Sự du nhập Nho giáo vào Giao Châu thiên niên kỷ đầu Công nguyên

Sự du nhập Nho giáo  
vào Giao Châu thiên niên kỷ đầu Công nguyên  
Vũ Duy Mền1  
1 Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
Email: vuduymenhn@yahoo.com  
Nhận ngày 20 tháng 9 năm 2018. Chấp nhận đăng ngày 30 tháng 10 năm 2018.  
Tóm tắt: Trong thiên niên kỷ đầu Công nguyên, Nho nguyên thủy và Hán Nho từng bước được du  
nhập vào Giao Châu (Việt Nam). Nội dung Nho giáo được du nhập chủ yếu được trình bày trong: Tứ  
thư, Ngũ kinh; thể hiện ở tư tưởng “tam cương” và “ngũ thường”; nhằm đạt tới “tu, tề, trị, bình”. Ban  
đầu, sự du nhập Nho giáo thời Lưỡng Hán đã vấp phải phản ứng của phong tục tập quán cổ truyền  
dân tộc và phong trào đấu tranh chống Hán hóa lan rộng ở Giao Châu. Sau đó, do việc học chữ Hán,  
học Nho quy củ hơn (nhờ công lao của Sĩ Nhiếp) nên nhận thức của người Việt đã thay đổi. Việc học  
hành, thi cử đã gắn với đào tạo nhân tài, đã gắn với việc làm quan “cứu nước”. Nho giáo cùng với  
Đạo giáo và Phật giáo đã tìm được chỗ đứng trong đời sống tinh thần dân tộc Việt.  
Từ khóa: Giao Châu, Nho giáo, Khổng giáo, Tam giáo đồng nguyên.  
Phân loại ngành: Sử học  
Abstract: In the first millennium BC, under the influence of Chinese culture, original  
Confucianism and Hán Nho (Confucianism of the Han dynasty) were gradually introduced into  
Giao Chau (now Vietnam). The main contents of Confucianism then were presented in the “Four  
Books” and the “Five Classics”, expressed in the “three cardinal guides” and “five constant  
virtues”, for the achievement of “self-betterment, family management, establishment and  
maintenance of order in society and realisation of the nation’s lasting peace”. Initially, the  
introduction of Confucianism in the times of the Two Han Dynasties was faced with the reaction of  
the Vietnamese traditional customs and struggle against Sinicisation in Giao Chau. Later, the study  
of Chinese characters and Confucianism became better arranged thanks to Si Nhiep, and thus  
changed the view of the Vietnamese. Studying and examinations were associated with training of  
talents, becoming a mandarin and “saving the country”. Confucianism, together with Taoism and  
Buddhism, found its place in the spiritual life of the Vietnamese people.  
Key words: Giao Chau (Jiaozhou), Confucianism, three religions in harmony with one another.  
Subject classification: History  
35  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
1. Mở đầu  
Trải qua hơn hai thế kỷ, văn hóa Hán dần  
du nhập vào làng xã người Việt (bằng con  
đường di dân, bằng hình thức truyền bá chữ  
Hán…). Việc sử dụng chữ Hán vừa nhằm  
phục vụ cho nhu cầu hành chính - chính trị  
của chính quyền đô hộ, vừa làm công cụ để  
đưa Nho học vào Việt Nam. Việc truyền bá  
chữ Hán gắn liền với sự xâm nhập của Nho  
giáo. “Phong kiến Trung Quốc một mặt  
truyền bá chữ Hán sang ta, mặt khác, qua đó,  
truyền bá tư tưởng Nho giáo trong bộ phận  
nhân dân ta, nhằm làm một phương tiện xâm  
lược” [18, tr.368-369].  
Thời kỳ này, những người theo học chữ  
Hán chủ yếu là con em quan lại, địa chủ Hán  
tộc và con em một số tầng lớp trên của Giao  
Châu. Các sách kinh điển của Khổng giáo  
(như Tứ thư, Ngũ kinh) là những tài liệu đầu  
tiên dùng để giảng dạy. Số người học hành  
đỗ đạt dù chưa nhiều nhưng cũng được  
tuyển lựa vào bộ máy cai trị. Tuy nhiên,  
chính sách giáo dục đô hộ hoàn toàn hạn chế  
việc tuyển chọn nhân tài người Việt.  
Nho giáo (hay còn gọi là đạo Nho, Khổng  
giáo), do Khổng Tử (551 - 479 trước Công  
nguyên (TCN), một nhà tư tưởng lớn của  
Trung Quốc cổ đại, sáng lập. Sau Khổng  
Tử, Mạnh Tử đã phát triển Nho giáo theo  
hướng duy tâm, và Tuân Tử đã phát triển  
theo hướng duy vật.  
Nho giáo từ Khổng Tử đến Tuân Tử gọi  
là Nho Tiên Tần hay Nho nguyên thủy, đặc  
điểm của nó là chưa thần bí hóa, phù hợp với  
xã hội quân chủ phân quyền thời Xuân Thu -  
Chiến Quốc ở Trung Quốc. Đến thời Hán,  
Đổng Trọng Thư, đại biểu tư tưởng của chế  
độ quân chủ trung ương tập quyền chuyên  
chế Hán đã phát triển Nho giáo của Khổng  
Mạnh theo hướng duy tâm thần bí, gọi là  
Hán Nho.  
Nho giáo được du nhập vào Giao Châu  
từ những năm đầu Bắc thuộc và từng là hệ  
tư tưởng chính thống của chế độ quân chủ,  
cho đến giữa thế kỷ XX. Nho giáo đã có vai  
trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của  
người dân Việt Nam, trở thành một phần  
quan trọng của nền văn hóa dân tộc.  
Năm 111 TCN, sau khi đã thôn tính  
nước Nam Việt của Triệu Đà, nhà Hán bắt  
đầu quá trình đặt chính quyền cai trị và đô  
hộ Việt Nam. Triều đình phương Bắc muốn  
truyền bá chữ Hán, văn hóa Hán (đặc biệt là  
Quan lại người Hán đưa Nho giáo vào  
Việt Nam dưới nhiều hình thức như: truyền  
bá điển lễ hôn nhân - gia đình (Thái thú Tích  
Quang, Nhâm Diên); thiết lập pháp chế (Thái  
thú Tô Định, Mã Viện); cổ động tín ngưỡng  
(Thứ sử Đỗ Tuệ Độ, Tiết độ sứ Cao Biền);  
mở trường dạy học (Thái thú Sĩ Nhiếp) [8, tr.  
298]. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về  
các tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) vấn đề du nhập của Nho giáo vào Giao Châu  
vào đất Giao Châu để mở rộng ảnh hưởng thiên niên kỷ đầu Công nguyên. Nhưng vấn  
của Trung Quốc xuống phương Nam, phục đề này còn nhiều ý kiến khác nhau, bài viết  
vụ cho chính sách nô dịch và đồng hóa. Để  
thực hiện được điều này, nhà Hán đã di  
thực mô hình tổ chức chính trị và sinh hoạt  
xã hội của Trung Hoa sang đất Việt, nhằm  
tạo ra trên đất đô hộ một cơ cấu xã hội, thể  
chế chính trị, phương thức sản xuất và  
phong tục tập quán như ở Trung Hoa.  
góp thêm ý kiến phân tích thêm về vấn đề đó.  
2. Nội dung Nho giáo du nhập ở Giao Châu  
Kinh điển của Nho giáo ở Giao Châu thời kỳ  
Bắc thuộc chủ yếu là Tứ thư và Ngũ kinh.  
36  
Vũ Duy Mền  
Nội dung của Tứ thư và Ngũ kinh là nội xem xét điều hay dở. Gần trong nhà thì biết  
dung cơ bản của Nho giáo, quy định quan hệ thờ cha, xa ra ngoài thì biết cách thờ vua…  
gia đình và các quan hệ xã hội. Tứ thư và  
Kinh Thư viết về lịch sử thượng cổ  
Ngũ kinh, được gọi chung là Kinh truyện. Trung Quốc. Kinh Thư chép những điển,  
“Tứ thư” gồm Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học mô, huấn, cáo, thệ, mệnh của vua tôi dạy  
và Trung dung.  
bảo khuyên răn nhau từ thời Nghiêu, Thuấn  
Luận ngữ là sách do các học trò của Khổng cho đến đời Đông Chu. Trong Kinh Thư, có  
Tử biên chép lại lời giảng của thầy (về các vấn 4 nội dung chính: Ngu Thư, Hạ Thư,  
đề chính trị, triết lý, luân lý, học thuật…). Bộ Thương Thư, Chu Thư. Bộ Kinh Thư là bộ  
Luận ngữ lưu hành về sau là bộ sách do Chu sử thời thượng cổ Trung Quốc, được Nho  
Tử tập chú, gồm 10 quyển 20 chương.  
gia coi trọng và hướng dẫn làm tư liệu lịch  
Mạnh Tử là sách do Mạnh Tử soạn, bàn về sử minh chứng cho Nho giáo.  
đạo đức, nhân nghĩa, nhưng bàn ở phương  
Kinh Lễ viết về tế lễ thời Chu. Có ba bộ  
diện lớn (ví dụ như sách đó cho rằng con sách: Nghi lễ, Ký lễ và Chu lễ. Nghi lễ trình  
người làm chính trị phải có nhân nghĩa mới bày cách bố trí một lễ rất chi tiết về ngày  
mong tránh khỏi tai họa, biến loạn và chiến giờ, người hành lễ, vị trí các người tham gia  
tranh, giúp người dân sống an bình thịnh trị).  
lễ, các thầy cúng, thầy bói, thần linh… Nội  
Đại học là sách của Tăng Tử diễn lại lời dung ghi rất đầy đủ để tổ chức một buổi lễ  
của Khổng Tử, nhằm dạy đạo làm người quân hoàn chỉnh. Nghi lễ nói về lễ tiết đối với  
tử. (Theo sách này, người quân tử phải hiểu vua, bạn, chào đón tiếp khách, yến tiệc,  
cái lý của sự vật, cố đạt đến mức chí thiện để triều kiến, tang lễ, hiến sinh… Ký lễ ghi lại  
thành người giúp ích cho xã hội). Nói cách nhiều tư liệu, trong đó dẫn lời của Khổng  
khác, Đại học là cái học của đại nhân.  
Tử giảng về các sự kiện về lễ. Chu lễ trình  
Trung dung là sách thuật lại ý chí của bày hệ thống tổ chức quản lý nhà nước các  
Khổng Tử. Sách dạy những tiêu chuẩn làm cấp trong ngoài triều đình không có lời của  
người quân tử, bàn về trung dung, trung hòa, Khổng Tử.  
bàn về chí thành. Xuất phát từ vũ trụ bản thể  
luận, Trung dung bàn về tu dưỡng, đạo đức cát (tốt), hung (xấu). Lúc đầu người ta dùng  
[21, tr.54]. 50 cọng cỏ thi, về sau dùng thanh tre nhỏ,  
Kinh Dịch là sách bói toán xem sự việc  
“Ngũ kinh” (gồm 5 bộ kinh điển của Nho đồng tiền… để bói, xác định quẻ. Trong  
gia) là Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Kinh Dịch, các tư tưởng âm dương ngũ  
Dịch và Kinh Xuân Thu.  
hành, thiên mệnh, phương vị học, địa lý  
Kinh Thi là sưu tập các bài thơ dân gian học, toán học, thiên văn học, sử học… cùng  
và cung đình, có ba bộ phận: Phong, Nhã, hội nhập thành Dịch học và mang tư tưởng  
Tụng. Phong là thơ dân gian phản ánh phong Nho giáo.  
tục tập quán nhân dân các nước chư hầu.  
Kinh Xuân Thu viết về lịch sử nước Lỗ  
Nhã là bài hát phản ánh các chế độ cung từ năm Lỗ Ân Công thứ nhất (722 TCN)  
đình vương triều. Tụng là thơ ca tụng nền đến năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN).  
thịnh trị của vương quốc. Học Kinh Thi có Sách Xuân Thu có ba chủ đề chính: chính  
thể di dưỡng tính tình và mở rộng tri thức danh tự (phải biết ý nghĩa và vị trí từng  
của con người, có thể cảm phát ý chí, có thể chữ, ví dụ thiên tử chết phải viết là “băng”,  
37  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
vua chư hầu chết thì viết là “hoăng”…);  
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết:  
định danh phận (người nào có danh phận Tích Quang là Thái thú Giao Chỉ, người  
không chính đáng, thì dẫu phẩm chức gì, quận Hán Trung. Năm Kiến Vũ thứ 5, khi ở  
cũng chỉ chép có một tên tục mà thôi); ngụ Giao Chỉ, ông lấy lễ nghĩa dạy dân [11, t.1,  
bao biếm (có khi chỉ vì một chữ chê mà tr.213], dạy dân làm ruộng bằng trâu bò,  
mang tiếng xấu muôn đời, một chữ khen cày bừa như người Hán.  
mà được tiếng thơm thiên cổ).  
Nhâm Diên làm Thái thú quận Cửu Chân  
Tư tưởng cơ bản của Nho giáo thể hiện năm 25 (sau CN). Ông tự là Trường Tồn, là  
trong Tứ thư và Ngũ Kinh là tư tưởng tam người Uyển, mới 12 tuổi đã thông hiểu  
cương, ngũ thường và tu, tề, trị, bình. Tam Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, nổi  
cương là ba mối quan hệ của đạo đức tiếng trong trường Thái học, người ta gọi  
phong kiến: vua-tôi, cha-con, chồng-vợ ông là Nhâm “thánh đồng” [19, tr.139].  
(theo đó, thần dân đối vua phải trung; con  
Nhâm Diên đã dạy dân Việt làm ruộng,  
đối với cha mẹ phải hiếu nghĩa; vợ đối với dạy dân tổ chức nghi lễ hôn nhân. An Nam  
chồng phải theo đạo tam tòng có tính chất chí lược chép: “Theo phong tục tập quán thì  
tôn ti trật tự). Ngũ thường là các đức tính người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá và  
nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; các đức tính đó có săn thú, chứ không biết cày cấy. Nhâm  
vai trò duy trì quan hệ xã hội tốt đẹp. Tu, Diên dạy dân vỡ đất hoang trồng lúa, đất  
tề, bình trị, là đường lối chính trị, theo đó mỗi năm mỗi mở rộng thêm, dân được no  
trước tiên mỗi người phải tu dưỡng bản đủ giàu có. Còn hàng ngàn dân nghèo  
thân (tu thân), phải xây dựng gia đình tốt không có tiền cưới vợ, thì Nhâm Diên bắt  
đẹp (tề gia), rồi mới có thể cai trị đất nước quan Trưởng sử trở xuống phải chịu bớt  
(trị quốc) và cuối cùng an định thiên hạ lương bổng để giúp dân nghèo. Vì vậy, số  
(bình thiên hạ).  
người cưới vợ trong một lúc tới 2.000  
người. Năm ấy, mưa gió thuận hòa, các  
giống lúa đều được mùa. Nhà nào sinh  
được con cũng đặt tên là Nhâm. Nhâm Diên  
cai trị ở Cửu Chân được 4 năm thì về Trung  
3. Quá trình du nhập Nho giáo ở Giao Châu  
3.1. Giai đoạn Bắc thuộc lần thứ nhất (111 Quốc, người Cửu Chân lập nhà sinh từ để  
TCN - 40 SCN)  
thờ” [19, tr.140].  
Về tính chất, nho học thời kỳ Tích  
Cuối đời Tây Hán, Tích Quang cai trị Giao Quang và Nhâm Diên du nhập vào Việt  
Chỉ, Nhâm Diên cai trị Cửu Chân. Họ dựng Nam không phải là đạo Nho nguyên bản  
nhà học hiệu, dạy dân noi theo nhân nghĩa thời Tiên Tần, mà là thứ đạo Nho pha trộn  
[19, tr.218]. Đây là hai viên quan người Hán với thần học thời Lưỡng Hán (Tây Hán,  
đầu tiên tích cực truyền bá chữ Hán và đạo Đông Hán), đạo Nho này nhằm phục vụ đắc  
Nho vào Việt Nam. Nội dung của Nho giáo lực cho đường lối đối nội, đối ngoại của  
được Tích Quang và Nhâm Diên truyền dạy nhà Hán. Về đại thể, nó gồm ba thành tố  
cho người Việt lúc đó chủ yếu là nghi lễ hôn “tam cương, ngũ thường” của Khổng Mạnh  
nhân kiểu Hán, phương thức canh tác, sản để đảm bảo kỷ cương, rường mối trong xã  
xuất nông nghiệp…  
hội quân chủ; “hình danh” của Hoàng Lão  
38  
Vũ Duy Mền  
nhằm củng cố chính thể trung ương tập 3.2. Giai đoạn Bắc thuộc lần thứ hai (43  
quyền; “vận mệnh luận” của các nhà Âm SCN - 544)  
dương ngũ hành, lấy tư tưởng “tông pháp”  
và “vương quyền thần thụ” làm nòng cốt Bắt đầu từ giai đoạn này trở về sau, cách  
nhìn của người Giao Châu với văn hóa Hán  
[17, tr.13].  
Đạo Nho truyền bá những quan điểm có sự thay đổi. Sau cuộc khởi nghĩa của Hai  
chính trị, đạo đức, phong tục, nghi lễ rất khác Bà Trưng thất bại, người Việt đã chuyển  
với phong tục cổ truyền của người Việt. Vì  
vậy, trong giai đoạn Bắc thuộc lần thứ nhất,  
việc truyền bá chữ Hán và văn hóa Hán ở  
Giao Châu đã gặp những trở lực nhất định.  
Trở lực thứ nhất là sức mạnh của nền  
văn hóa bản địa - nền văn hóa văn minh  
Văn Lang - Âu Lạc (văn hóa Đông Sơn)  
được tạo dựng từ trước khi tiếp xúc với văn  
hóa Hán. Văn hóa bản địa, một mặt, cản trở  
sự ảnh hưởng của văn hóa Hán, mặt khác,  
còn làm Việt hóa những người Hán tới sinh  
cơ lập nghiệp tại đây. Cụ thể như trường  
hợp Triệu Đà. Khi Lục Giả mang ấn đến thì  
thấy Triệu Đà “búi tó, ngồi xổm” mà tiếp  
khách. Đây là những cử chỉ văn hóa sinh  
hoạt của người Việt, hoàn toàn bị mất đi  
tính Hoa Hạ. Chi tiết này cho thấy tuy chữ  
Hán đã du nhập vào đất Lĩnh Nam, nhưng  
đạo Nho, tức là cái lễ nghĩa kiểu Hán trong  
ứng xử vẫn chưa thể được tiếp nhận trên đất  
nước họ Triệu [26, tr. 87].  
Sách Hán thư chép rằng: “Mã Viện chia  
thành từng điều khoản tâu lên rằng luật  
người Việt và luật người Hán khác nhau hơn  
mười việc” [26, tr. 87]. Đó là sự khác nhau  
trong phong tục người Việt và người Hán  
mà Nho giáo chưa thể đóng vai trò dung hợp  
hay giúp người Việt tiếp nhận những tư  
tưởng mới mà Nho giáo mang tới.  
Trở lực thứ hai đối với việc truyền bá  
chữ Hán và văn hóa Hán là phong trào đấu  
tranh ngày một lan rộng trên đất Giao Châu,  
mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà  
Trưng. Đây cũng là trở lực xuyên suốt thời  
kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất.  
sang tự lập tự cường, nuôi chí đợi thời. Họ  
dần hiểu ra chữ Hán chỉ là công cụ để ghi  
chép, không nên đánh đồng chữ Hán với kẻ  
đô hộ; rằng có thể dùng chữ Hán, văn hóa  
Hán để học tập, phát triển nhân tài, xây dựng  
nền văn hóa thành văn, phục vụ cho sự  
nghiệp giải phóng đất nước.  
Việc truyền bá Nho giáo trong thời kỳ  
này gắn liền công lao và tên tuổi của Thái  
thú Sĩ Nhiếp. Tuy không phải là người đầu  
tiên truyền bá Nho giáo vào Việt Nam,  
nhưng Sĩ Nhiếp là người đầu tiên tổ chức  
việc học hành - giáo dục theo tư tưởng Nho  
giáo một cách chặt chẽ và có hệ thống. Đây  
là đóng góp đáng kể của ông trong thời gian  
cai trị nước ta.  
Sĩ Nhiếp (137 - 226) tự là Ngạn Uy,  
người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô.  
Tổ tiên ông là người Vấn Dương, nước Lỗ,  
lúc loạn Vương Mãng ở Bắc triều (Trung  
Quốc), tránh sang đất Giao Châu, đến Sĩ  
Nhiếp là đời thứ 6. Cha của Sĩ Nhiếp là Sĩ  
Tứ, thời Hán Hoàn đế (năm trị vì 147 - 167)  
làm Thái thú quận Nhật Nam. Năm 187,  
vua Hán cử Sĩ Nhiếp đang làm Huyện lệnh  
ở Vu Dương, làm Thái thú quận Giao Chỉ.  
Sĩ Nhiếp nắm quyền hành ở Giao Chỉ như  
một chính quyền cát cứ, đóng trụ sở ở Luy  
Lâu, xây dựng Luy Lâu trở thành trung tâm  
chính trị, kinh tế, văn hóa. Sự nghiệp của Sĩ  
Nhiếp bắt đầu từ đây, gắn bó với vùng đất  
Giao Chỉ hơn 40 năm, nhân dân tạm được  
yên ổn [19, tr.145].  
Trước khi tiếp thu Nho giáo, người Việt  
đã có một nền giáo dục dân gian. Đặc điểm  
39  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
của nền giáo dục này là truyền miệng  
Trong hơn 40 năm, Sĩ Nhiếp đã trọng  
những nội dung chính như răn dạy về cách đãi, tập hợp đông đảo tầng lớp trí thức  
ứng xử trong quan hệ gia đình, giao tiếp xã Trung Quốc chạy loạn, lánh nạn tại Giao  
hội và kinh nghiệm lao động sản xuất. Thầy Châu. Chính họ đã trở thành hạt nhân tích  
giáo là ông bà, cha mẹ, là những người lớn cực giúp Sĩ Nhiếp trong việc truyền bá Nho  
tuổi trong gia tộc, trong cộng đồng [10, học. Có thể kể một số người như: Hoàn  
tr.24-25]. Phải đến khi du nhập Nho giáo, Việt, Hứa Tĩnh, Trình Bỉnh, Lưu Hy, Đổng  
người Việt mới bắt đầu có giáo dục nhà Phụng [19, tr.177-179]… Đây vừa là đội  
trường, có thầy giáo, có học trò, và có sách ngũ quan lại, vừa là những người dạy học  
vở với những nội dung chứa đựng nhiều và truyền bá Nho học vào Giao Châu, mà  
kiến thức, được ghi chép lại thành văn tự. trước hết ở Luy Lâu (nay thuộc Thuận  
Người có công lao đầu tiên xây dựng nền Thành, tỉnh Bắc Ninh).  
tảng học thuật ấy là Sĩ Nhiếp.  
Về tính chất, Nho học do Sĩ Nhiếp  
Hiện tại, nguồn tài liệu ghi chép về các truyền bá là thứ đạo Nho nguyên bản lồng  
học trò và trường lớp thời kỳ này rất hiếm ghép với tư tưởng đạo Phật và đạo Lão.  
hoi. Có chăng, chỉ còn lại những địa danh, Đạo Nho lúc bấy giờ tuy vẫn ở ngôi chính  
di tích ít ỏi có nhắc đến công việc giáo thống, nhưng không còn được độc tôn như  
dục, đào tạo của Sĩ Nhiếp. Một trong số giai đoạn trước, mà phải thường xuyên đấu  
đó là đền thờ Sĩ Nhiếp ở trong thành Luy tranh với đạo Lão và đạo Phật để tồn tại và  
Lâu. Tương truyền đây là cố trạch của Sĩ phát triển. Đạo Nho thời kỳ này dùng triết  
Nhiếp, đồng thời là nơi ông dạy học. Bến lý Lão Trang để luận chứng cho sự hợp lý  
sông Dâu trước cửa thành mang tên Bến của “cương thường danh giáo” đồng thời  
Gạo, là nơi cha mẹ học sinh thường chở tiếp thu thuyết “vô ngã, vô thường”, “tu  
gạo đến cho con em ăn học. Chùa Bình là nhân, tích đức” của đạo Phật.  
nơi học trò bình văn, và chùa Định là nơi  
Sĩ Nhiếp tuy theo đạo Nho nhưng vẫn  
định tài văn chương để chọn người tài ra học hỏi những tinh túy trong tư tưởng đạo  
làm quan. Đặc biệt là nghề làm bút mực Phật, đạo Lão để tập hợp, đoàn kết những  
truyền thống ở làng Tư Thế, một làng ở quan lại trí thức theo nhiều khuynh hướng  
phía Tây Bắc thành Luy Lâu, cũng được học thuật khác nhau ở Giao Châu thời bấy  
truyền là có từ thời Sĩ Nhiếp, nhằm mục giờ. Ông chú ý phát triển Phật giáo,  
đích giúp cho các sĩ tử đến Luy Lâu ăn khuyến khích việc xây dựng chùa chiền,  
học, thi cử. Thần tích làng Lũng Khê cho tạc tượng Phật… Ông biết dựa vào Phật  
biết rằng, Sĩ Nhiếp dựng trường, dạy dân giáo để dạy chữ Hán, để tạo nền cho sự  
học chữ Hán, có rất đông học trň. Ngay phát triển Nho học. Do vậy, nhà chùa đã  
tại các lŕng ấy đều có đền thờ. Những di trở thành trường học dạy chữ Hán và nhà  
tích này chứa đựng nhiều nội dung truyền sư không chỉ là những người truyền bá tư  
thuyết và huyền thoại. Nhưng chắt lọc từ tưởng đạo Phật, mà cũng trở thành người  
truyền thuyết, huyền thoại đó chúng ta sẽ truyền bá Nho học. Họ là tầng lớp trí thức  
thấy được phần nào quy mô, hoạt động có vai trò lớn trong bộ máy chính quyền và  
giáo dục thời ấy [5, tr.57].  
xã hội sau này.  
40  
Vũ Duy Mền  
Sĩ Nhiếp là một trong những người đầu  
tiên thuộc “lớp người Hán-Việt”, tuy là  
người “gốc Hán” nhưng có “chất Việt đậm  
đà”. Vì thế, Sĩ Nhiếp rất am hiểu sinh hoạt  
văn hóa và tín ngưỡng dân gian của người  
Việt. Ông đã dung hòa được tinh thần của  
đạo Nho, đạo Phật với tín ngưỡng bản địa.  
Điều này khiến Sĩ Nhiếp thành công hơn  
những người tiền nhiệm trong việc đưa Nho  
giáo thâm nhập vào đời sống Giao Châu, hạn  
chế được sự chống đối của nhân dân với giai  
cấp thống trị. Có thể thấy, ở Giao Châu thời  
bấy giờ, Nho - Phật - Lão bắt đầu quyện vào  
nhau dưới sự chỉ huy của Thái thú Sĩ Nhiếp,  
người mà các nhà Nho Việt Nam đời sau gọi  
là “Nam Giao học tổ”, tức ông tổ của Nho  
học phương Nam, khác với Nho học phương  
Bắc [17, tr.14].  
Đánh giá về Sĩ Nhiếp, các sử gia ở từng  
triều đại quân chủ Việt Nam có nhiều cách  
nhìn nhận khác nhau. Sĩ Nhiếp được nhiều  
người coi là một “vị anh hùng” của đất  
nước, được phong là “Đại vương”, được gọi  
là “bậc trí” và cho rằng Việt Nam “là một  
nước văn hiến bắt đầu từ Sĩ Vương”.  
Giai đoạn Bắc thuộc lần thứ hai cũng đã  
diễn ra một số cuộc tranh luận giữa đạo Nho  
và đạo Phật để tranh giành vị thế độc tôn.  
Vào khoảng thế kỷ II - III diễn ra cuộc  
tranh luận về sự phân minh giữa Phật giáo  
và Nho giáo, biểu hiện qua Lý hoặc luận và  
bản thân Mâu Tử. Cũng chính từ đây, xuất  
hiện quan điểm Nho - Phật - Lão hay là  
quan điểm về “Tam giáo đồng nguyên”  
trong văn hóa xã hội cũng như trong lịch sử  
tư tưởng Việt Nam.  
câu hỏi và đáp, trong đó chỉ có 5 câu đầu  
nói về Phật và Phật giáo, 7 câu sau cùng nói  
về Lão Tử và Lão giáo, 25 câu còn lại là  
những câu Nho gia hỏi Phật giáo và Mâu  
Tử trả lời. Kết cấu cuốn Lý hoặc luận cho  
thấy rằng thời bấy giờ Phật giáo là đối  
tượng công kích chính của Nho giáo, và  
Nho giáo cũng là đối tượng phản bác chính  
của Phật giáo. Nói chung, cái sai trong thái  
độ phê phán của các nhà Nho đối với Phật  
giáo là ở chỗ, họ bao giờ cũng lấy Nho giáo  
làm chuẩn mực của chân lý, tuy rằng Phật  
giáo không công nhận chuẩn mực đó. Cho  
nên khi trả lời, Mâu Tử đã ví Phật giáo như  
mặt trời ở giữa, Nho giáo như đuốc sáng,  
Phật giáo như núi Thái Sơn, như sông  
Trường Giang, còn Nho giáo thì gò đống,  
như ngòi lạch.  
Sau này, vào đầu thế kỷ V, có thêm cuộc  
tranh luận diễn ra tại Giao Chỉ, dưới hình  
thức trao đổi thư từ giữa hai bên, một bên là  
Sứ quân Lý Miễu (người Trung Quốc) và  
một bên là hai nhà sư Giao - Châu Thích  
Đạo Cao và Thích Pháp Minh. Họ tranh  
luận về việc “thấy hay không thấy chân  
hình của Phật”. Trong 6 lá thư trao đổi, nổi  
lên 3 vấn đề: lý do tồn tại của Phật giáo trên  
đất Hán là gì? Lý thuyết Chu - Khổng  
(Nho) có phải là mẫu mực cho việc giải  
quyết sự việc đời nay hay không. Nói về  
kiếp sau thì lý thuyết của Phật giáo khác gì  
Nho giáo không?  
Trong lá thư thứ nhất, Lý Miễu đặt câu  
hỏi: tại sao không thấy được hình ảnh thật  
của Phật ở đời? Trong thư trả lời, Thích  
Đạo Cao đã nói: không thấy được hình ảnh  
thật của Phật, cũng như lúc bấy giờ không  
thể không tin. Trong là thư thứ hai, Lý  
Miễu hỏi: việc Phật ngày nay ở đâu? Thích  
Đạo Cao đã trả lời rằng: chỗ nào cũng là  
Mâu Tử là người quận Thương Ngô,  
Trung Quốc. Vào những năm 195 - 198,  
Mâu Tử viết sách Lý hoặc luận, nhằm lý  
giải những điều mê lầm của một số người  
không hiểu đạo Phật. Tác phẩm gồm có 37  
41  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
để làm quan dưới triều Đường, một loại  
khác là để tiếp thu những tiến bộ của văn  
minh Trung Hoa, từ đó suy tư về vận mệnh  
quốc gia, tìm cách chống lại ách đô hộ.  
Trong một lãnh thổ luôn có sự nổi dậy  
chống lại ách thống trị ngoại bang như Giao  
Chỉ, số người theo học Nho ở đây theo kiểu  
thứ hai không phải là ít.  
việc của Phật, không thể quy hết vào vai trò  
của Nho.  
Việc Đạo Cao, Pháp Minh mượn Phật để  
chống Nho thực ra chỉ là một biểu hiện của  
cuộc đấu tranh gay go, phức tạp, nhiều mặt  
của người Việt Nam nhằm bảo vệ nền văn  
hóa cổ truyền cùng sự sống còn của dân tộc  
trước âm mưu nô dịch và đồng hóa của  
ngoại bang dưới thời Bắc thuộc.  
Từ đời Đường trở đi, chế độ khoa cử trở  
nên khá phổ biến. Triều Đường theo định  
kỳ đã tổ chức các khoa thi Tiến sĩ ở kinh  
Các cuộc tranh luận trên cho thấy, cả  
người theo Nho giáo và người theo Phật  
giáo đều ra sức chứng minh tính đúng đắn đô. Những người đỗ Tiến sĩ được bổ quan  
và sự cần thiết của mình trong xã hội. Lẽ chức, tham gia vào bộ máy chính quyền của  
của mỗi bên, cho thấy Nho giáo không thể  
tự mình giải thích hết cuộc sống, cần phải  
có Phật giáo bổ sung; Phật giáo cũng không  
thể thỏa mãn hết yêu cầu của con người,  
cần có Nho giáo thêm, để giải thích thấu  
đáo mọi đòi hỏi của cuộc sống xã hội.  
Nhà nước quân chủ. Thời kỳ này, Nho sĩ ở  
Giao Chỉ khá đông đảo. Họ đòi hỏi được  
học tập, được đi thi ngày càng nhiều, và  
những người đỗ đạt, làm quan cũng rất  
đông. Điều này không phải là ý đồ của triều  
đình nhà Đường, nên Thiên triều đã tìm  
cách hạn chế. Thời Đường Vũ Tông, niên  
hiệu Hội Xương thứ 5 (năm 845), quy định:  
“con em của các bậc công khanh và trăm  
3.3. Giai đoạn Bắc thuộc lần thứ ba (603 - 906)  
Trong giai đoạn này, việc truyền bá đạo quan cùng với kẻ sĩ trong kinh kỳ và sĩ  
Nho gắn với việc học hành thi cử, đào tạo  
và bồi dưỡng nhân tài cho một thiết chế nhà  
nước quân chủ. Nhiều dấu hiệu chứng tỏ  
rằng, trong tầm ảnh hưởng của nhà Đường,  
trường học đã được đưa đến tận một số thôn  
xã; sách kinh điển của Nho giáo cũng được  
nghiên cứu và thảo luận trong phạm vi rộng  
rãi. Việt điện u linh có nhắc đến chuyện  
Triệu Xương lập hương hiệu (trường làng)  
tại Đường An. Việt Nam tập lược cho biết:  
“Đời Đường, Vương Phúc Thời làm quan  
Lệnh ở Giao Chỉ, rộng mở văn giáo, sĩ dân  
cho là người có đức, đến nay vẫn còn thờ”,  
và việc “viên Đô úy An Nam là Mã Tổng  
giảng dạy Nho học cho người địa phương,  
ai nấy đều phục” [17, tr.123-124]. Tuy  
nhiên, động cơ học Nho học của người  
Giao Chỉ lúc bấy giờ có hai loại, một loại  
nhân ngoài châu phủ mà theo đòi học Minh  
kinh và Tiến sĩ, đã ghi tên vào nhà Giám và  
nhà Quan học, đều phải khảo thí. Con số ở  
các đạo đưa về kinh đô… Tiến sĩ không  
được quá 8 người, Minh kinh không được  
quá 10 người” [26, tr.99].  
Tuy nhiên, nhà Đường cũng muốn lợi  
dụng việc học hành thi cử để nắm lấy kiểm  
soát các Nho sĩ Trung nguyên cũng như ở  
các Đô hộ phủ với tham vọng độc chiếm  
nhân tài trong thiên hạ, phục vụ cho lợi ích  
của vương triều. Vì vậy, có một số con em  
người Việt sang học và thi đỗ ở kinh đô  
Trường An (Trung Quốc) đã bị giữ lại làm  
quan cho chính quyền nhà Đường. Chẳng  
hạn, Phùng Đái Trí (cuối thế kỷ VII đầu thế  
kỷ VIII), từng du học đất Bắc và được  
Đường Cao Tổ ngợi ca tài thơ của ông.  
42  
Vũ Duy Mền  
Khương Công Phụ (thế kỷ VIII), người trí thức Nho - Phật đã phát triển hơn cả về  
huyện Cửu Chân, đất Ái Châu (nay thuộc xã số lượng và chất lượng, tự họ nhận thấy tiếp  
Định Thành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh thu Nho học là một nhu cầu tất yếu để  
Hóa), và cha của ông (là Đĩnh) từng làm giành độc lập, tự chủ. Vì thế, họ đã chủ  
chức Huyện lệnh. Do học giỏi và nhờ gia động học và phát triển mở rộng tới các tầng  
đình có quyền thế, nên Khương Công Phụ lớp trong xã hội. Hiện tượng này ở cuối thời  
được sang Trường An thi Tiến sĩ và đỗ đầu, kỳ Bắc thuộc đã biểu hiện rõ rệt.  
dưới đời Đường Đức Tông (780 - 804). Sau  
đó ông được bổ làm quan trong triều đình  
phương Bắc tới chức Gián nghị đại phu,  
được vua Đường rất quý trọng. Khương  
Công Phục, là em của Khương Công Phụ,  
thi đỗ Tiến sĩ và cũng được giữ lại làm quan  
ở Trung Quốc, chức Tỷ bộ lang trung. Liêu  
Hữu Phương (cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ  
IX), người Giao Châu, năm 815 sang Trung  
Quốc thi Tiến sĩ, nhưng không đỗ; sau đó thi  
lại và đỗ, đổi tên là Du Khanh, được bổ chức  
Hiệu thư lang. Ông rất nổi tiếng về thơ văn,  
từng được Liễu Tông Nguyên (773- 819)  
ngợi khen [16, tr.135].  
Đạo Nho bên cạnh đạo Phật, đạo Lão  
hình thành nên hiện tượng “Tam giáo đồng  
nguyên”, tồn tại trong đời sống tinh thần, tư  
tưởng ở Giao Châu suốt thời kỳ Bắc thuộc.  
Giữa ba dòng tư tưởng này đã diễn ra cuộc  
đấu tranh tôn giáo âm thầm, sâu sắc, để tạo  
nên sự cân bằng trong đời sống tinh thần  
của người Việt trong suốt thiên niên kỷ đầu  
Công nguyên. Các tôn giáo dung hòa và bổ  
sung lẫn nhau, thỏa mãn các yêu cầu của  
đời sống xã hội. Nho giáo chi phối con người  
về mặt lý tính và nghĩa vụ xã hội; Phật giáo chi  
phối con người về mặt tình cảm, tư tưởng và  
ước mơ nhân đạo; Đạo giáo chi phối con  
người về mặt ý chí khắc phục khó khăn trần  
thế bằng phương thuật bí ẩn.  
4. Kết luận  
Quá trình tiếp nhận chữ Hán và Nho giáo  
bước đầu hình thành một nền giáo dục mới  
được tổ chức chặt chẽ và có hệ thống: nền  
giáo dục Nho học. Đặc biệt từ đời Đường trở  
đi, việc truyền bá Nho giáo ở An Nam gắn  
liền với việc học hành, thi cử… Có người  
Việt đã đỗ đạt cao tại những cuộc thi ở  
Trường An (kinh đô nhà Đường), được giữ  
lại làm quan trong bộ máy chính quyền nhà  
Đường. Ngoài việc học tập quan phương,  
việc học hành bình dân vẫn tiếp tục phát  
triển tại ở một số chùa chiền; ở đó, các nhà  
sư đồng thời là thày dạy học và các học trò  
được học cả về Phật học và Nho học. Tuy  
vậy, đại bộ phận nhân dân, tầng lớp chưa  
được tiếp cận với hệ thống giáo dục của triều  
đình, vẫn lưu giữ nền giáo dục dân gian từ  
Cũng như Phật giáo, Nho giáo được du  
nhập vào Giao Châu từ thời Bắc thuộc,  
khoảng những thế kỷ đầu Công nguyên.  
Vào thời kỳ này, Nho giáo chỉ mới được  
tiếp nhận trong một bộ phận của tầng lớp  
cầm quyền, còn phần lớn người Việt vẫn  
sống theo phong tục tập quán truyền thống  
có từ trước.  
Quá trình du nhập Nho giáo vào Giao  
Châu đi từ thụ động đến chủ động. Từ chỗ  
xa lạ, người Giao Châu đã dần làm quen với  
Nho giáo, rồi có sự thay đổi trong nhận  
thức, trong thái độ từ phản ứng chống đối  
đến tiếp thu, từ công cụ đồng hóa của kẻ cai  
trị trở thành công cụ giáo dục của nhân dân.  
Khi ý thức dân tộc được nâng cao, tầng lớp  
43  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
Tài liệu tham khảo  
bao đời, phát triển song song bên cạnh xu  
hướng giáo dục mới hình thành.  
Sự du nhập của Nho giáo ở Giao Châu  
thời Bắc thuộc góp phần hình thành một  
tầng lớp trí thức mới: trí thức Nho giáo và  
trí thức Nho - Phật. Đặc biệt, tầng lớp trí  
thức Nho - Phật sau này có vai trò rất lớn  
trong công cuộc khôi phục và phát triển đất  
nước thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý- Trần.  
Trí thức Giao Châu thời Bắc thuộc là  
những người được đào tạo qua sách vở  
bằng chữ Hán. Ngoài giới Nho sĩ giỏi về  
Hán học, một lớp thiền sư nhà chùa cũng  
rất am tường chữ Hán, vì đây đã là thứ chữ  
của người Việt dùng để thâu hóa và phiên  
dịch văn học Ấn Độ, nhất là về tôn giáo  
như Bà La Môn và Phật giáo. Nhờ giỏi chữ  
Hán mà trí thức Phật giáo đã đi sâu tìm hiểu  
giáo lý nhà Phật; đọc được kinh, kệ, dịch ra  
Hán văn; và qua chữ Hán, họ học chữ Phạn  
để hiểu được Phật giáo từ gốc rễ của nó. Từ  
thế kỷ VII, đã xuất hiện một số cao tăng  
người Việt tinh thông chữ Phạn, chữ Hán.  
Họ tiêu biểu cho một tầng lớp trí thức Phật  
giáo bắt đầu hình thành. Từ đó về sau, tầng  
lớp trí thức Phật giáo này chuyển dần sang  
tầng lớp trí thức dân tộc tham gia giành độc  
lập. Những hoạt động của các Thiền sư  
Định Không, Khuông Việt, Pháp Thuận…  
đã minh chứng cho vị trí xã hội của các trí  
thức Phật giáo Đại Việt.  
[1] Phan Đại Doãn (1999), Một số vấn đề Nho giáo  
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[2] Phan Đại Doãn (1999), Nho giáo và sự phát triển  
ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[3] Lê Anh Dũng (1994), Con đường tam giáo ở  
Việt Nam từ khởi nghiệp đến thế kỷ XIX, Nxb  
Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.  
[4] Quang Đạm (1994), Nho giáo Xưa và Nay,  
Nxb Văn hóa, Hà Nội.  
[5] Ngô Vũ Hải Hằng (2003), “Vai trò của Sĩ Nhiếp  
trong việc xây dựng nền móng Nho học ở Luy  
Lâu”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 (330).  
[6] Nguyễn Hùng Hậu (2003), Đại cương triết học  
Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[7] Vũ Khiêu (Chủ biên) (1990), Nho giáo Xưa và  
Nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[8] Lê Văn Lan (1994), “Nền văn minh sông  
Hồng và số phận của sự xâm nhập Nho giáo  
vào cấu trúc cổ truyền của nó”, Nho giáo tại  
Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[9] Nguyễn Lang (2008), Việt Nam Phật giáo sử  
luận, t.1, t.2, t.3, Nxb Văn học, Hà Nội.  
[10] Phan Ngọc Liên (2006), Giáo dục và thi cử  
Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945,  
Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.  
[11] Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1967),  
Đại Việt sử ký toàn thư, t.1, t.2, Nxb Khoa học  
xã hội, Hà Nội.  
[12] Nhà sử học Trần Văn Giáp, Nxb Khoa học xã  
hội, Hà Nội, 1996.  
Trải qua thiên niên kỷ đầu Công nguyên,  
với nhiều bước thăng trầm, sự du nhập của  
Nho giáo đã có những ảnh hưởng nhất định  
trong đời sống xã hội Giao Châu. Tuy  
nhiên, sự kết hợp kỳ diệu của hiện tượng  
“Tam giáo đồng nguyên” (Nho-Phật-Đạo)  
cùng với tín ngưỡng dân gian của người  
Việt đã khiến Nho giáo ngày một khẳng  
định vững chắc hơn vị thế trong xã hội.  
[13] Nho giáo ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội,  
Hà Nội, 2006.  
[14] Trần Nghĩa (1991), “Lý hoặc luận, bông hoa  
đầu mùa của Phật giáo Luy Lâu”, Tạp chí Hán  
Nôm, số 1 (10).  
[15] Trần Nghĩa (1995), “Sáu bức thư hay cuộc tranh  
luận sôi nổi giữa Đạo Cao, Pháp Minh với Lý  
44  
Vũ Duy Mền  
[21] Đinh Khắc Thuân (2009), Giáo dục và khoa cử  
Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán  
Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Miễu về việc không thấy chân hình của Phật”,  
Tạp chí Hán Nôm, số 2 (35).  
[16] Trần Nghĩa (2000), Sưu tầm và khảo luận tác  
phẩm chữ Hán của người Việt trước thế kỷ X,  
Nxb Thế giới, Hà Nội.  
[22] Nguyễn Đăng Thục (1967), Lịch sử tư tưởng  
Việt Nam, t.1, Bộ Văn hóa, Sài Gòn.  
[23] Nguyễn Tài Thư (1997), Nho học và Nho học  
ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực  
tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[17] Trần Nghĩa (2005), “Thử bàn về thời điểm du  
nhập cùng tính chất, vai trò của Nho học Việt Nam  
thời Bắc thuộc”, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (68).  
[18] Bùi Văn Nguyên (1994), “Vài nét về tinh thần  
chống ý thức hệ Nho giáo trong văn học dân  
gian Việt Nam”, Nho giáo tại Việt Nam, Nxb  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[24] Thích Thanh Từ (1973), Thiền sư Việt Nam,  
Tu viện Chơn Không, Sài Gòn.  
[25] Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1992), Văn khắc  
Hán Nôm Việt Nam: Tuyển chọn và lược thuật,  
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[26] Viện Triết học (1994), Nho giáo tại Việt Nam,  
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[19] Lê Tắc (1961), An Nam chí lược, Viện Đại học  
Huế, Huế.  
[27] Viện Triết học (2002), Lịch sử tư tưởng Việt  
Nam - Văn tuyển: tư tưởng Việt Nam từ đầu  
Công nguyên đến cuối thời Lý, Nxb Chính trị  
quốc gia, Hà Nội.  
[20] Hà Văn Tấn (Chủ biên) (2002), Khảo cổ học  
Việt Nam: Khảo cổ học lịch sử Việt Nam, t.3,  
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
45  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 14340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự du nhập Nho giáo vào Giao Châu thiên niên kỷ đầu Công nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_du_nhap_nho_giao_vao_giao_chau_thien_nien_ky_dau_cong_ngu.pdf