Thuyết Việt Nam (Giai đoạn 1986-2010) viết về Lịch sử và chiến tranh - Một cái nhìn khái quát

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
THUYẾT VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 1986-2010) VIẾT VỀ LỊCH SỬ  
VÀ CHIẾN TRANH - MỘT CÁI NHÌN KHÁI QUÁT  
ThS. Dương Minh Hiếu1  
TÓM TẮT  
Bài viết tập trung làm rõ các đặc điểm riêng, nổi bật của hai nhóm tiểu  
thuyết Việt Nam (giai đoạn 1986-2010) viết về chiến tranh và viết về lịch sử.  
Cùng lấy cảm hứng từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,  
song tiểu thuyết sử thi và phi sử thi (thuộc nhóm viết về chiến tranh) lại có rất  
nhiều khác biệt ở tư duy nghệ thuật. Tương tự, cũng viết về lịch sử trung đại Việt  
Nam song tiểu thuyết thuật sử và giải lịch sử (thuộc nhóm viết về lịch sử) không  
hề tương đồng về thi pháp. Tất cả đều góp phần quan trọng đa dạng hóa thể tài  
nói riêng, thúc đẩy quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam nói  
chung.  
Từ khóa: sử thi, phi sử thi, thuật sử, giải lịch sử.  
1.Đặt vấn đề  
2. Tiểu thuyết viết về chiến  
tranh  
Có nhiều cách nhận diện tiểu  
thuyết Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến  
2010. Một số nhà nghiên cứu như Phan  
Cự Đệ [1], Nguyễn Thị Bình [2],  
Nguyễn Văn Long [3] đã phân chia tiểu  
thuyết thời gian này theo những đề tài  
hoặc phong cách, khuynh hướng khác  
nhau. Trong bài viết này, căn cứ trên  
phương diện đề tài, chúng tôi sẽ tiến  
hành khảo sát hai nhóm: tiểu thuyết viết  
về chiến tranh và tiểu thuyết viết về lịch  
sử. Ở các bài tiếp theo, chúng tôi sẽ  
trình bày các nghiên cứu về hai nhóm  
còn lại; tiểu thuyết viết về thế sự và tiểu  
thuyết viết về nông thôn. Mục đích của  
chúng tôi là nhằm cố gắng xác định và  
phân loại các nhóm đề tài lớn, chính  
yếu, đồng thời chỉ ra những đặc điểm,  
khuynh hướng, phong cách trong từng  
nhóm và khái quát về sự vận động, phát  
triển chung của tiểu thuyết Việt Nam kể  
từ Đổi mới đến thời điểm 2010.  
Từ 1975 đến 1986, nhiều nhà văn  
mà đa phần vốn mặc áo lính vẫn tiếp  
tục cầm bút cùng nguồn cảm hứng từ  
cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.  
Như Ngô Vĩnh Bình từng nhận xét:  
“mảng văn học về đề tài chiến tranh,  
đội ngũ những người viết văn trong  
quân đội giữ một vị trí rất quan trọng  
cả về số lượng và chất lượng” [4,  
tr.96]. Các tác phẩm tiêu biểu là: Mở  
rừng (1976) của Lê Lựu, Miền cháy  
(1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977)  
của Nguyễn Minh Châu, Nắng đồng  
bằng (1977) của Chu Lai, Năm 1975  
họ đã sống như thế (1978) của  
Nguyễn Trí Huân, Thung lũng thử  
thách (1978), Họ cùng thời với ai  
(1980) của Thái Bá Lợi, Trong cơn  
gió lốc (1979) của Khuất Quang Thụy,  
Đất trắng (tập 1-1979, tập 2-1984)  
của Nguyễn Trọng Oánh, Cửa gió  
(1981) của Xuân Đức, Biển gọi (1982)  
1Trường Đại học Đồng Nai  
117  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
của Hồ Phương, Thời gian của người  
(1983) của Nguyễn Khải, Những  
người báo bão (1983) của Vân Thảo,  
Đất miền Đông (1984) của Nam Hà,  
Sao đổi ngôi (1985) của Chu Văn,  
Người lính mặc thường phục (1986)  
của Mai Ngữ,…  
lượng lớn, thể hiện những đề tài lịch  
sử - dân tộc. Những tác phẩm này vừa  
là tiểu thuyết, đồng thời có nhiều  
thuộc tính gần gũi với thể loại sử thi  
cổ đại hoặc trung đại (tầm bao quát,  
tính hoành tráng của những sự kiện có  
tầm thời đại, cảm hứng dân tộc hoặc  
lịch sử, mô tả các sự kiện hoặc xung  
đột có tính chất bước ngoặt như chiến  
tranh cách mạng,…” [5, tr.230].  
Từ Đổi mới (1986), đề tài chiến  
tranh được khai thác ở những góc nhìn  
đa dạng hơn, giàu chất tiểu thuyết  
hơn. Bên cạnh các sáng tác còn đậm  
phong cách sử thi, một số tác phẩm  
của Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang  
Thụy, Lê Lựu, Chu Lai, Bảo Ninh,…  
đã thể hiện sự chuyển mình, sự đột  
phá quan trọng về tư duy nghệ thuật  
của người cầm bút. Niềm say mê hình  
tượng những con người chiến thắng  
được thay thế bằng cái nhìn của ký ức,  
hoài nghi, đa chiều rất rõ. Nhà văn kể  
về quá khứ “một thời đạn bom” chủ  
yếu bằng điểm nhìn bên trong, bằng  
bao tâm tư, tình cảm rất riêng. “Chất  
tiểu thuyết” - nói theo các nhà lý luận  
- nhờ đó, đậm đặc hơn.  
Theo chúng tôi, tiểu thuyết sử thi  
là những tác phẩm viết về chiến tranh  
với nội dung đi sâu vào các vấn đề lớn  
lao của dân tộc trong cuộc chiến  
chống giặc ngoại xâm, như: độc lập  
dân tộc, sự tự do và quyền làm chủ đất  
nước, vấn đề trách nhiệm công dân và  
lý tưởng thời đại,... Sứ mệnh, mục tiêu  
vì “một nền văn học tiên phong chống  
đế quốc” được đặt lên hàng đầu, có ý  
nghĩa quyết định đến ý thức của chủ  
thể sáng tạo. Hình tượng nhân vật  
trung tâm là người lính hiện thân cho  
ý chí, niềm tin, tinh thần dũng cảm,  
ngoan cường, mưu trí, lòng yêu nước  
của con người Việt Nam. Lời văn hào  
hùng, cảm hứng ngợi ca, nghệ thuật  
trần thuật bao quát, chú trọng hành  
động và lý trí “lý tưởng” nhiều hơn  
tình cảm riêng tư.  
Như đã trình bày, lấy tiêu chí cảm  
hứng chủ đạo và phong cách chính  
trong các tiểu thuyết nổi bật viết về  
chiến tranh, chúng tôi tạm chia tiểu  
thuyết viết về chiến tranh làm hai  
dạng: tiểu thuyết sử thi và tiểu thuyết  
phi sử thi.  
Nếu từ 1954 đến 1975, ở miền  
Bắc xã hội chủ nghĩa đã có đến 173  
tập tiểu thuyết viết về đề tài chiến  
tranh đã được xuất bản (theo Đặng  
Quốc Nhật) thì từ 1986 đến 2004, tiểu  
thuyết sử thi Việt Nam giảm hẳn về số  
lượng và không gây được nhiều tiếng  
vang. Ông cố vấn - Hồ sơ một điệp  
viên (1987) của Hữu Mai, Tư Thiên  
2.1.Tiểu thuyết sử thi  
Tiểu thuyết sử thi, theo Từ điển  
thuật ngữ văn học, là: “Tên gọi ước lệ  
(ghép tên gọi thể loại “sử thi” - époée  
với tên gọi thể loại tiểu thuyết” -  
roman) để chỉ những sáng tác tiểu  
thuyết (từ thế kỉ XIX - XX) có dung  
118  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
(1994) của Xuân Thiều, Một ngày và  
một đời (1997) của Lê Văn Thảo,  
Trong vùng Tam giác sắt (1995) của  
Nam Hà, Người cùng quê (ba tập đã  
lần lượt được xuất bản vào các năm  
1985, 1995 và 1997) của Phan Tứ là  
những tác phẩm đáng chú ý nhất.  
yếu, tác giả phải tôn trọng nguyên tắc  
này, nhân vật được hư cấu theo  
nguyên mẫu, có khi là người thực.  
Người viết hoàn toàn có thể khám phá  
những bí ẩn giấu sau những sự kiện  
lịch sử, sự kiện chiến tranh với sự  
trung thực và khách quan. Mối quan  
hệ giữa sự kiện lịch sử, sự kiện chiến  
tranh với nhân vật là mối quan hệ hữu  
cơ, tác động và chi phối lẫn nhau,  
trong đó nhân vật giữ vai trò quyết  
định. Liên bộ tiểu thuyết sử thi của tôi  
về mười năm chiến tranh (1965 -  
1975) được viết theo tinh thần ấy” [6].  
Ông cố vấn - Hồ sơ một điệp  
viên, kể về cuộc đời hoạt động cách  
mạng với nhiệm vụ làm tình báo trong  
lòng địch của Vũ Ngọc Nhạ (từ tháng  
12/1959 đến ngày Miền Nam hoàn  
toàn giải phóng). Từng làm cố vấn  
cho cả Ngô Đình Nhu và Nguyễn Văn  
Thiệu, Hai Long (Vũ Ngọc Nhạ) đã có  
nhiều đóng góp quan trọng cho sự  
nghiệp đấu tranh cách mạng thống  
nhất đất nước. Tiểu thuyết Tư Thiên  
miêu tả trận chiến ác liệt 23 ngày đêm  
của trung đoàn 7 tại thành phố Huế  
trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Các  
anh đã chiến đấu dũng cảm, ngoan  
cường, gây tổn thất lớn cho địch và  
hoàn thành mục tiêu, kế hoạch đã đề  
ra. Một ngày và một đời thì thông qua  
nhiều người kể chuyện ở ngôi thứ ba,  
tác giả thuật lại cuộc đời, con đường  
đến với các mạng và cuộc chiến đấu  
ngoan cường của một nữ biệt động Sài  
Gòn hi sinh trong trận đánh Mậu Thân  
năm 1968,...  
Nhìn chung, có thể mượn lời Trần  
Việt Dũng để đánh giá về những tác  
phẩm nói trên cũng như hầu hết những  
tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh  
được xuất bản giai đoạn 1975 - 1986:  
“Các tác phẩm viết về chiến trường  
thực ra chỉ phô bày sự hiểu biết về  
chiến trường, kể chuyện chiến trường  
hơn là thể hiện một thái độ rất tôi của  
tác giả. Không có cá tính, đúng hơn là  
chối bỏ cá tính, chối bỏ quan niệm  
riêng của mình trước hiện thực là một  
trong những nguyên nhân tạo nên tình  
trạng yếu kém của các tác phẩm văn  
học của ta” [7, tr.129].  
Trước sự thưa vắng của tiểu  
thuyết sử thi, Bộ Quốc phòng mà trực  
tiếp là Tổng cục Chính trị đã tổ chức  
cuộc vận động nhắm khuyến khích  
các sáng tác tiểu thuyết sử thi về đề tài  
chiến tranh cách mạng và người lính  
nhân dịp 60 năm thành lập Quân đội  
Nhân dân Việt Nam. Cuộc vận động  
khá thành công, đã thu hút gần 100  
nhà văn từ khắp mọi miền đất nước  
Còn về các tác phẩm đậm chất sử  
thi của mình thì chính nhà văn Nam  
Hà đã chia sẻ: “Tiểu thuyết sử thi  
khác với tiểu thuyết thông thường là  
những sự kiện lịch sử, sự kiện chiến  
tranh và những con người chủ yếu  
tham gia trực tiếp vào cuộc chiến  
tranh có một vị trí quan trọng và chủ  
119  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
tham gia. Đến năm 2010 đã có 70 tác  
phẩm (gồm nhiều thể loại) được  
nghiệm thu, cho xuất bản. Về tiểu  
thuyết có các tác phẩm tiêu biểu:  
Những bức tường lửa (Khuất Quang  
Thuỵ), Đất không đổi màu (Nguyễn  
Quốc Trung), Thượng Đức (Nguyễn  
Bảo Trường Giang), Tiếng khóc của  
Nàng Út (Nguyễn Chí Trung), Sóng  
chìm (Đình Kính), Xuân Lộc (Hoàng  
Đình Quang), Mùa hè giá buốt (Văn  
Lê), Phòng tuyến Sông Bồ (Đỗ Kim  
Cuông), Ngày rất dài (Nam Hà), Màu  
rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy), Biến  
xanh màu lá (Nguyễn Xuân  
Thủy), Cõi đời hư thực (Bùi Thanh  
Minh), Bên dòng Sầu Diện (Nguyễn  
Đình Tú), Không phải huyền thoại  
(Hữu Mai), Những cánh rừng lá  
đỏ (Hồ Phương), Kinh thành rực lửa  
(Nguyễn Quang Hà), Sóng Hàm  
Luông (Thanh Giang), Dòng sông bụi  
đỏ (Nguyễn Đình Chính), Khúc bi  
tráng cuối cùng (Chu Lai), Đường  
thời đại (Đặng Đình Loan),…  
bút tô đậm. Giọng văn cơ bản vẫn rất  
hào hùng, khí thế; yếu tố sự kiện được  
chú ý hơn diễn biến tâm lý, đời sống  
nội tâm. Những khoảng khắc riêng tư  
như dằn vặt, day dứt, khát khao, dao  
động,… tuy đã được ít nhiều khai thác  
song đáng tiếc còn rất mờ nhạt. Cả  
nhân vật lẫn nhà văn đều hướng đến  
một mục đích chung nên cái riêng lẻ,  
cái cá thể trong tính cách - hành vi  
nhân vật và trong cả ý thức sáng tạo  
của người nghệ sĩ vẫn hầu như bị triệt  
tiêu.  
Chẳng hạn, nhân vật Trần Củng  
trong Cõi đời hư thực của Bùi Thanh  
Minh luôn vững vàng: “Lịch sử và tổ  
tiên giao cho thế hệ anh phải hi sinh,  
phải chịu thiệt thòi để cho mầm xanh  
dân tộc hồi sinh. Anh không có gì phải  
ân hận hay so đo tính toán”. Khi trải  
nghiệm những tàn khốc, ác liệt, mất  
mát, đau thương, Trần Củng cũng chỉ  
kết luận: “Chiến tranh là một sự ép  
buộc, nhưng người ta phải tung chăn,  
xông ra giữa đêm đông để đánh bọm  
trộm cướp”. Rõ ràng, nhân vật đã nhìn  
cuộc chiến bằng đôi mắt của trách  
nhiệm lịch sử, của tinh thần thời đại  
và của ý thức dân tộc. Cái cá tính, cái  
tôi riêng như đã hoàn toàn bị chìm  
khuất.  
Ở những tác phẩm vừa nêu, các  
nhà văn đã cố gắng thể nghiệm, tìm  
tòi một số phương thức biểu đạt nghệ  
thuật mới hơn trong việc khai thác đề  
tài chiến tranh nhưng về phong cách  
và dòng mạch chính vẫn còn theo  
hướng sử thi. Nhân vật trung tâm  
thường là những người anh hùng với  
bao phẩm chất cao đẹp như anh dũng,  
kiên trung, sẵn sàng hi sinh vì sự  
nghiệp cách mạng,... Ý chí, nhân cách,  
lý tưởng của họ đều là những tấm  
gương và là niềm tự hào của con  
người Việt Nam. Vận mệnh dân tộc,  
trách nhiệm công dân được người cầm  
Không thể phủ nhận tâm huyết  
của nhà văn nơi các tác phẩm “sử thi  
hiện đại” này. Giá trị giáo dục, tiếng  
nói trân trọng và bồi đắp tình yêu quê  
hương đất nước, niềm tự hào về  
truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ  
vang của dân tộc,… ở đó là rất đáng  
quý. Dù vậy, cũng cần thừa nhận sự  
120  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
đánh giá hết sức khách quan của Phạm  
Tiến Duật như sau: “Cuộc chiến tranh  
giờ đây đang được nhìn ở ba góc:  
trong cuộc, chứng kiến và hình dung.  
Tất nhiên, bằng cả ba góc phản ánh  
đó, chúng ta đều hiểu quyển sách hay  
nhất, đúng với tầm cỡ cuộc chiến  
tranh nhất vẫn chưa ra đời” [8, tr.12-  
13].  
Có thể xem các tiểu thuyết Học  
phí trả bằng máu (1985) của Nguyễn  
Khắc Phục, Chim én bay (1987) của  
Nguyễn Trí Huân và Nước mắt đỏ  
(1988) của Trần Huy Quang là những  
tác phẩm đóng vai trò dấu mốc mở  
đầu cho tiểu thuyết phi sử thi. Trong  
các trang viết của Nguyễn Khắc Phục,  
không khó để tìm thấy những lời kể  
đầy trăn trở, đau đớn đến mụ mị như:  
“Bao nhiêu nấm mộ vô danh mọc lên.  
Bao nhiêu người chết bờ, chết bụi,  
chết đau đớn quằn quại trong những  
trại giam trá hình. Bao nhiêu người  
lên xanh. Bao nhiêu người vượt tuyến  
ra Bắc. Không biết, rối bời, mờ mịt  
như những lớp sương mù đục trắng,  
giăng giăng dưới chân núi Bồ”. Nhân  
vật trung tâm trong Chim én bay và  
Nước mắt đỏ là những người phụ nữ  
đã đi qua chiến tranh như bao anh  
hùng, song tính chất hùng anh ấy mờ  
nhạt hẳn đi nếu so với cuộc sống cứ  
hoài rỉ máu và bi kịch cô đơn sau bao  
tháng ngày bom đạn. Các nhà văn đã  
không ngần ngại đi sâu khai thác,  
miêu tả những vấn đề về nhân tính,  
nhân tình, sự mất mát, hi sinh và nhất  
là về cảm thức của con người cá nhân  
(chúng tôi nhấn mạnh) từng tham gia  
chiến trận. Con người tư duy, trăn trở  
dần thay thế cho kiểu con người hành  
động, con người của lý trí. Ví dụ như  
nhân vật Quy (Chim én bay) đã từng  
quan niệm: “Sao lại hối hận, anh! Nếu  
phải làm lại em cũng sẽ không làm  
khác vì cách mạng khi đó đòi hỏi em  
phải làm như vậy”. Có lúc khẳng khái  
thế, song nhiều hơn thì Quy đã phải  
sống với bao dằn vặt, trăn trở, thổn  
2.2.Tiểu thuyết phi sử thi  
Khác với tiểu thuyết sử thi, tiểu  
thuyết phi sử thi tuy cũng lấy đề tài và  
dựa trên cảm hứng từ cuộc chiến tranh  
giải phóng, thống nhất đất nước nhưng  
không tập trung đi sâu ca ngợi và bảo  
vệ các giá trị “đại tự sự”. Vấn đề đời  
tư, số phận cá nhân, hình tượng con  
người “trải nghiệm” trở thành nội  
dung chính; tính “dân chủ” và “tổng  
hợp” đặc trưng của tiểu thuyết được  
đặc biệt chú trọng. Cụ thể hơn, số  
phận con người cá nhân được khai  
thác ở nhiều góc độ và trở thành cảm  
hứng chủ đạo, chiến tranh chỉ được  
miêu tả như một tác nhân gây ra bao  
hệ lụy, mất mát, hi sinh,… Tiểu thuyết  
phi sử thi không chỉ góp phần đem lại  
đa dạng những góc nhìn về chiến  
tranh mà còn thể hiện những đổi mới  
quan trọng về nghệ thuật, góp phần  
thúc đẩy sự phát triển chung của văn  
học Việt Nam. Đó là sự đổi mới theo  
hướng hiện đại hóa về hình thức,  
hướng đến “cái hiện đại” về nội dung  
- một “cái hiện đại” đúng như O.Paz  
từng chỉ ra là: “Cái hiện đại phá vỡ  
quá khứ tức thời chỉ là để giữ lại cái  
quá khứ ngàn năm” [9].  
121  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
thức không yên. Cái chết của Dũng,  
mùi máu tanh lợm xộc lên sau một  
trận diệt ác, đôi mắt trẻ thơ của một  
đứa bé,… cứ ám ảnh, cứ cứa vào  
những nỗi đau của chị, gây ra vô vàn  
những nhức buốt ghê gớm hơn mọi  
vết thương trên thịt da. Nhân vật này  
sống giữa chập chờn hiện tại và quá  
khứ: hiện tại khơi gợi quá khứ nhưng  
không hoàn toàn nhường bước cho  
quá khứ; quá khứ chỉ bật dậy ở từng  
dấu ấn kỷ niệm đậm nét và day dứt  
nhất. Rõ ràng, những trăn trở, suy  
nghiệm về vị trí, vai trò, trách nhiệm  
của con người với tư cách cá nhân đã  
được chú ý đề cập và khai thác nhiều  
hơn.  
sự” của người lính khi xuất ngũ. Từ  
chuyện mưu sinh, tìm một chỗ đứng  
trong xã hội đến các vấn đề về vị thế,  
nhân phẩm, sự hòa nhập, tình đồng  
đội… Trung Trung Đỉnh trong Lạc  
rừng (1999) không chỉ nói đến việc  
chiến sĩ Bình vẫn tiếp tục cùng đánh  
giặc lúc bị lạc vào một tộc người Ba-  
na mà còn khai thác tấn thảm kịch của  
anh khi đánh mất chính mình giữa một  
nền văn hóa xa lạ. Thông qua Thời  
của những tiên tri giả (1999), Nguyễn  
Viện đưa ra những triết lý, quan điểm  
về cuộc chiến, về các vết thương còn  
lại hay di chứng chiến tranh bằng đôi  
mắt nhìn nhiều khác biệt so với truyền  
thống. Còn ở Đất trắng, Nguyễn  
Trọng Oánh đã kể về một phó chính  
ủy trung đoàn chiêu hồi, hèn nhát, cơ  
hội và vô lương tâm. Giữa những hình  
tượng về anh bộ đội Cụ Hồ dũng cảm,  
kiên cường đã xuất hiện cả những kẻ  
yếu hèn, phản bội được khắc họa khá  
sâu sắc, cụ thể - điều này không dễ  
tìm thấy trong tiểu thuyết sử thi trước  
1986.  
Ở một số tác phẩm khác, mỗi  
nghệ sĩ có thể chọn cho mình cách  
thức riêng với rất ít sự ca tụng và rất  
nhiều tính chất đời tư (chúng tôi nhấn  
mạnh) để viết về “thời đạn lửa” đầy  
khốc liệt. Khuất Quang Thụy trong  
Không phải trò đùa (1988) đã tập  
trung vào những triết lý, trăn trở, trải  
nghiệm hết sức sâu sắc từ điểm nhìn  
người trong cuộc - một người đã thừa  
nhận “ký ức về những ngày tháng gian  
khổ và máu lửa này sẽ mãi mãi đè  
nặng lên tâm hồn tôi”. Đại tá không  
biết đùa (1989) của Lê Lựu thì tập  
trung lột tả hậu quả của bệnh giáo  
điều, cứng nhắc, chủ quan, duy ý chí  
thời chiến tranh và cả những hổ lốn,  
bát nháo thời hậu chiến. Các tác phẩm  
của Chu Lai viết sau 1986 như Vòng  
tròn bội bạc (1987), Ăn mày dĩ vãng  
(1991), Sông xa (1986), Ba lần và một  
lần (1999) vừa tái hiện các trận đánh,  
vừa xoáy sâu vào những vấn đề “thời  
Nói đến tiểu thuyết phi sử thi  
không thể không nhắc đến Nỗi buồn  
chiến tranh (1990) của Bảo Ninh. Đến  
với tác phẩm, không khó để nhận  
thấy: thay cho cuộc chiến chung của  
dân tộc là cuộc chiến như của riêng  
Kiên; thay cho sự tỉnh táo là tâm trạng  
“rối bời bấn loạn” của người kể  
chuyện; thay sự minh mẫn là sự nghi  
hoặc đầy bối rối “tôi không biết, “tôi  
không hiểu gì cả”; thay cho niềm tin  
vững chãi là sự “trống rỗng” và tâm  
thế “như mấp mé bờ vực”; thay cho  
những đồng đội “đêm rét chung chăn  
122  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
thành đôi tri kỉ” là những con người bị  
cuộc chiến hủy hoại cả thể xác lẫn  
tinh thần; thay cho nhân vật trung tâm  
(phải là) người anh hùng chiến trận là  
một cựu chiến binh sống cùng men  
rượu, cùng ký ức đau buồn về thời lửa  
đạn; thay cho hình tượng người lính  
sau khi “vững tay súng” vẫn “chắc tay  
cày”, lại hăng say, lại cống hiến cho  
cuộc sống mới là một người không thể  
hòa nhập, bộn bề dang dở từ chuyện  
tình yêu đến cả những trang viết; thay  
cho lối kể chuyện ngợi ca, có “bi” thì  
cũng phải “tráng” là những trải  
nghiệm, tâm sự, trăn trở, ám ảnh còn  
hơn cả nỗi đau; thay cho logic trật tự  
thời gian là lối trần thuật “tùy tiện”  
như những mảng ký ức bấn loạn được  
lắp ghép ngẫu nhiên,… Cảm xúc chủ  
quan của con người từng nếm trải một  
cuộc chiến tàn khốc ở Nỗi buồn chiến  
tranh rất đậm đặc, sắc nét, nổi bật.  
Nhà văn đã từ bỏ kiểu người kể  
chuyện cũng là nhà chiến lược, chiến  
thuật, người chỉ huy, người tổ chức,  
người lính trong tiểu thuyết sử thi để  
thay vào đó bằng kiểu người kể  
chuyện hạn định với điểm nhìn bên  
trong. Giữa rất nhiều những trang viết  
khai thác đề tài chiến tranh, tác phẩm  
kể trên của Bảo Ninh là một trong  
những thành tựu hàng đầu của nền  
tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.  
ngoài thịt da và trong tâm hồn, trong  
cuộc chiến và sau chiến tranh; ký ức  
về những mất mát của tình người và  
của thời đại, của đạo đức và của cả lý  
tưởng, niềm tin. Nhờ đó, nếu như tiểu  
thuyết sử thi có vai trò cổ động, giáo  
dục, khơi gợi lòng yêu nước và niềm  
tự hào dân tộc thì tiểu thuyết phi sử thi  
lại là tiếng nói phản chiến quyết liệt  
nhân danh các giá trị nhân văn trường  
tồn; nếu tiểu thuyết sử thi như bị  
“đông cứng” ở hình thức và tư duy  
nghệ thuật thì tiểu thuyết phi sử thi đã  
góp phần quan trọng đưa văn học Việt  
Nam trở lại với “quỹ đạo” hiện đại  
hóa cùng những cách tân, sáng tạo  
xứng đáng được đề cao.  
Có thể thấy, tiểu thuyết Việt Nam  
viết về chiến tranh sau Đổi mới vẫn  
còn những tác phẩm thể hiện tính chất  
sử thi với nguồn cảm hứng lãng mạn  
cách mạng tích cực. Nhưng dường  
như tiểu thuyết sử thi đã kết thúc vai  
trò lịch sử của nó. Những giải thưởng  
và các cuộc phát động khó lòng làm  
giảm đi không ít sự nhàm lặp, hạn  
chế, thậm chí gượng gạo, sáo mòn. Và  
khi nhà văn có những thay đổi lớn về  
điểm nhìn, thi pháp,… thì cũng là lúc  
tiểu thuyết phi sử thi ra đời. Nhờ cung  
cấp được nhiều cách nhìn mới mẻ, đa  
chiều, trung thực, tránh lý tưởng hóa  
về chiến tranh, về số phận con người  
và những vấn đề của một thời loạn lạc  
- binh đao, tiểu thuyết phi sử thi đã  
được đông đảo bạn đọc quan tâm, đón  
nhận. Đó chắc chắn cũng sẽ là xu  
hướng chiếm ưu thế, thậm chí là ưu  
thế tuyệt đối của tiểu thuyết viết về  
chiến tranh trong những chặng đường  
Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra  
xu hướng “nhận thức lại” của văn học  
Việt Nam nói chung trước những đề  
tài, câu chuyện thời quá khứ. Riêng  
tiểu thuyết phi sử thi thì đó là sự nhìn  
lại bằng ký ức cá nhân: ký ức về  
những vết thương rát buốt ghê gớm  
123  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
phát triển tiếp theo của nền tiểu thuyết  
Việt Nam.  
Là những tác phẩm tiểu thuyết lấy  
các sự kiện, nhân vật lịch sử trung đại  
Việt Nam làm đối tượng miêu tả bằng  
cái nhìn trân trọng, bằng ngôn từ ngợi  
ca và thái độ tôn trọng lịch sử khách  
quan ở mức cao nhất có thể. Mọi hư  
cấu, sáng tạo về nhân vật, chi tiết đều  
phải dựa trên những sử liệu chính  
thống. Mục tiêu giáo huấn hay tư  
tưởng - thái độ, tình cảm riêng của  
người cầm bút được lồng ghép khéo  
léo và không trở thành “trọng âm”  
(chữ dùng của R. Jakobson), không  
làm thành nội dung chủ đạo. Nhà văn  
“vừa là nghệ sĩ, vừa là nhà nghiên  
cứu, có vốn sống và hiểu biết phong  
phú, có quan điểm lịch sử đúng đắn và  
tiến bộ” [10, tr.205].  
3. Tiểu thuyết viết về lịch sử  
Tiếp bước Ngô Gia văn phái  
(Hoàng Lê nhất thống chí), Nguyễn  
Huy Tưởng (Lá cờ thêu sáu chữ vàng,  
Đêm hội Long Trì, An Tư công chúa),  
Nguyễn Triệu Luật (Bà Chúa Chè,  
Loạn kiêu binh), Phan Bội Châu  
(Trùng Quang tâm sử), Nguyễn Tử  
Siêu (Tiếng sấm đêm đông, Đinh Tiên  
Hoàng, Vua Bố Cái), Đào Trinh Nhất  
(Phan Đình Phùng), Hà Ân (Quận He  
khởi nghĩa, Tổ quốc kêu gọi), Chu  
Thiên (Bóng nước Hồ Gươm),… các  
nhà văn Việt Nam sau 1986 vẫn tiếp  
tục khai thác đề tài lịch sử bằng cách  
mở rộng, tìm mới đối tượng - sự kiện  
hoặc đổi mới về bút pháp, cách thức  
tiếp cận lịch sử, biến những câu  
chuyện lịch sử thành những câu  
chuyện tiểu thuyết,… Các sáng tác  
của Ngô Văn Phú, Lê Đình Danh,  
Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân  
Khánh, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn  
Mộng Giác, Võ Thị Hảo, Hoàng Lại  
Giang, Trần Thu Hằng, Lưu Văn Khê,  
Kiều Thanh Tùng,… đã góp phần  
quan trọng thúc đẩy sự vận động, phát  
triển không ngừng của tiểu thuyết Việt  
Nam bằng những thành tựu cần được  
trân trọng ở nhiều phương diện.  
Những cây bút biên sử bằng tiểu  
thuyết tiêu biểu của Việt Nam từ 1986  
đến 2010 có: Ngô Văn Phú với Gươm  
thần Vạn Kiếp (1991), Ấn kiếm trời  
ban (1998), Cờ lau dựng nước (1999),  
Uy Viễn tướng công (2004), Lý Công  
Uẩn (2006); Lê Đình Danh với Tây  
Sơn bi hùng truyện (2 tập - 2006);  
Hoàng Quốc Hải với bộ Bão táp triều  
Trần (xuất bản từ 1987 đến 2010, gồm  
sáu quyển: Huyền Trân công chúa,  
Bão táp cung đình, Thăng Long nổi  
giận, Vương triều sụp đổ, Đuổi quân  
Mông – Thát, Huyết chiến Bạch  
Đằng), Tám triều vua Lý (2010),…  
Ở đây, cũng căn cứ vào cảm  
hứng, phong cách của nhà văn, chúng  
tôi tạm chia tiểu thuyết viết về lịch sử  
thành hai loại chính: tiểu thuyết thuật  
sử và tiểu thuyết giải lịch sử.  
Cần khẳng định ngay rằng, ở các  
sáng tác kể trên, sự thật lịch sử vẫn là  
ánh sao Khuê đẹp đẽ, đáng tự hào,  
không bị lu mờ, bị làm chuyển sắc.  
Hình tượng các anh hùng dân tộc  
được khắc họa với những nét phẩm  
3.1. Tiểu thuyết thuật sử  
124  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
chất, tính cách rất mực cao cả; những  
sự kiện bám khá sát với chính sử,  
được trần thuật tỉ mỉ bằng bút pháp  
ngưỡng vọng và hảo sảng. Các sáng  
tác của Ngô Văn Phú và Lê Đình  
Danh còn mang đậm diện mạo tiểu  
thuyết chương hồi ở hình thức tổ chức  
tác phẩm (xem thêm [11]). Hai bộ Bão  
táp triều trần và Tám triều vua Lý đã  
dành trọn gần 6.500 trang viết để  
dựng lên một bức tranh toàn cảnh về  
lịch sử huy hoàng của dân tộc ta thời  
Lý - Trần. Tác giả Hoàng Quốc Hải  
tuy có gửi gắm mục tiêu giáo huấn (về  
nhân tình, thế thái và vai trò của lịch  
sử dân tộc) nhiều hơn, cố gắng làm  
cho các hình tượng nhân vật lịch sử  
đời thường hơn, tạo thêm nhiều điểm  
nhìn cả về nhân vật lẫn sự kiện,…  
song chủ yếu vẫn tôn trọng - trân  
trọng lịch sử hoặc khách quan hóa tối  
đa trong trần thuật.  
Không có Trần Thủ Độ thì Đoàn  
Thượng, Nguyễn Nộn vốn bất bình  
với vua Lý mà đã hùng cứ một  
phương cũng sẽ “đánh vào cửa  
khuyết”. Với nhà Trần, Thủ Độ là  
người dựng nghiệp; với dân, với nước  
công lao của ông lại càng to lớn. Khi  
giành vương nghiệp cho nhà Trần,  
ông không gây tai họa cho muôn dân.  
Khi nhà Trần có sự nghiệp, ông đã ổn  
định thời cuộc, thu giang sơn vào một  
mối, làm cho dân giàu nước mạnh, tạo  
cơ sở vững chắc về kinh tế và quân sự  
cho công cuộc chống ngoại xâm lâu  
dài sau này. Có thể thấy thái độ công  
bằng, không thiên kiến, luận rõ công,  
bàn rõ tội của Hoàng Quốc Hải về một  
con người mà chính sử đã vừa ngợi  
ca, suy tôn, vừa phê phán, đôi khi lên  
án.  
Hay như ở các sáng tác của Ngô  
Văn Phú thì Gươm thần Vạn Kiếp tập  
trung kể về cuộc kháng chiến chống  
quân Nguyên - Mông của vua tôi nhà  
Trần; Ấn kiếm trời ban nói đến khởi  
nghĩa Lam Sơn lẫy lừng của Lê Lợi;  
Cờ lau dựng nước thuật truyện Ngô  
Quyền băng hà, đất nước phải chịu  
họa binh đao, Đinh Bộ Lĩnh phất cờ  
dẹp loạn 12 sứ quân; Lý Công Uẩn ca  
ngợi vị vua anh minh, tài ba đã dời đô  
từ Hoa Lư về Thăng Long để làm nên  
“đế đô muôn đời”... Tựu chung là thay  
cho những trang sử có phần quá cô  
đọng, khô khan, trong những tác phẩm  
kể trên, nhà văn đã thêm thắt, bồi đắp  
những chi tiết, những đối thoại, những  
miêu tả tuy nhiều và khá sinh động  
song thực chất chỉ đóng vai trò là  
“đường riềm” cho những bức chân  
Như khi nói về Trần Thủ Độ (Bão  
táp triều Trần), nhà văn Hoàng Quốc  
Hải miêu nhân vật lịch sử còn nhiều  
tranh cãi này có cả bảy đức tốt song  
song với bảy điều bất thiện. Nghệ sĩ  
đánh giá: “Đành rằng trong việc đánh  
bại đối thủ Thái sư cũng có nhiều  
hành vi tàn bạo.... Song le Thái sư bị  
đẩy vào một tình thế bất khả kháng.  
Nếu lúc ấy Thái sư cứ khư khư giữ lấy  
điều thiện nhỏ, chắc chắn ông sẽ phạm  
vào tội ác lớn… Thành thử cái sự giết  
người kia lại là có công chứ không  
phải là có tội, nếu ta xét nó trong hoàn  
cảnh đất nước năm bè, bảy mối”. Để  
phân định rõ ràng hơn công và tội của  
thái sư, người cầm bút đã làm rõ: việc  
nhà Lý suy sụp là không thể cứu vãn.  
125  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
dung lịch sử đã được mặc định (chúng  
tôi nhấn mạnh).  
hay khơi gợi niềm tự hào dân tộc mà  
là những đối thoại hướng đến các vấn  
đề, những ước vọng của con người cá  
nhân thì hiện tại; hình tượng trung tâm  
không chỉ cao cả, trí dũng, hùng  
cường mà còn được miêu tả ở nhiều  
những nét, những vẻ đẹp hết sức đời  
thường. Ở loại này, tư liệu lịch sử đã  
được chuyển hóa thành tư liệu tiểu  
thuyết, nhân vật lịch sử trở thành nhân  
vật tiểu thuyết, thành sản phẩm nghệ  
thuật hư cấu của người nghệ sĩ. Nhân  
vật chỉ còn cái tên là của lịch sử; “cái  
tên” ấy đã được đặt vào một không -  
thời gian mới mẻ, sống động và hết  
sức gần gũi với đời sống thực; “cái  
tên” ấy - thông qua những hành vi,  
ngôn ngữ, dòng ý thức của mình đã  
thể hiện những vấn đề triết lý về nhân  
sinh, thời cuộc một cách sâu xa với  
giọng điệu đặc trưng của tiểu thuyết.  
Tóm lại, ở tiểu thuyết thuật sử,  
những câu chuyện, sự kiện và hình  
tượng danh nhân, người anh hùng dân  
tộc “vang bóng một thời” được nhà  
văn xem như những “tượng đài”, đền  
thiêng” (Chữ dùng của Nguyễn Thị  
Bình) bất khả xâm phạm. Nhà văn,  
bằng khả năng tưởng tượng của mình,  
chỉ cố gắng làm cho các nhân vật và  
sự kiện lịch sử đã hoàn kết trở nên  
sống động và giàu tính thuyết phục  
hơn. Các tác phẩm như là những diễn  
ngôn với mục đích tô đậm bài học lịch  
sử, tôn vinh danh nhân của đất nước;  
chú trọng đề cao, giáo dục lòng yêu tổ  
quốc, niềm tự hào con Lạc, cháu Hồng  
và nhắc nhớ cho các thế hệ sau về  
truyền thống vẻ vang của cha ông ta.  
3.2. Tiểu thuyết giải lịch sử  
Nổi bật trong tiểu thuyết giải lịch  
sử có: Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân  
Khánh, Hội thề của Nguyễn Quang  
Thân, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn  
Mộng Giác, Giàn thiêu của Võ Thị  
Hảo,...  
Là những bộ tiểu thuyết xem lịch  
sử chỉ như “cái cớ” hay phần nền hoặc  
đối tượng khách quan để từ đó nhà  
văn bày tỏ thái độ, quan điểm của  
mình. Những đánh giá, cảm nhận chủ  
quan đó của người cầm bút đã trở  
thành nội dung - mạch cảm hứng đóng  
vai trò chính yếu trong toàn bộ tác  
phẩm. Nói cách khác, các hình tượng  
và sự kiện lịch sử được ghi nhận, đánh  
giá từ nhiều góc nhìn hay thậm chí bị  
thay đổi, làm đảo lộn,… để thông qua  
đó đi sâu khai thác, tập trung vào  
những vấn đề mang đậm tính chất cá  
nhân, giàu tính nhân văn như khát  
vọng tự do, khát vọng tình yêu, giá trị  
cuộc sống,… Mục đích chính của  
người nghệ sĩ không chỉ là ngợi ca  
Trong Hồ Quý Ly (2000), Nguyễn  
Xuân Khánh đem đến cho người đọc  
một hình tượng hào kiệt luôn cháy  
bỏng ước vọng tự do, một đời ôm ấp  
giấc mộng canh tân Đại Việt. Hồ Quý  
Ly từng cảm khái: “Đất nước ta quá ư  
hỗn loạn, cần có một sự thay đổi, cần  
có một sự đảo lộn”. Con người ấy tuy  
ngất trời cái chí mộng dời non lấp bể  
song vẫn chứa chan tình yêu với gia  
đình mà cụ thể là với hiền thê và ái  
nữ. Chi tiết ông ngồi hàng giờ để “hàn  
126  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
huyên” hoặc nhìn vào khuôn mặt  
tượng đá trắng của người vợ đã quá cố  
thực cảm động, cho thấy một trái tim  
thủy chung, son sắc,… Việc Hồ Quý  
Ly soán ngôi cũng được tác giả đặt  
dưới nhiều cách nhìn khen - chê, lên  
án - ngợi ca khác nhau rồi trao quyền,  
trao “thượng phương bảo kiếm” cho  
người đọc tự định đoạt chứ không áp  
đặt chính kiến riêng của mình. Tính  
chất “luận đề” (chữ dùng theo Nguyễn  
Xuân Khánh) bị tước bỏ nghĩa gốc  
hay đúng hơn là chỉ luận đề về thời  
thế, luận đề giải thế sự trong đó cho  
phép mỗi người đọc một người đọc  
đều có quyền luận bàn như ở Hội nghị  
Diên Hồng hay Hội nghị Bình Than!  
Ngôn ngữ giàu tính đối thoại với  
người đọc, nghệ thuật miêu tả nội tâm  
nhân vật được chú trọng, yếu tố huyền  
thoại không còn huyễn hoặc siêu việt  
mà mang tính chất đời thường khá rõ  
nét.  
cái gì chua xót về nhân tình - thế thái  
cổ kim. Có nhiều đoạn, diện mạo bên  
ngoài của nhân vật bị chìm hẳn đi sau  
những dòng ý thức bộn bề và sâu sắc.  
Tác phẩm có một kiểu lặp đi lặp lại  
chủ đề khá độc đáo, hiếm thấy trong  
tiểu thuyết lịch sử. Thời gian nghệ  
thuật không theo tuyến tính mà đa  
chiều, đảo lộn như thể đó là thời gian  
của tâm tưởng, biểu trưng cho một  
thời đại còn nhiều nhiễu nhương và  
lòng người còn lắm gian - chuyên.  
Ở Sông Côn mùa lũ (Tác phẩm  
được xuất bản tại Hoa Kỳ từ những  
năm 1990, 1991 và ở Việt Nam đến  
nay đã được tái bản nhiều lần),  
Nguyễn Mộng Giác đã “vô tình”  
khiến hình tượng Nguyễn Huệ - dù oai  
lẫm, anh hùng - song lại chìm hẳn đi  
dưới số phận nổi nênh của An - người  
con gái lọt vào mắt xanh vị anh hùng  
áo vải từ thuở niên thiếu. Tác phẩm  
thu hút, quyến rũ người đọc không  
phải bởi đoàn binh thần tốc và bách  
thắng của Tây Sơn mà bằng mối tình  
tay ba đầy éo le giữa Nguyễn Huệ,  
Ngọc Hân và An. Việc cưới con gái  
vua Lê chỉ như là bổn phận quốc gia  
hoặc sự lựa chọn chính trị, còn những  
day dứt về mối tình đầu đẹp đẽ với An  
lại là niềm đau không gì bù đắp được  
khi con người cứ phải sống cho cái  
“Ta”, cho những phận sự và địa vị chứ  
không thể sống vì mình, cho mình. Sự  
trớ trêu duyên phận và nỗi đau thổn  
thức dai dẳng của Nguyễn Huệ cũng  
là những bi kịch có tính muôn thuở  
lúc lý trí không hòa hợp với tiếng nói  
con tim. Tác phẩm đã khiến Nguyễn  
Huệ như bị “hạ bệ” chỉ còn một nửa  
Nguyễn Quang Thân trong Hội  
thề (2009) lại tập trung vào những  
hiềm khích rồi xung đột giữa một bên  
là quyền lực giới võ biền (quan võ)  
với tài năng, nhân cách, trí tuệ hơn  
người của nhà văn hóa lớn Nguyễn  
Trãi. Song song việc ca ngợi cái tâm,  
cái tài của đại danh nhân Ức Trai, tác  
giả không ngần ngại chỉ rõ sự xấu xa  
của giới võ biền, vừa hữu dũng mà  
cũng hiểm mưu; song song những câu  
chuyện về một nhân vật vĩ đại của lịch  
sử là khá nhiều những chi tiết - sự  
kiện rất đỗi bình dị của một con người  
cũng thịt cũng da; xen giữa giọng điệu  
ngợi ca là những tiếng thở dài não  
ruột; lồng ghép với cảm xúc tự hào là  
127  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
trí dũng, nữa kia là những giới hạn rất  
thường tình; đã kiến ngai vàng và  
chiến công hiển hách của người anh  
hùng rơi ra khỏi mạch cảm hứng mà  
thay vào đó là tình cảm xót thương và  
cơ man trăn trở về tình yêu, về thân  
phận, về kiếp người vốn quá nhỏ bé,  
bọt bèo, tội nghiệp.  
yêu, lòng thù hận; về “Chữ tâm kia  
mới bằng ba chữ tài”.  
Ngoài các tác phẩm mà theo  
chúng tôi là khá tiêu biểu nêu trên,  
tiểu thuyết giải lịch sử Việt Nam cũng  
cần ghi nhận những đóng góp đáng kể  
của Hoàng Lại Giang với Trương  
Vĩnh Ký, bi kịch muôn đời (2001),  
Trần Thu Hằng với Đàn đáy (2005),  
Lưu Văn Khê với Mạc Đăng Dung  
(2007), Kiều Thanh Tùng với Sắc đẹp  
khuynh thành (2008),… Tất cả đã có  
những đóng góp quan trọng tạo sự đa  
dạng và hấp dẫn cho tiểu thuyết viết  
về lịch sử trung đại Việt Nam.  
So với những tác phẩm vừa dẫn,  
có lẽ Giàn thiêu (2005) của Võ Thị  
Hảo là “giải lịch sử” quyết liệt, triệt để  
hơn cả. Lịch sử thậm chí không còn cả  
cái vị thế là chiếc áo khoác, là vỏ bọc  
cho tiểu thuyết. Như Hoàng Lại Giang  
đã nhận xét: “Các nhân vật lịch sử  
không phải là chính họ mà chỉ là hóa  
thân cho những điều tác giả muốn  
nói” [12, tr.19]. Từ Lộ và kiếp sau của  
ông là Thần Tông hầu như chỉ sống  
giữa ngục tù của tăm tối hận thù, của  
lòng tham quyền lực, của u mê sắc  
dục và của cả một thứ định mệnh cơ  
hồ là nghiệp chướng. Khi chối bỏ tình  
yêu đích thực, cả Từ Lộ và Thần Tông  
đều không có hạnh phúc, đều sống với  
sự vô vị và đằng đẵng buồn đau.  
Quyền lực và danh vọng, việc chiến  
thắng của những mưu đồ hay dù thù  
có được trả thì con người vẫn chẳng vì  
thế mà hạnh phúc, viên mãn. Chỉ có  
tình yêu chân thành, đích thực mới  
sưởi ấm lòng người, tưới mát cây khô,  
làm cho cuộc đời đơm hoa kết trái.  
Ruồng rẫy tình yêu, chạy theo những  
dục vọng và hận thù, con người tất  
phải cái chịu kết cục khổ đau. Võ Thị  
Hảo đã “kết nối” với W. Shakespeare  
và Nguyễn Du từ quá khứ và với  
chúng ta ở thời hiện tại bằng một  
thông điệp rất nhiều ý nghĩa về tình  
Peter Gay từng khẳng định:  
“Hành động trần thuật về lịch sử mà  
không có sự phân tích thì chỉ là một  
điều hết sức tầm thường, sự phân tích  
lịch sử mà không kèm theo hành động  
trần thuật thì không hoàn thiện” (Dẫn  
theo [13, tr.126]). Thật vậy, khi đã  
trần thuật về lịch sử thì rất cần có  
những phân tích, đánh giá. Vấn đề chỉ  
là “sự phân tích” kia là khách quan,  
mang đặc điểm sử thi hay thể hiện cá  
tính, tư tưởng chủ quan rõ rệt của  
người kể chuyện. Đó cũng là tiêu chí  
quan trọng bậc nhất để phân biệt, để  
ghi nhận về giá trị của tiểu thuyết  
thuật sử và tiểu thuyết giải lịch sử.  
Không thể chiếu xét một tác phẩm  
thuộc nhóm này bằng các đặc điểm,  
“tiêu chuẩn” riêng của nhóm khác và  
ngược lại.  
Nếu cần phải so sánh giữa hai  
nhóm thì có thể thấy ngay rằng, tiểu  
thuyết giải lịch sử mang đậm chất tiểu  
thuyết hơn, vấn đề mà nó đặt ra  
128  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
thường có tính “thời sự” nhiều hơn,  
nhân vật trung tâm được nó khai thác  
với nhiều tính chất đời tư hơn, những  
“can dự” của người kể chuyện trong  
nó rõ nét hơn,… Vì vậy, nhìn dưới  
góc nhìn về quá trình vận động và  
phát triển của văn học nước nhà, tiểu  
thuyết giải lịch sử đang và sẽ còn  
chiếm ưu thế lớn ở thì tương lai.  
thuộc về số phận cá nhân, mang tính  
chất đời tư-cụ thể.  
Văn học Âu-Mỹ nói chung, tiểu  
thuyết nói riêng đang tiếp tục dành sự  
quan tâm chủ yếu cho các đề tài trinh  
thám, phiêu lưu, tình yêu, tệ nạn xã  
hội,…với phong cách hậu hiện đại,  
với trào lưu văn học đô thị,… Văn học  
Việt Nam đã và đang tiếp tục hội  
nhập, “tiệm cận” sự phát triển chung  
của nhân loại ở nhiều khía cạnh nhưng  
không vì thế mà đánh mất đi các đặc  
thù, bản sắc riêng (dù là ở đề tài). Một  
đất nước giàu truyền thống văn hóa-  
lịch sử; một dân tộc vừa bước qua hai  
cuộc kháng chiến thần thánh mà đau  
thương chống Thực dân, Đế quốc xâm  
lược không thể “khép lại quá khứ” ở  
nhiều phương diện, trong đó bao gồm  
cả sáng tạo nghệ thuật. Có thể kể ra  
rất nhiều chứng lý, luận điểm nhằm  
minh chứng cho quan điểm trên, song  
cũng có thể nói thật súc tích: có hiện  
tại và tương lai nào lại không bắt đầu  
từ quá khứ - một quá khứ chưa thể  
đóng khung, “xếp gọn” (chữ dùng của  
Phùng Quý Nhâm) mà còn cần những  
khám phá, đánh giá ở rất nhiều chiều  
kích khác nhau.  
3.Kết luận  
Tóm lại, trong dòng chảy của tiểu  
thuyết Việt Nam đương đại, các tác  
phẩm viết về chiến tranh và lịch sử  
vẫn giữ một vị trí, vai trò hết sức quan  
trọng. Từ những câu chuyện thuộc về  
quá khứ, người cầm bút hướng đến hai  
mục tiêu chính. Thứ nhất là nói theo  
Lại Nguyên Ân: “chỉ bằng việc  
thường xuyên nhắc nhớ, ôn lại, phân  
tích nguồn cơn, tính đếm thiệt hại,  
v.v… mới là phương cách tốt, chẳng  
những làm nguôi chấn thương mà còn  
đề phòng khả năng lặp lại những tai  
họa tương tự cho cộng đồng” [14], tức  
là vừa làm dịu bớt những mất mát, đau  
thương vừa rút ra những bài học lịch  
sử lớn. Thứ hai là lấy chuyện quá khứ  
để chiếu rọi, để ngầm so sánh và đối  
thoại với thời hiện đại về những vấn  
đề hoặc mang “tầm vóc cao cả” hoặc  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb.Giáo dục, Hà Nội.  
Nguyễn Thị Bình (2006), Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời  
điểm đổi mới đến nay, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Bộ, Nguồn:  
Nguvan. hnue.edu.vn.  
1.  
2.  
3.  
Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb.Giáo  
dục, Hà Nội.  
129  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 01 - 2016  
ISSN 2354-1482  
4.  
5.  
6.  
7.  
8.  
9.  
Ngô Vĩnh Bình (1998), “Lực lượng sáng tác văn học trẻ trong quân đội-Cái gạch  
nối giữa hôm qua, hôm nay và mai sau”, Tạp chí Văn nghệ quân đội, (12).  
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn  
học, Nxb.Giáo dục, Hà Nội.  
Trần Hoàng Thiên Kim (2012), “Nhà văn Nam Hà “sung sướng được làm  
người con của đất nước””, Nguồn: sknc.qdnd.vn, (2/7).  
Trần Việt Dũng (1987), “Chiến tranh khác nhau ở mỗi người”, Tạp chí Văn  
nghệ quân đội, (6), tr.128-130.  
P.V (2001), “Người lính và chiến tranh cách mạng-một đề tài vĩnh cửu”,  
Tạp chí Văn nghệ quân đội, (1).  
Octavio Paz (1994), “Đi tìm thời hiện đại”, Tạp chí Văn học, (5).  
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Sđd, Nxb.Giáo dục, Hà Nội.  
11. Nguyễn Văn Dân (2012), “Tiểu thuyết Việt Nam đương đại-phác họa một  
số xu hướng chủ yếu”, Nguồn: Tapchinhavan.vn, (27/9).  
12. Hoàng Lại Giang (2001), Trương Vĩnh Ký, bi kịch muôn đời, Nxb.Văn hóa-  
Thông tin, Hà Nội.  
13. Trần Đình Sử (2008, chủ biên), Tự sự học, phần 2, Nxb. Đại học Sư phạm  
Hà Nội.  
14. Lại Nguyên Ân (2006), “Về tiểu thuyết Ba người khác, Nguồn:  
Talawas.org, (25/12).  
VIETNAMESE NOVELS (1986-2010) WRITTEN ABOUT  
HISTORY AND WARS- AN OVERVIEW  
ABSTRACT  
This paper attempts to make clear the differences in distinctive and  
outstanding characteristics of two groups of Vietnamese novel (1986-2010),  
written about wars and history. Getting the inspiration from the patriotic wars  
against the French Colonists and American imperialists, however, the epics and  
non-epics (the group that writes about war) have significant differences in artistic  
thoughts. Similarly, despite the fact that both historical narrative and historical  
explanation with authors’ purposely distorted viewpoints (the group that wrote  
about history) wrote about Vietnamese medieval history, they themselves  
presented a great difference in prosody. Anyway, all aforementioned novels have  
made enormous contributions to the diversity in the style of novel in particular as  
well as to the promotion of the process of movement and development of  
Vietnamese literature in general.  
Key words: Epics, non-epics, historical narratives, historical explanation  
with authors’ purposely distorted viewpoints.  
130  
pdf 14 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 22320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thuyết Việt Nam (Giai đoạn 1986-2010) viết về Lịch sử và chiến tranh - Một cái nhìn khái quát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuyet_viet_nam_giai_doan_1986_2010_viet_ve_lich_su_va_chien.pdf