắp nơi, thành thị, vùng quê, miền núi, hải đảo,  
biên giới với đồ đoàn lủng củng nặng tới 3.000kg đựng trong 10 hòm, hòm nặng  
nhất tới 700kg đựng một moteur 6 ngựa, và một dynamo 70volt. Những đồ đoàn  
máy móc nầy được vận chuyển bằng ô tô, hoặc thuyền, voi, ngựa, và bắt phu ở các  
địa phương đi khuân vác”. André Touzet đã tường thuật một buổi chiếu phim khá  
chi tiết:  
“Trên một bục cao 2,5m có mái tranh che mưa nắng là phòng đặt máy chiếu.  
Cách đó 25m là màn ảnh rộng 7m dài 10m, trên đó hình phim có thể xem cả hai  
mặt trái và phải, sau phòng máy 15m, hơi lệch về phía bên phải là một túp lều dài  
10m, rộng 4m, trong đó đặt moteur, máy biến điện, bình nước làm nguội máy và  
chỗ ngồi của những người phục vụ và cảnh sát.  
16  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
Phía trước phòng máy chiếu là khán đài có mái che dành cho người châu Âu  
và quan chức, kỳ hào địa phương. Bên phải phòng máy chiếu, người thông ngôn  
cầm loa đứng trên bục.  
Để làm cho buổi chiếu phim thêm hấp dẫn, các quan chức địa phương thường  
cắm cờ Pháp, cờ các nước Đồng Minh, cờ đuôi nheo Annam, treo lồng đèn làm  
bằng giấy. Quanh màn ảnh và khán đài có kết lá, cài hoa.  
Đã đến 8 giờ rưỡi tối. Hai tiếng còi vang lên: đó là hiệu lệnh khởi động máy  
nổ. Đèn điện bật sáng chưng… Một lát sau, tiếng người thông ngôn thông báo về  
buổi chiếu phim. Một hồi chuông nữa… Buổi chiếu bắt đầu. Hình ảnh phim có  
khuôn khổ cao 6,20m x 4,80m hiện lên rất rõ trên màn ảnh được căng rất cao để  
mọi người có thể đứng xem được. Thông thường có từ 6 đến 10 nghìn người xem  
trong một buổi chiếu.  
Một buổi chiếu thường kéo dài khoảng 2 giờ rưỡi (gồm chiếu phim tài liệu,  
thời sự xen lẫn phim khôi hài), giữa chừng có 10 phút nghỉ giải lao. Về nguyên tắc,  
ở mỗi địa điểm, đoàn chiếu liền 3 tối với 3 chương trình khác nhau.  
Ở mỗi địa điểm quanh bãi chiếu phim, các hàng rong bán nước chè và thức  
ăn. Một số người còn dựng lều và kê giường để cho những người ở xa đến ngủ trọ  
nếu họ muốn ở lại xem liền ba tối cinéma.”(11)  
Vào lúc này, tại Huế, gia đình anh em nhà Morin (Morin frères), chủ khách  
sạn Morin ở đường Jules Ferry (nay là đường Lê Lợi) đang làm ăn khá phát đạt.  
Năm 1918, khi Wladimir Morin, người có năng lực tổ chức kinh doanh nhất trong  
gia đình này giải ngũ, ông đã tập trung mở rộng các hoạt động dịch vụ mang tính  
đột phá của khách sạn Morin, hình thành bên cạnh dịch vụ khách sạn một dạng  
tổng đại lý cung cấp hàng tiêu dùng đa dạng, bán trực tiếp hoặc cung cấp qua yêu  
cầu từ thư tín cho người Pháp và giới thượng lưu, với khẩu hiệu “Người ta có thể  
sinh ra trong một chiếc nôi của Morin và chết trong một quan tài của Morin” (On  
peut naître dans un berceau Morin et mourir dans un cercueil Morin), biến Morin  
thành một trung tâm bách hóa, một trung tâm cộng đồng của người Pháp; một nhà  
khách của Tòa Khâm sứ Huế, của triều đình Huế; nơi phát hành tập san Đô thành  
hiếu cổ (BAVH: Bulletin des Amis du Vieux Hué). Vì vậy, ngoài 72 phòng ngủ, 1  
tiệm ăn, 1 nhà hàng bách hóa, Morin còn mở thêm một thư viện và một rạp chiếu  
bóng. Rạp Cinéma Morin là cơ sở chiếu bóng sang trọng đầu tiên ở Huế, phục vụ  
chiếu phim 2 đêm trong mỗi tuần. Morin còn nổi tiếng trong giới điện ảnh thế giới  
với sự kiện là nơi danh hài Charlot (Charlie Chaplin) và vợ là Paulette Godard  
chọn đến hưởng tuần trăng mật năm 1936.  
Phim được phổ biến trong thập niên 1920 chủ yếu là phim Pháp, thuộc hệ  
thống phát hành của các hãng Biograp và Charies Pathé. Từ năm 1923, lần đầu  
17  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
tiên có phim do người Việt Nam thực hiện thông qua Công ty Phim và Chiếu bóng  
Đông Dương (IFEC) với phim Kim Vân Kiều, do diễn viên là đào kép tuồng của  
Ban Quảng Lạc (Hà Nội), quay ngoại cảnh tại Hà Nội và vùng ngoại thành, làm  
hậu kỳ tại Pháp, nhưng khi khởi chiếu đã bị dư luận phản ứng. Hai phim Toutou  
(phim hề) và Huyền thoại Bà Đế của hãng này cũng liên tục thua lỗ, buộc phải  
dừng hoạt động sản xuất phim. Năm 1925, ông Nguyễn Lan Hương, chủ tiệm ảnh  
Hương Ký ở Hà Nội, đã mời một chuyên viên người Pháp giúp làm phim, đến Huế  
thực hiện hai bộ phim tài liệu: phim Ninh Lăng dài 2.000m, quay cảnh đám tang  
vua Khải Định; phim Tấn tôn đức Bảo Đại dài 800m, quay lễ lên ngôi của vua  
Bảo Đại. Sau đó, năm 1926, lúc Phan Bội Châu bị Pháp đưa về Huế an trí, ở tại  
nhà Nguyễn Bá Trác, Thị lang Bộ Binh của triều Nguyễn; Hương Ký đã phối hợp  
với Nguyễn Bá Trác làm phim về nhà chí sĩ, với ý định không tốt, nhưng rất tiếc là  
Phan Bội Châu đã đồng ý thực hiện.  
Báo Trung Bắc tân văn tháng 1/1926 đã đăng tin: “Hôm 6 - 1 vừa rồi, một  
nhà chụp ảnh ở Hà thành có đến nơi công thự của quan Binh bộ thị lang Nguyễn  
Bá Trác là nơi tạm trú của ông Phan Bội Châu, xin làm phim chớp ảnh, được ông  
Phan Bội Châu cho làm”. Báo còn mô tả chi tiết ba đoạn phim: “Hồi thứ nhất là  
lúc tiên sinh còn ở nước nhà… Ông Phan mặc quốc phục, chít khăn lượt Bắc, bận  
áo Sa tàu, chân đi giày hạ, tay cầm quạt Thanh, đứng diễn thuyết với bọn sinh đồ  
hơn 30 người về cái chủ thuyết Pháp Việt đề huề”, “Hồi thứ nhì… mặc đồ Trung  
Hoa, bận một cái áo nhiễu màu xanh lợt, dài lướt thướt đến tận gót chân, ngồi trên  
chiếc ghế bằng gỗ mun chạm lọng, trông chẳng khác gì một nhà thượng lưu nhân  
vật nước Tàu vậy”, “Hồi thứ ba là lúc tiên sinh trở về tổ quốc…, bận đồ nỉ màu  
nâu sẫm, may theo Ăng-lê, đi một đôi dày đen mốt Hoa Kỳ, cổ thắt cravate. Tiên  
sinh lại có viết mấy dòng chữ đại tự để chụp vào trong phim ảnh nữa”. Cuốn phim  
được quảng cáo sẽ chiếu ở rạp Cinéma Tonkinois, phố Hàng Quạt, Hà Nội, sau khi  
được quan Thống sứ cho phép cùng lúc với các phim Tấn tôn đức Bảo Đại và Ninh  
Lăng.(12) Đến nay, hai phim về lễ tang vua Khải Định và lễ lên ngôi của vua Bảo  
Đại vẫn còn, nhưng tập phim về Phan Bội Châu không tìm thấy, có thể Hương Ký  
và Nguyễn Bá Trác đã tự hủy trước ý kiến chê trách của dư luận.  
Sau rạp chiếu bóng Morin, Huế còn có thêm rạp Richard ở đường Ngả Giữa  
(nay là đường Phan Đăng Lưu), đoạn gần con hẻm nối ra bờ hồ. Thống kê về điện  
ảnh Việt Nam cho biết, năm 1927 cả nước đã có 33 rạp chiếu bóng ở các đô thị:  
Hà Nội 4 rạp, Hải Phòng 2 rạp, Huế 2 rạp, Chợ Lớn 4 rạp, Sài Gòn 4 rạp, Cần Thơ  
2 rạp… Sau 1930, điện ảnh đã được phổ cập tương đối rộng rãi ở thành phố Huế.  
Phim Lễ tấn tôn Thái tử Bảo Long đã ra đời năm 1939. Một số gia đình thượng lưu  
đã sắm máy quay phim, máy chiếu phim, chiếu một số phim Huế Thơ, Huế Mộng,  
phim hề Charlot, phim Tarzan…(13).  
18  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
2. Hoạt động điện ảnh tại Thừa Thiên Huế  
Thời kỳ mới du nhập, điện ảnh Việt Nam, điện ảnh ở Huế chủ yếu do người  
Pháp chi phối và trực tiếp tổ chức hoạt động. Sau đó, cùng với sự phát triển của  
công nghệ làm phim, chiếu phim, điện ảnh ngày càng được phổ cập rộng rãi; người  
Việt Nam đã trực tiếp tham gia hoạt động điện ảnh. Tại Huế, sau tháng 7/1951,  
doanh nhân Nguyễn Văn Yến tiếp nhận khách sạn Morin theo chuyển nhượng của  
gia đình này, rạp chiếu bóng Morin chuyển thành rạp Nguyễn Văn Yến; rạp Richard  
sau đó cũng đổi chủ và chuyển thành rạp chiếu bóng Việt Nam Phim.  
Ngoài hai rạp ban đầu, trên đường Trần Hưng Đạo có thêm rạp chiếu bóng  
Tân Tân; bên kia cầu Gia Hội, trên đường Gia Hội (nay là Chi Lăng) có hai rạp  
chiếu bóng Châu Tinh, Gia Hội (về sau đổi thành Khải Hoàn, rồi Hoàn Mỹ); trong  
khu vực Thành Nội, tại đường Lục Bộ (nay là Nguyễn Chí Diểu), Hội Hướng đạo  
có rạp Lửa Hồng, chủ yếu dành cho học sinh và thanh thiếu nhi. Khi rạp Việt Nam  
Phim và rạp Nguyễn Văn Yến đóng cửa khoảng năm 1957, thì Tân Tân trở thành  
rạp chiếu bóng thu hút khách nhất. Đầu thập niên 1960, trên đường Trần Hưng Đạo  
có thêm rạp Hưng Đạo với quy mô 999 ghế, thường xuyên chiếu phim và có lúc tổ  
chức biểu diễn ca múa nhạc.  
Thời kỳ này những rạp chiếu bóng đều được cải tiến và có bộ mặt kiến trúc  
khá khang trang, dần dần đã trang bị âm thanh nổi (Stéréo), màn ảnh rộng “đại vĩ  
tuyến” (Cinémascope), có màu sắc đẹp (Technicolor rồi Eastmancolor); về sau  
phim đã có phụ đề Việt ngữ hay chuyển âm tiếng Việt đối với phim nước ngoài.  
Hầu hết các rạp (trừ Lửa Hồng) đều chiếu từ 2 đến 3 suất sáng, chiều, tối. Riêng  
rạp Tân Tân có giai đoạn chiếu theo dạng “thường trực”: mỗi phim được chiếu  
liên tục, khi vừa hết thì sẽ chiếu lại từ đầu, khách có thể mua vé vào xem bất kỳ  
lúc nào. Trước khi phim chính bắt đầu, có khoảng 10 phút chiếu phim thời sự của  
chính quyền Sài Gòn sản xuất.  
Mỗi phim thường chiếu trong một tuần, khách mua vé được phát kèm theo  
tờ “progamme” (chương trình) được in ấn và trình bày đẹp, có tóm tắt nội dung  
phim, ảnh các tài tử, ngày giờ chiếu của rạp. Trước mỗi rạp đều có pa-nô lớn vẽ  
cảnh phim; có phim còn dựng thêm pa-nô lớn cắt hình những diễn viên nổi tiếng,  
đặt trước tiền sảnh để tạo sức hấp dẫn. Vì vậy, thời kỳ này ở Huế xuất hiện nhiều  
họa sĩ chuyên vẽ tranh quảng cáo ciné mà nổi tiếng nhất là họa sĩ Lê Vinh. Phim  
ảnh thời kỳ này rất đa dạng, có đủ các thể loại như tình cảm, tâm lý xã hội, hành  
động, kiếm hiệp, kinh dị… do các hãng phim từ Sài Gòn cung ứng, hầu hết là  
phim Pháp, Ý, Mỹ, Hồng Kông, Đài Loan... với các ngôi sao nổi tiếng như Alain  
Delon, Brigitte Bardot, Sylvie Vartan (Pháp), Claudia Cardinal, Rossana Podesta  
(Ý), James Dean, Marilyn Monroe (Mỹ), Lý Tiểu Long, Khương Đại Vệ, Trịnh  
Phối Phối (Hồng Kông)…  
19  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
Hoạt động chiếu bóng phát triển, nhưng các hãng làm phim đều đặt tại Sài  
Gòn, Huế chỉ đôi lúc được chọn để quay một số phim; tiêu biểu là:  
- Loạt phim có tính phóng sự, thực hiện trong giai đoạn 1958-1960 như Non  
nước Hương Bình, Múa Tứ linh, Điệu hò miền Trung…  
- Phim Hồi chuông Thiên Mụ do hãng phim Tân Việt thực hiện năm 1957,  
phát hành năm 1959, dựa theo tiểu thuyết lịch sử Hồi chuông Thiên Mụ của Phan  
Trần Chúc, diễn tả cuộc tình gay cấn của một quận chúa sắc nước hương trời dưới  
thời vua Tự Đức, do nữ diễn viên Kiều Chinh đóng vai cô Công Tôn Nữ Như  
Ngọc, Lê Dân đạo diễn, Phạm Duy và Nguyễn Hữu Ba soạn nhạc. Đây là bộ phim  
nổi tiếng và “ăn khách” ở miền Nam, đã làm Kiều Chinh nổi danh ngay khi mới  
đóng bộ phim đầu tiên.  
Sau ngày đất nước thống nhất, dưới thời bao cấp, bị chi phối bởi chính sách  
cải tạo công thương nghiệp, điện ảnh tư nhân phải ngừng hoạt động. Rạp Hưng  
Đạo do Ty Thông tin Văn hóa, sau đó là Phòng Văn hóa thành phố Huế quản lý,  
chuyển đổi chức năng thành Nhà Văn hóa. Rạp Lửa Hồng đóng cửa. Các rạp chiếu  
bóng Tân Tân, Châu Tinh, Gia Hội được tổ chức lại thành Công ty hợp doanh  
(Nhà nước và chủ rạp) Chiếu bóng Huế. Khi thành lập tỉnh Bình Trị Thiên, còn có  
thêm Công ty Phát hành Phim và Chiếu bóng (Fafim) Bình Trị Thiên, trực thuộc  
Ty Thông tin Văn hóa, hoạt động trong hệ thống Quốc doanh Phát hành Phim trung  
ương (Fafim Việt Nam). Fafim Bình Trị Thiên là đơn vị phát hành, cung cấp nguồn  
phim và điều hành một số rạp tại các thị xã Quảng Trị, Đông Hà, Đồng Hới và một  
rạp nhỏ tại trụ sở công ty trên đường Hai Bà Trưng, Huế (thường được gọi là rạp  
Fafim hoặc rạp Hai Bà Trưng), có hệ thống các đội chiếu bóng lưu động, thường  
xuyên hoạt động tại vùng núi, vùng nông thôn, vùng biển, đưa phim ảnh về vùng  
sâu, vùng xa. Nguồn phim thời kỳ này, ngoài một số ít phim Việt Nam, còn lại chủ  
yếu là phim nhập từ các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa; phim nước ngoài  
phải có người thuyết minh lời thoại.  
Với phương thức quản lý kinh doanh mang tính hành chính vào thời kỳ bao  
cấp, trừ hoạt động chiếu bóng lưu động tương đối có hiệu quả, sinh hoạt điện ảnh ở  
Huế đã xuống cấp. Sau khi tỉnh Thừa Thiên Huế được lập lại cuối năm 1989, Công  
ty hợp doanh Chiếu bóng Huế được sáp nhập với hệ thống Fafim trên địa bàn, tổ  
chức thành Công ty Phát hành Phim và Chiếu bóng Thừa Thiên Huế, nhưng hoạt  
động điện ảnh vẫn không được đầu tư phát triển, nguồn phim bị hạn chế, phương  
thức kinh doanh lỗi thời, các rạp chiếu bóng ngày càng xuống cấp, hư hỏng. Đặc  
biệt, từ khi loại hình Video phát triển, công nghệ truyền hình, mạng internet bùng  
nổ, hoạt động chiếu bóng bị ngưng trệ, các rạp Gia Hội (tên mới của rạp Châu  
Tinh), Hoàn Mỹ ngưng hoạt động vì không thu hút được khách, rạp Đông Ba (tên  
20  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
mới của rạp Tân Tân) chỉ hoạt động cầm chừng. Công ty Phát hành Phim và Chiếu  
bóng chuyển đổi thành Công ty Điện ảnh Thừa Thiên Huế, hình thành thêm hệ  
thống đại lý băng hình Video, nhưng mô hình đại lý băng hình chỉ tồn tại trong một  
thời gian ngắn.  
Trong bối cảnh đó, thỉnh thoảng Huế được các hãng phim lựa chọn để làm  
ngoại cảnh quay một số đoạn như phim Đêm hội Long Trì của đạo diễn Hải Ninh,  
thực hiện năm 1989, khai thác cung điện Huế để dựng lại hình ảnh thời vua Lê  
chúa Trịnh; phim Hẹn gặp lại Sài Gòn của đạo diễn Long Vân hoàn thành năm  
1990, tái hiện một thời cậu học trò Nguyễn Sinh Cung (sau này là Chủ tịch Hồ Chí  
Minh) sống ở Huế… Nổi bật là ba bộ phim Cô gái trên sông của đạo diễn Đặng  
Nhật Minh thực hiện năm 1987, phim Trăng nơi đáy giếng của đạo diễn Vinh Sơn  
năm 2007 và phim Indochine (Đông Dương) của đạo diễn Régis Wargnier công  
chiếu lần đầu năm 1992.  
Phim Cô gái trên sông do chính Đặng Nhật Minh, một người Huế ở Hà Nội  
viết kịch bản, Trịnh Công Sơn viết nhạc, được quay tại Huế, diễn tả tình cảnh của  
cô gái giang hồ trên Sông Hương từng cứu giúp và yêu người thanh niên hoạt động  
cách mạng tại nội thành, từng hứa sẽ quay lại tìm cô sau ngày cách mạng thành  
công. Sau năm 1975, khi từ trại “phục hồi nhân phẩm” trở về, cô đã cất công tìm  
người thanh niên nhưng đã bị anh từ chối và tìm mọi cách bưng bít câu chuyện khi  
có bài báo đề cập. Dù có lần bị phê phán vì diễn tả người cán bộ cách mạng bội bạc,  
người lính Sài Gòn chung thủy, nhưng phim lại được công chúng đón nhận. Diễn  
viên Minh Châu vào vai cô gái giang hồ là diễn viên được hâm mộ nhất lúc bấy giờ  
và phim được trao giải Bông sen bạc tại Liên hoan Phim năm 1987.  
Phim Trăng nơi đáy giếng của đạo diễn Vinh Sơn, cũng người Huế, ở Thành  
phố Hồ Chí Minh, dựng theo truyện ngắn cùng tên của Trần Thùy Mai, do hãng  
phim Giải phóng liên kết với Alliance Film của Pháp sản xuất, được thực hiện tại  
Huế năm 2007. Phim xoay quanh bi kịch của một phụ nữ Huế hết mực yêu chồng,  
chiều chồng, vì vô sinh nên để chồng đến với người phụ nữ thứ hai và gởi gắm tình  
yêu của mình vào hình ảnh đồng bóng đầy hư ảo. Phim tạo ra một số tranh luận  
trong công chúng về chất Huế, được phát hành tại Pháp, Đức, Australia, Tây Ban  
Nha…, được trao giải Cánh diều bạc 2008. Diễn viên Hồng Ánh trong vai Hạnh  
được trao giải nữ diễn viên chính xuất sắc tại Liên hoan phim Dubai năm 2009.  
Phim Indochine (Đông Dương) là bộ phim Pháp, lấy bối cảnh Việt Nam thời  
kỳ 1930-1954, được thực hiện tại Việt Nam, chủ yếu là Hạ Long và Huế. Chuyện  
phim xoay quanh cuộc đời của hai mẹ con bà Éliane (do Catherine Deneuve đóng)  
và cô con nuôi người Việt Camille (do Phạm Linh Đan đóng). Camille đã làm tất  
cả để đi theo người tình Jean Baptiste. Do phải chạy trốn sau biến cố Camille bắn  
21  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
chết viên sĩ quan mộ phu người Pháp, cả hai bị bắt, con trai của họ được bà Éliane  
nuôi dưỡng khi Jean Baptiste mất và Camille đi theo cách mạng. Cuối cùng cả ba  
người gặp nhau nhân hội nghị Genève 1954. Phim đã được trao giải Phim ngoại  
ngữ hay nhất Oscar lần thứ 65, Catherine Deneuve được đề cử vào hạng mục vai  
nữ chính. Đây là đề cử Oscar duy nhất của bà tính đến 2009.  
Gần đây, cuối tháng 10/2014, Lotte Cinema Hàn Quốc đã đầu tư tại Huế một  
cụm rạp Lotte Cinema Huế hiện đại, theo phong cách nhỏ gọn, với 3 phòng chiếu  
400 ghế thiết kế đẹp, có tiện nghi tốt, áp dụng công nghệ 2D-Digital và 3D-Digital,  
đặt tại tầng 4 siêu thị Big C Phong Phú, chiếu 3 suất mỗi ngày, giới thiệu được  
nhiều tác phẩm điện ảnh có chất lượng của Việt Nam và thế giới; đang có tác dụng  
thu hút khán giả, nhất là giới trẻ đến với nghệ thuật điện ảnh; tuy nhiên, mức độ  
ảnh hưởng trong công chúng Huế vẫn còn hạn chế.  
Trải qua hơn 100 năm kể từ thời mới du nhập, điện ảnh ở Thừa Thiên Huế  
đã từng có thời kỳ phát triển mạnh, có lúc đã suy thoái, ngưng trệ và mới chớm  
chuyển động trở lại, trong điều kiện môi trường xã hội và nhu cầu thưởng ngoạn  
nghệ thuật đã thay đổi nhiều. Để tạo được bước phát triển mới, điện ảnh Huế còn  
phải khắc phục những trì trệ để vươn tới một chặng đường mới, với nhiều nỗ lực  
hơn nữa.  
N X H  
CHÚ THÍCH  
(1) Tư liệu của Học viện Nhiếp ảnh, nguồn: photolife.vn. Bức ảnh “Đồn binh xứ Đàng Trong Non  
Nay” từng được nhà nghiên cứu Thái Văn Kiểm giới thiệu là bức ảnh “Đồn Hai” trong tác  
phẩm Đất Việt trời Nam, Nxb Nguồn sống, Sài Gòn, 1960.  
(2) Aubaret, quan chức Pháp, người hướng dẫn sứ bộ Phan Thanh Giản, giỏi chữ Hán, khá  
tiếng Việt, đã dịch Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Hoàng Việt luật lệ ra  
Pháp ngữ.  
(3) Phạm Phú Thứ. Nhật ký đi Tây (bản dịch của Quang Uyển), Nxb Đà Nẵng, 1999, tr. 150-152.  
(4) Nhóm Trà Lĩnh. Đặng Huy Trứ, con người và tác phẩm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990,  
tr 557-558.  
(5) Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, Tập 8 (bản dịch Ngô Hữu Tạo, Nguyễn  
Mạnh Duân…), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 287.  
(6) Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, Tập 9 (bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, Phan  
Huy Giu…), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 216.  
(7) Quế Chi Hồ Đăng Định. Thượng Tứ ngày xưa nhớ nhớ… quên quên, Nxb Thuận Hóa, Huế,  
2013, tr. 93.  
(8) Francois Salem. “Loi Nguyên Khoa à Huê - A propos d’une rencontre”, Huê 1930-1960:  
Photographies de Loi Nguyên Khoa, Nxb Nouvelles Éditions, Paris, 2001, tr. 13-16.  
(9) Sâm Thương. “Điện ảnh Việt Nam thời khai sinh”, trong Quán Văn 004, Đặc san văn học,  
Tập 4 tháng 1 năm 2012, Nxb Thanh niên, Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr. 144-148.  
22  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) . 2016  
(10) Albert Sarraut. La Mise en Valeur des Colonies Françaises, Nxb Payot, Paris, 1923, tr. 17.  
(11) Theo Sâm Thương, “Điện ảnh Việt Nam thời khai sinh”, Sđd, tr 154-155 .  
(12) Trần Viết Ngạc. “Cụ Phan đóng phim ở Huế năm 1926”, tạp chí Sông Hương, Huế,  
tháng 8/1983.  
(13) Quế Chi Hồ Đăng Định, Sđd, tr.109-110.  
TÓM TẮT  
Nhiếp ảnh được du nhập và phát triển thành một loại hình nghệ thuật khá sớm ở Huế.  
Theo sử sách ghi lại thì vào năm 1878, sau khi đi học ở phương Tây về, Trương Văn Sán đã trình  
lên triều đình “phép chụp ảnh” và được vua Tự Đức cho phép mở một cơ sở chụp ảnh đầu tiên  
tại Huế để phục vụ triều đình, các quan lại và dân chúng.  
So với nhiếp ảnh, điện ảnh du nhập vào Huế muộn hơn khoảng 20 năm. Theo báo chí,  
D’Arc là người đầu tiên du nhập điện ảnh vào Chợ Lớn khoảng tháng 10/1898; Gabriel Veyre là  
người đưa điện ảnh đến Hà Nội vào tháng 4/1899 và Léopold Bernard là người đem điện ảnh  
đến Huế vào tháng 6 cùng năm.  
Trải qua quá trình phát triển, các bộ môn nhiếp ảnh và điện ảnh ở Thừa Thiên Huế đã sản  
sinh nhiều nghệ sĩ tên tuổi với nhiều tác phẩm nổi tiếng không chỉ trên phương diện nghệ thuật  
mà còn là những tư liệu quý giá giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa-lịch sử của vùng  
đất cố đô.  
ABSTRACT  
PHOTOGRAPHY AND CINEMATOGRAPHY IN THUA THIEN-HUE  
Photography was introduced and developed quite early in Hue. According to historical  
records, in 1878, on returning from his study in Europe, Trương Văn Sán introduced “photography”  
to the court, and Emperor Tự Đức permitted him to open a photo studio in Hue to serve the court,  
officials and the public.  
Cinematography was introduced to Hue about 20 years later than photography. According  
to the press, D'Arc was the first to introduce cinema to Cholon in October 1898; Gabriel Veyre  
introduced cinema to Hanoi in April 1899, and Léopold Bernard was the first to introduce cinema  
to Hue in June the same year.  
From then on, Thua Thien Hue has introduced numerous artists in photography and  
cinematography with a lot of famous art works which are valuable materials for the study on Huế’s  
culture and history.  
pdf 20 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 23740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vài nét về lịch sử nhiếp ảnh và điện ảnh ở Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_net_ve_lich_su_nhiep_anh_va_dien_anh_o_thua_thien_hue.pdf