Chính sách của Thái Lan đối với dân tộc thiểu số
Chính sách của Thái Lan đối với dân tộc thiểu số
Trần Văn Hà1, Nguyễn Anh Tuấn2
1, 2 Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Email: [email protected]
Email: nguyenanhtuan.dth@gmail.com
Nhận ngày 19 tháng 12 năm 2018. Chấp nhận đăng ngày 16 tháng 1 năm 2019.
Tóm tắt: Chính sách đối với dân tộc thiểu số ở Thái Lan khác biệt nhiều so với các quốc gia láng
giềng trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á. Chính phủ Thái Lan đề cao quốc gia - dân tộc với vị
thế và vai trò của dân tộc Thái, coi văn hóa dân tộc Thái là văn hóa quốc gia. Chính phủ Thái Lan
không có chính sách riêng về phát triển kinh tế - xã hội cho các dân tộc thiểu số. Hệ lụy từ cách
làm này đang đặt ra cho các dân tộc thiểu số vùng cao hai cách lựa chọn, hoặc là chấp nhận đồng
hóa để hòa nhập vào dòng phát triển chung của Vương quốc Thái Lan và để mất bản sắc văn hóa
của mình, hoặc là duy trì bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình, tức là không hòa nhập
vào văn hóa dân tộc Thái và chấp nhận rằng những lợi ích từ chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của chính phủ cũng như sự phát triển thế hệ trẻ các tộc người bị hạn chế.
Từ khóa: Dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, Thái Lan.
Phân loại ngành: Nhân học
Abstract: The policy on ethnic minorities in Thailand differs significantly from those of its
neighbouring countries in Southeast Asia and Asia. The Thai government values the nation-state
with the position and role of the Thai people, considering Thai culture the national culture. The
government does not have a separate policy on socio-economic development for the ethnic
minorities. The implications of such an orientation are putting the upland minorities before two
options: either to be assimilated to integrate into the common current of development of the
Kingdom of Thailand and to lose their cultural identities, or to maintain the traditional cultural
identities, which would mean not to integrate into Thai national culture, accepting that this would
limit their benefits from the government's socio-economic development policy and the
development of their younger generations.
Keywords: Ethnic minorities, policy on ethnicities, socio-economic development, Thailand.
Subject classification: Anthropology
82
Trần Văn Hà, Nguyễn Anh Tuấn
2. Các dân tộc thiểu số ở Thái Lan
1. Mở đầu
Dân số của Thái Lan hiện nay là 68,8 triệu
người [15]. Thái Lan là quốc gia đa tộc
người, gồm 23 dân tộc. Trong đó, dân tộc
Thái chiếm 75%; 14% là người gốc Hoa và
3% người gốc Mã Lai; số còn lại là những
dân tộc thiểu số khác (như Môn, Khơ-me và
các tộc khác). Ở các tỉnh vùng cao Thái Lan
năm 1999 có 9 dân tộc (ethnic groups)
(xem bảng 1).
Thái Lan không có chính sách riêng để hỗ
trợ phát triển kinh tế - xã hội cho các nhóm
dân tộc thiểu số như Việt Nam. Chính sách
hội nhập là chiến lược ứng xử với các nhóm
dân tộc thiểu số của Thái Lan. Bài viết này
phân tích chính sách của chính phủ Thái Lan
đối với dân tộc thiểu số, qua đó cung cấp
thêm kinh nghiệm cho việc hoạch định chính
sách đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Bảng 1: Dân số các nhóm dân tộc các tỉnh vùng cao Thái Lan, năm 1999
TT
Dân tộc
Số bản/làng
Số hộ
69.821
Dân số
347.242
Tỷ lệ %
46,18
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Karen
Hmong
Lahu
2.037
235
419
151
164
282
59
15.238
14.696
5.114
122.168
84.262
30.940
42.551
56.162
17.092
40.302
10.567
751.886
16,32
11,21
4,11
Lisu
Dao
5.848
5,66
Akha
Lua
9.516
7,46
3.231
2,27
H’tin
Kha mu
Tổng số
143
37
7.634
5,36
1.972
1,41
3.527
133.070
100,00
Nguồn: Số liệu từ Viện Nghiên cứu Bộ lạc, Chiang Mai, Thái Lan năm 1999
Theo hai nhà nghiên cứu Mudakwan Thái Lan có hơn 20 dân tộc tại vùng cao
Sakboon và Prasit Leepreecha (thuộc Trung (bảng 2).
tâm nghiên cứu tộc người và phát triển, Đại
Về cơ cấu tộc người, hiện có 3 thuật
học Chiang Mai, Thái Lan), Thái Lan có 10
ngữ: chát - xạt (nation), cùm - chát - tị -
dân tộc (thêm dân tộc Mlabri), các dân tộc
păn hay cùm - xạt (ethnicities - tộc
đó phân bố chủ yếu ở 20 tỉnh ở miền Bắc
người), và chạo - khao (không có quyền
Thái Lan gồm Karen, Hmông, Mien (Dao),
công dân). Thế nhưng, không phải lúc nào
Akha, Lahu, Lisu, Lua, H’tin, Khamu (Khơ
mú), Mlabri. Trong đó, dân tộc Karen
là đông nhất, có 438.131 người. Theo một
số nhà nghiên cứu khác, 9 dân tộc trên,
cả nước có thêm 13 dân tộc khác nữa.
3 thuật ngữ này cũng được sử dụng để
phân loại dân tộc ở Thái Lan. Trên thực tế
khái niệm tộc người (cùm - xạt, ethnicity)
và khái niệm dân tộc (chát, nation) là
trùng khớp [7, tr.403].
83
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2019
Bảng 2: Dân số các dân tộc tại 20 tỉnh miền Bắc Thái Lan
Dân tộc
Karen
Hmong
Mien
Cộng đồng
Số hộ
87.628
Nam
221.379
76.960
22.869
33.704
51.489
19.082
10.990
21.595
5.357
147
Nữ
Tổng số
438.131
153.995
45.571
68.653
102.879
38.299
22.260
42.657
10.573
282
1.912
253
178
271
385
155
69
216.752
76.995
22.702
34.949
51.389
19.217
11.270
21.061
5.216
135
19.287
6.758
11.178
18.057
6.553
4.361
8.496
2.256
63
Akha
Lahu
Lisu
Lua
H’tin
159
38
Kha mu
Mlabri
Palong
Tongsu
Tai-Lue
Haw
2
7
459
1.135
123
1.189
103
2.324
4
42
226
16
857
1.849
13.181
10.459
-
1.931
13.144
10.952
1
3.780
55
3.773
4.059
1
26.325
21.411
1
Shan
72
Khmer
Chinese
Burmese
Mon
1
8
599
14.865
623
2.291
614
4.376
12
285
1.237
31
1.616
18
3.349
53
3.476
51
6.825
Laotian
Others
Lowlanders
Tổng số
2
104
3
93
289
274
563
847
4.479
50.257
226.696
107.328
604.047
105.392
559.102
212.720
1.203.149
Theo cách phân loại về ngôn ngữ học, ở người bản địa vùng cao (hill-tribe, được
Thái Lan có trên 60 nhóm ngôn ngữ khác người Thái gọi là chao khao chiếm
nhau. Chính phủ Thái Lan đưa ra sự phân 1.000.000 người). Đối với nhóm không
loại với 2 loại cư dân: nhóm Thái (Tai) và phải Thái (non-Tai), chính phủ Thái Lan
nhóm không phải Thái (non-Tai). Nhóm cũng chưa có số liệu thống kê chính thức;
Thái chiếm 91%. Trong số 9% còn lại là trong đó bao gồm các đối tượng di dân tị
người Thái gốc Hoa (chiếm 2%, khoảng 1,3 nạn, lao động nhập cư trái phép vào Thái
triệu người); người Thái gốc Mã Lai (chiếm Lan, những người nước ngoài sinh sống ở
6%, tương đương 3,7 triệu người); các tộc Thái Lan. Nhóm “non-Tai” hiện nay liên
84
Trần Văn Hà, Nguyễn Anh Tuấn
là mối đe dọa đối với sự ổn định của quốc
gia này [12].
tục có sự gia tăng về số lượng, do các dòng
người di cư đến Thái Lan không ngừng
gia tăng; trong đó có nhóm di cư người
Trung Quốc, nhóm các dân tộc bản địa
vùng cao từ các quốc gia láng giềng qua lại,
nhóm di dân tị nạn, nhóm lao động làm
thuê hợp pháp (người Mianma, Campuchia,
Việt Nam), nhóm lao động làm thuê trái
phép [10].
Theo các nhà nhân học thuộc Đại học
Chiang Mai, chỉ từ những năm 1960, nhà
nước Thái Lan mới bắt đầu quan tâm đến
vấn đề dân tộc, các tộc người thiểu số.
Trước đó, Thái Lan không những chưa
quan tâm, mà còn có định kiến rằng, các tộc
người thiểu số là những người lạc hậu, phá
rừng, buôn thuốc phiện và không mang lại
lợi ích gì cho nhà nước Thái Lan. Tuy
nhiên, trong bối cảnh chiến tranh Đông
Dương và chiến tranh lạnh, sự lan rộng ảnh
hưởng của chủ nghĩa cộng sản trong khu
vực, nhà nước Thái Lan đã quan tâm đến
vấn đề an ninh quốc gia, lo ngại các hành vi
phá rừng, buôn thuốc phiện, lo ngại ảnh
hưởng của chủ nghĩa cộng sản trong các tộc
người bản địa vùng cao biên giới, từ đó bắt
đầu kiểm soát và hội nhập các tộc người
vào quốc gia dân tộc. Để biết dân số các tộc
người, chính phủ yêu cầu đăng ký hộ khẩu,
quốc tịch [1, tr.1]. Các nhóm cư dân không
phải Thái muốn hội nhập, hay chuyển đổi vị
thế từ không phải Thái (non-Tai) trở thành
chuẩn Thái (standard Tai), thì phải được
thừa nhận bởi nhà nước thông qua thẻ căn
cước công dân Thái. Việc chuyển đổi tư
cách công dân này được thực hiện theo
chính sách “integration” (hội nhập), thực
chất đó là chính sách đồng hóa các dân tộc
thiểu số. Ba yếu tố then chốt cho việc
chuyển đổi này gồm: ngôn ngữ (tiếng Thái),
văn hóa, tôn giáo (đạo Phật), và sự tự ý
thức tộc người [13].
3. Chính sách của chính phủ Thái Lan về
văn hóa đối với các dân tộc thiểu số
Quan điểm của chính phủ Thái Lan cho
rằng Thái Lan chỉ có một dân tộc Thái duy
nhất, không phân biệt và công nhận sự hiện
diện các nhóm thiểu số một cách chính
thức; quốc gia Thái là của người Thái
(“chat, satsana, phra maha kasat”, “đất
nước, tôn giáo, nhà vua”).
Nước Thái là của người Thái, các nhóm
tộc người khác (cùm - xạt) muốn trở thành
công dân Thái phải chấp nhận sự đồng hóa
(nói tiếng Thái, thờ Phật, mang tên Thái và
sinh hoạt theo văn hóa Thái). Vì vậy, chính
sách của Thái Lan đối với dân tộc thiểu số
không giống như chính sách của Việt Nam.
Trên thực tế, Thái Lan cũng là một quốc gia
đa tộc người, đa văn hóa.
Theo nhận xét của Luangaramsri, đối với
nhà nước Thái, sự đa dạng về văn hóa và
tộc người luôn được coi là trở ngại lớn đối
với quá trình củng cố khối thống nhất cũng
như sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung
của đất nước. Chính vì vậy, quá trình thực
thi chính sách Thái hóa đối với các tộc
người thiểu số là cơ chế chính trong việc
tạo ra sự thống nhất về văn hóa, hay còn gọi
là bản sắc văn hóa quốc gia Thái. Những
người dân không mang bản sắc này không
được coi là người Thái và thường bị quy kết
Thái Lan là nước đặc biệt thời cận - hiện
đại ở Đông Nam Á, vì đó là nước duy nhất
không trở thành thuộc địa của thực dân
phương Tây. Yếu tố căn bản và cốt lõi giúp
Thái Lan “trụ được” trước làn sóng xâm
lược của thực dân phương Tây là sự ra đời
của một thể chế nhà nước Thái mới, trong
đó giới lãnh đạo đất nước sử dụng Phật giáo
85
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2019
như là một nhân tố liên kết. Theo đó, cấu trung ương Băng Cốc. Mặc dù chuyển dịch
hình mới cho biểu tượng nhà nước hình sang mô hình quân chủ lập hiến, quyền lực
thành dựa trên 3 nguyên tắc: dân tộc, tôn của chính phủ hiến định tách bạch khỏi các
giáo và chế độ quân chủ (chat, satsana, thể chế tôn giáo của đạo Phật, nhưng nhà
mahaketsat). Theo Ngô Văn Doanh, ở đầu nước Thái Lan vẫn tiếp tục có những bước
thế kỷ XX, nhà nước Thái đã gây dựng nên nắm giữ, củng cố và kiện toàn các tổ chức
một “cơ cấu chính trị - tư tưởng gần như Phật giáo thông qua Hội đồng Tăng đoàn.
độc nhất vô nhị ở châu Á”. Trong đó, Phật Đến nay, Thái Lan là quốc gia duy nhất mà
giáo gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa dân tộc, nhà nước thực hiện việc trả lương cho các
còn chế độ quân chủ được củng cố bằng nhà sư [2, tr.59].
pháp luật dựa vào mối quan hệ trên. Sau
Thực tế cho thấy có những thách thức
năm 1963, chế độ quân chủ ở Thái Lan đã đối với những nỗ lực của chính phủ Thái
chuyển sang chế độ quân chủ lập hiến, và Lan trong việc thực hiện chính sách hội
quốc gia dân tộc trở thành yếu tố tiên quyết, nhập đối với các khu vực dân cư không
là nguyên tắc cho sự phát triển của Thái phải Thái. Những thách thức này liên quan
Lan. Trong chiến lược hội nhập này, Thái đến hai nhóm dân tộc thiểu số có xu hướng
Lan hướng tới xây dựng hình ảnh một đất bảo lưu ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa tộc
nước mang bản sắc văn hóa đậm chất Thái người của riêng họ. Nhóm thứ nhất là nhóm
của người Thái. Ý niệm gốc rễ nằm ở chỗ, các dân tộc bản địa ở vùng cao, vùng sâu,
nhà vua được xem là sự biểu đạt hoàn mỹ vùng xa. Một số dân tộc không có phản ứng
cho những gì bản sắc văn hóa đậm chất gì lớn trong việc chuyển đổi đức tin sang
Thái. Tiếng Thái là tiếng nhà vua nói, tôn thực hành đạo Phật, hay phối kết hợp đạo
giáo (đạo Phật) nhà vua theo trở thành Phật với các hình thái tín ngưỡng dân gian.
những yếu tố chuẩn mực. Theo đó, các vua Đầu những năm 1970, chính phủ Thái Lan
Thái Lan, như vua Môngkút tức Rama IV đã thông qua dự án Thammacarik truyền bá
(1840-1868) và vua Chulalongkorn tức đạo Phật đến các nhóm dân tộc vùng cao.
Rama V (1853-1901), đã tiến hành một Vì vậy, đối với thế hệ trẻ, con em các dân
cuộc phục hưng Phật giáo một cách mạnh tộc ở đây, việc bỏ thờ ma để theo thờ Phật
mẽ để xây dựng một chế độ chuyên chế cũng đồng nghĩa với việc họ được học
Phật giáo với ngụ ý chính trị xây dựng nên hành, có trí thức để tìm kiếm việc làm trong
một thứ bậc tinh thần duy nhất, dễ sai khiến xã hội Thái [7]. Nhóm thứ hai là cộng đồng
(mục đích đó là nhà nước hóa văn hóa, làm Hoa/Hán, họ là những người muốn duy trì
trong sạch và hiện đại một cách có điều việc nói tiếng Hoa thay vì chỉ nói tiếng
khiển các giáo lý và nghi thức). Thái Lan đã Thái. Họ ưa thích mô hình song ngữ gồm
biến chế độ chuyên chế Phật giáo thành chỗ việc thông thạo tiếng Thái và tiếng Hoa. Ở
dựa tư tưởng cho cả chế độ chuyên chế nhóm này, tôn giáo cũng không hẳn là vấn
chính trị [2, tr.57]. Nhà nước quân chủ Thái đề lớn.
Lan chủ trương mở rộng và phát triển tiếng
Nhóm người gốc Mã Lai, thuộc nhóm
Thái, đạo Phật ra rộng khắp lãnh thổ quốc các cư dân theo đạo Islam, là cộng đồng
gia, đặc biệt là, mở rộng ra các khu vực cư gặp thách thức từ những vấn đề tôn giáo,
dân “non-Tai”. Và mô hình này đã thành ngôn ngữ và văn hóa; bởi họ muốn sử dụng
công trong việc trong việc liên kết miền tiếng Mã Lai hơn tiếng Thái, cũng như khó
Bắc và Đông Bắc Thái Lan với chính quyền cải đạo sang đạo Phật. Sự xung đột về ngôn
86
Trần Văn Hà, Nguyễn Anh Tuấn
ngữ và tôn giáo tiềm ẩn những rủi ro, xung khi các tỉnh muốn phát triển du lịch, chính
đột trong tiến trình thực hiện chính sách hội quyền địa phương cho phép các tộc người
nhập. Thực tế cho thấy, nhà nước Thái Lan thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc của họ
nhiều thập kỷ vừa qua phải đối diện với trong các chương trình lễ hội, dịp lễ tết.
nhiều cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo, với
chủ nghĩa ly khai và khủng bố ở vùng miền
Nam nước này.
Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu uy
tín đã khuyến nghị rằng, chính phủ Thái
Lan cần phải lưu ý việc xử lý hàng loạt các
vấn đề liên quan đến quyền công dân cho
các nhóm cư dân “non-Tai”; phải linh hoạt
hơn trong khi tiếp cận vấn đề này để gặt hái
được nhiều hơn nữa những thành công và
lợi thế cho mình; thay vì nhìn nhận các
nhóm dân thiểu số bản địa vùng cao là
những người ngoài xa lạ (foreigner), thì nên
xem họ như là một đối tượng thuộc thành
phần tộc người của họ.
Thẻ căn cước công dân là một bước quan
trọng để tiến đến xác thực quyền công dân
hợp pháp tại Thái Lan. Thẻ đó thay cho hộ
tịch (hay giấy đăng ký hộ gia đình), hộ
chiếu (để được xuất cảnh). Đây cũng là vấn
đề quan trọng hàng đầu trong các chính
sách liên quan đến các nhóm tộc người ở
Thái Lan. Do chưa có thẻ căn cước công
dân, nên các tộc người bản địa vùng cao cư
trú và sinh sống bị coi là bất hợp pháp trên
lãnh thổ Thái Lan, mặc dù họ đã trải qua
nhiều thế hệ. Họ cũng không thể chính thức
xuất cảnh rời khỏi Thái Lan đến một quốc
gia khác, vì không có hộ chiếu.
4. Chính sách của chính phủ Thái Lan về
kinh tế đối với các dân tộc thiểu số
Theo nghiên cứu của các học giả thuộc
Đại học Chiang Mai, Thái Lan bắt đầu cho
đăng ký căn cước và quốc tịch đối với các
tộc người thiểu số bản địa (hill-tribe) từ
năm 1963. Đến năm 2005, khoảng 2 triệu
người chưa có quốc tịch. Trong đó, 377.677
người là các nhóm tộc người vùng cao
Đông Bắc [13]. Một báo cáo nghiên cứu
khác đã chỉ ra rằng, trong số 20 tỉnh của
Thái Lan, tổng số người chưa được cấp thẻ
căn cước công dân chiếm 10%.
Đến nay, ở các bản vùng cao còn nhiều
người chưa có thẻ căn cước công dân, và do
chưa phải là công dân, nên họ cũng chưa
chính thức có quốc tịch. Theo Nguyễn Thị
Thanh Bình (2017), có một nghịch lý rằng,
mặc dù một số lượng lớn các tộc người
thiểu số chưa được cấp quốc tịch, chưa
được hội nhập vào quốc gia Thái Lan,
nhưng khi chính quyền muốn có được lợi
ích nào đó thì chính quyền lại thừa nhận sự
tồn tại đa dạng văn hoá của họ. Chẳng hạn,
Mặc dù Thái Lan đã trở thành quốc gia có
nền kinh tế phát triển trong khu vực Đông
Nam Á, song trên thực tế cuộc sống của các
cộng đồng cư dân thiểu số bản địa còn
nhiều khó khăn. Sinh kế của nhiều nhóm
dân tộc chủ yếu dựa vào nông nghiệp, canh
tác nương rẫy, sản lượng lương thực bấp
bênh. Trong đó, một vài nhóm dân tộc sinh
sống ở vùng cao biên giới không đảm bảo
an toàn lương thực. Người Karen tại một
làng ở Đông Bắc Thái Lan vẫn sống du
canh du cư, dựa vào nông nghiệp canh tác
nương rẫy ở các vùng rừng núi để sinh tồn.
Điều này khiến chính phủ Thái Lan xem họ
như những kẻ phá rừng [14].
Thực hiện chính sách hội nhập, nhà nước
Thái Lan có đầu tư cơ sở hạ tầng tại các
vùng các nhóm dân tộc thiểu số. Lực lượng
cảnh sát biên phòng - văn hoá được thiết lập
ở dọc vùng biên giới Thái Lan với các quốc
gia láng giềng. Cho đến nay, ở các bản làng
87
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2019
xa xôi, cảnh sát biên phòng đóng vai trò
Ngoài dự án Hoàng gia kể trên, trong
quan trọng trong quản lý hành chính, thực phát triển kinh tế - xã hội vùng cao của các
hiện việc dạy học ở các khu vực này [1]. Từ nhóm dân tộc thiểu số, một đề án có quy
cuối những năm 1960, dự án hoàng gia mô và tầm vóc được Chính phủ Thái Lan
được khởi xướng qua một chuyến thăm của thực hiện với nhiều tham vọng là chương
Vua Thái Lan lúc bấy giờ tới vùng dân tộc trình “mỗi xã một sản phẩm” (one tambon,
thiểu số. Mục tiêu của dự án này là đầu tư one product). Đây là sự kế thừa thành quả
cơ sở hạ tầng, hỗ trợ người dân chuyển đổi của Hiến pháp Thái Lan (1997), cho phép
cây trồng (từ năm 1960 đến năm 1970 là chính quyền tự quản và triển khai các dự án
phá bỏ cây thuốc phiện, trồng các cây hàng kinh tế - xã hội ở cấp độ địa phương. Từ
hoá; gần đây là các dự án trồng rau sạch năm 1999, Thủ tướng Thái Lan Thaksin
hữu cơ (organic) cung cấp cho các chuỗi Shinawatra cho phép mỗi xã xây dựng một
cửa hàng tại đô thị). Lúc đầu, ngân sách dự dự án kinh tế để cung cấp đặc sản là thế
án là của Hoàng gia, sau này có sự tham gia mạnh của địa phương. Dự án này của các
của chính phủ Thái Lan. Vì vậy, đã hình xã sau đó được chính phủ Thái Lan hỗ trợ
thành quỹ dự án Hoàng gia. Mặc dù hoạt quảng bá sản phẩm cũng như hỗ trợ công
động độc lập, nhưng quỹ dự án Hoàng gia nghệ để hiện đại hóa sản xuất, nâng cao
có quan hệ mật thiết với chính phủ.
chất lượng sản phẩm [11]. Ý tưởng này
Các nhà nghiên cứu tại Đại học Chiang được Thái Lan học được từ Nhật Bản qua
Mai cũng cho biết, ở thời điểm từ năm mô hình “mỗi làng một sản phẩm” (one
1960-1970, song hành với dự án Hoàng gia, village, one product). Từ 2006, sau khi
cũng có một số dự án của các tổ chức quốc chính phủ Thaksin bị đảo chính và phải ra
tế hỗ trợ đồng bào chuyển đổi cây trồng. đi, chính quyền quân sự đã thay đổi tên gọi
Tuy nhiên, không phải tất cả các làng bản của chương trình thành “những sản phẩm
đều được nhận dự án, những làng bản nhận địa phương và cộng đồng”, tuy nhiên nhãn
dự án thường là các làng bản nằm trong khu hiệu hàng hóa mỗi xã một sản phẩm vẫn
vực an ninh biên giới, những bản gần rừng được giữ lại.
bảo tồn được ưu tiên nhận dự án. Dự án
Theo chương trình này, từ năm 2001 đến
trồng rau sạch hữu cơ gần đây cũng ưu tiên năm 2006, với sự hỗ trợ của chính phủ, đã
cho những bản của các nhóm dân tộc thiểu thu hút được 36.000 nhóm tham gia trên
số ở cạnh khu bảo tồn, nơi người dân bị khu phạm vi cả nước, quy mô mỗi nhóm sản
bảo tồn lấy mất đất nương rẫy [1].
xuất có thể rất nhỏ từ 30 hoặc rất đông đảo,
Theo một số nhà nhân học Thái Lan, dự lên tới 3.000 người. Đối với các vùng khác
án Hoàng gia là một cơ chế của quyền lực nhau, các đặc sản của các địa phương cũng
nhà nước để đối phó với các tộc người thiểu có những khuynh hướng phát triển khác
số. Dự án này nhằm mục đích giúp người nhau. Ở Bắc Thái Lan, đó là ưu tiên các sản
dân tăng thu nhập bằng cách trồng cây hàng phẩm thủ công, đặc biệt là những sản phẩm
hoá, gắn kết người dân với thị trường. được chạm khắc bằng gỗ, bạc, hay làm từ
Dự án Hoàng gia là một phần của chính giấy, gốm sứ, giỏ tre, vải bông và đồ trang
sách đồng hoá, sử dụng quyền lực Hoàng sức của các dân tộc thiểu số vùng cao. Ở
gia, thể hiện sự quan tâm của Hoàng gia vùng Đông Bắc Thái Lan, ưu tiên các sản
trong việc gắn kết người dân với Vương phẩm may mặc, như quần áo mặc thường
quốc Thái Lan.
nhật và các bộ quần áo cho các dịp lễ hội,
88
Trần Văn Hà, Nguyễn Anh Tuấn
đám cưới, các dòng sản phẩm làm từ vải lụa chính sách hội nhập (mà thực chất là đồng
hoặc sợi bông tự nhiên và nhuộm màu bằng hóa, gắn liền với một số chương trình, dự
nguyên liệu theo qui trình thủ công của các án), nhà nước Thái Lan không có chính
tộc người thiểu số tại chỗ. Vùng này cũng sách riêng phát triển kinh tế - xã hội cho các
hướng đến sản xuất các loại thảm sậy, giỏ dân tộc thiểu số. Trong các chiến lược, kế
dệt từ sợi thực vật. Ở vùng trung tâm Thái hoạch phát triển kinh tế - xã hội, không có
Lan, đó là các sản phẩm thủ công làm từ mục nào đề cập đến dân tộc thiểu số. Về
tre, các chậu đất lớn, đồ gốm hoặc các mặt mặt nguyên tắc, nhà nước Thái xem trọng
hàng đất nung. Ở vùng Đông Thái Lan, và ưu tiên quốc gia dân tộc với vị thế và vai
phát triển các sản phẩm trái cây tươi và tẩm trò dân tộc Thái, coi văn hóa Thái là văn
sấy, giỏ mây tre đan, thảm sậy và vải bùn. hóa quốc gia. Những tộc người thiểu số phi
Ở vùng Nam Thái Lan, đó là các sản phẩm Thái “non-Tai” được phân loại dựa trên các
dệt, đồ gỗ khảm trai mỹ nghệ và chạm khắc yếu tố trong mối liên hệ ràng buộc trung
truyền thống.
thành với quốc gia dân tộc Thái. Những
nhóm có biểu hiện thách thức hay có những
hành vi ảnh hưởng tới sự ổn định, an ninh
quốc gia, lợi ích quốc gia, đều chịu các
hành động đối kháng cứng rắn của chính
quyền. Về mặt nguyên tắc, chính phủ Thái
Lan chủ trương thực hiện đồng hóa các
cộng đồng tộc người “non-Tai” trở thành
một phần của cộng đồng Thái. Tuy nhiên,
không phải lúc nào chính phủ Thái Lan
cũng có những động thái hoan nghênh cởi
mở. Cơ chế phản ứng của chính phủ Thái
Lan với vấn đề dân tộc của người gốc Mã
Lai theo Islam giáo ở khu vực miền Nam
rất khác biệt. Chính phủ sẵn sàng sử dụng
các biện pháp vũ lực để giải quyết xung đột
liên quan đến tộc người gắn với màu sắc
tôn giáo cực đoan. Hiện nay, chính phủ
Thái Lan vẫn có quan điểm cứng rắn đối
với việc xử lý khi tình hình an ninh bất ổn
bởi xung đột dân tộc tôn giáo ở miền Nam
Thái Lan.
Chương trình “mỗi xã một sản phẩm”
bao trùm toàn bộ các xã của Thái Lan,
hướng tới hỗ trợ sản xuất cho tất cả các
nhóm cư dân, không chỉ riêng nhóm dân tộc
thiểu số vùng cao. Năm 2017, các sản phẩm
thuộc chương trình này đạt mức doanh thu
153 tỷ baht. Chính phủ Thái Lan kỳ vọng
rằng, những năm sắp tới, mức doanh thu
của chương trình này sẽ đạt mức từ 200 đến
300 tỷ baht/năm. Dự chi ngân sách cho
chương trình này niên khóa tài chính năm
2018 của chính phủ Thái Lan là 8,3 tỷ baht,
hỗ trợ cho 3.273 làng với dự kiến nâng tổng
sản phẩm đạt mức đăng ký là 64.570 sản
phẩm. Mức tăng trưởng kỳ vọng của mỗi
sản phẩm tính trung bình là 10% năm. Để
kích cầu, chính phủ còn tổ chức hội chợ
thường niên cho hệ thống các sản phẩm này
và ghi nhận những đánh giá công khai của
người tiêu dùng đối với sản phẩm.
Chính sách hội nhập của chính phủ Thái
Lan đang đặt ra cho các nhóm dân tộc thiểu
số vùng cao hai cách lựa chọn: hoặc là chấp
nhận đồng hóa để hòa nhập vào phát triển
5. Kết luận
Thái Lan là một quốc gia hiện có chính chung, và bản sắc văn hóa của họ bị mất,
hoặc là duy trì bản sắc văn hóa truyền thống
tộc người, không hòa nhập vào xã hội Thái.
Lựa chọn thứ hai đồng nghĩa với việc chấp
sách đối với các dân tộc thiểu số khác biệt
so với các quốc gia láng giềng trong khu
vực Đông Nam Á và Châu Á. Bên cạnh
89
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2019
nhận những lợi ích từ chính sách phát triển [6] Nguyễn Hồng Quang (2015), “Giải quyết xung
kinh tế - xã hội của chính phủ cũng như
sự phát triển thế hệ trẻ các tộc người bị hạn
đột tôn giáo - sắc tộc ở miền Nam Thái Lan”,
Nghiên cứu Tôn giáo, số 147(9).
chế [7]. Cho đến nay do lực lượng điều [7] Nguyễn Duy Thiệu (2006), “Cách thức ứng xử
hành đất nước theo chủ nghĩa dân tộc vẫn
chủ trương lấy củng cố thống nhất đất nước
làm mục tiêu ưu tiên, nên quá trình “Thái
hóa” các tộc người thiểu số và các nền văn
với tình trạng đa văn hóa, đa sắc tộc ở một số
nước Đông Nam Á”, Thông báo Dân tộc học
năm 2004 (Kỷ yếu Hội nghị), Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
hóa của họ vẫn tiếp diễn. Bên cạnh đó, quá [8] Nguyễn Hữu Tuấn (2008), “Vấn đề tôn giáo và
trình toàn cầu hóa là nguyên nhân làm cho
văn hóa và bản sắc tộc người vùng cao Thái
dân tộc trong xung đột ở miền Nam Thái Lan”,
Nghiên cứu Tôn giáo, số 60 (6), 58-66.
Lan đang bị tác động mạnh mẽ (như các [9] Don McCaskill, Prasit Leepreecha và He
tộc người trong Tiểu vùng Mê Kông). Việc
thay đổi trong chính sách phát triển các dân
tộc thiểu số ở Thái Lan trong tương lai đang
là câu hỏi lớn.
Shaying Editor (2007), Living in a Globalized
World: Ethnic Minorities in the Greater
Mekong Subregion, Mekong Press.
[10] Keyes, Charles F. (2004), Ethnicity and the
Nation-states of Thailand and Vietnam, Social
Research Institute, Chiang Mai University.
Tài liệu tham khảo
[11] Khongsawatkiat, Kittaphun (2002),
Isan
A
Study: One Tambon, One Product:
[1] Nguyễn Thị Thanh Bình (2017), Báo cáo nội
dung trao đổi về chính sách dân tộc tại Thái
Lan và Malaysia, Viện Dân tộc học, Hà Nội.
[2] Ngô Văn Doanh (2002), “Chế độ quân chủ
Thái Lan và Phật giáo”, Nghiên cứu Tôn giáo,
17 (5).
government policy recovers farmer debts and
fragile rural sector in Northern of Thailand,
Nakhon Phanon, Thailand.
[12] Luangaramsri, Pinkaew (2003), “Ethnicity and
the politics of ethnic classification in
Thailand”, Ethnicity in Asia, Colin Mackerras
(ed.), London, Routlege Curzon, pp. 157-173.
[13] Sakboon, Mudakwan, & Leepreecha, Prasit
(2016), Citizenship among highland ethnic
minorities in Northern Thailand, Chiang Mai
University, Thailand.
[3] Đỗ Thị Đông (2014), “Bẫy thu nhập trung
bình: Thực trạng ở Malaysia và Thái Lan và
những gợi ý đối với Việt Nam”, Tạp chí Kinh
tế & Phát triển, số 205.
[4] Phùng Quang Huy (2017), “Lý giải nguyên
nhân đảo chính quân sự lật đổ chính phủ
Thaksin Shinawatra”, Nghiên cứu Đông Nam
Á, số 3.
[14] Singphongphrai Darunee (2017), Karen
Livelihood, Chiang Mai University, Thailand.
“World Population Prospects: The 2017
Revision” ngày 2/1/2019.
[5] Nguyễn Thị Hồng Lam (2017), “Phật giáo
trong hệ thống giáo dục Thái Lan hiện đại”,
Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7.
90
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách của Thái Lan đối với dân tộc thiểu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chinh_sach_cua_thai_lan_doi_voi_dan_toc_thieu_so.pdf

