Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
________
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________________________
CHIẾN LƯỢC
Phát triển văn hoá đến năm 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg
ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ)
_________
MỞ ĐẦU
Những năm vừa qua, Đảng ta đã có nhiều văn kiện định hướng cho việc
xây dựng và phát triển văn hoá, quan trọng nhất là Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về “Xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [Sau đây gọi
tắt là Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)]; Kết luận Hội nghị lần thứ 10
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 (khoá VIII) những năm sắp tới và Nghị quyết Đại hội lần thứ X
của Đảng. Gần đây, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về việc triển khai Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong Đảng,
trong xã hội; Nghị quyết về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ
thuật trong thời kỳ mới” và “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Những chủ trương, đường lối
của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, vừa giải quyết những vấn đề cấp bách
trước mắt, vừa có tính định hướng chiến lược lâu dài về xây dựng và phát
triển văn hoá của nước ta.
Việc xây dựng “Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020” là nhằm
cụ thể hoá, thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển văn
hoá, xác lập những mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu; là cơ sở
hoạch định quy hoạch, kế hoạch để từng bước thực hiện việc xây dựng nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Văn hoá là một phạm trù rất rộng. Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và căn cứ vào yêu cầu, nhiệm
vụ xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta hiện nay, Nghị quyết Trung
ương 5 (khoá VIII) khi đề cập đến phạm vi của văn hoá đã cụ thể thành 8 lĩnh
vực lớn, đó là: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; di sản văn hoá; giáo dục và đào
tạo; khoa học và công nghệ; văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao
lưu văn hoá với thế giới; thể chế và thiết chế văn hoá.
2
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành có liên quan, lĩnh vực
phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ, thông tin, thể dục thể thao, du lịch
và xây dựng gia đình Việt Nam được xây dựng thành các chiến lược riêng.
Trong Chiến lược phát triển văn hoá, những lĩnh vực này được trình bày như
là những thành tố quan trọng, có mối liên kết chặt chẽ với văn hoá, tạo điều
kiện cho nhau cùng phát triển, tạo sức mạnh tổng hợp để văn hoá phát huy giữ
vai trò là nền tảng tinh thần, là động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Vì vậy, phạm vi của Chiến lược phát triển văn hoá bao gồm những lĩnh vực
chủ yếu sau đây:
- Tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hoá;
- Di sản văn hoá;
- Văn học, nghệ thuật;
- Giao lưu văn hoá với thế giới;
- Thể chế và thiết chế văn hoá.
1. Thực trạng văn hoá nước ta hiện nay
a) Những thành tựu
- Tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá là những lĩnh vực then
chốt đã có những chuyển biến quan trọng. Nhiều giá trị văn hoá truyền thống
của dân tộc được đề cao và phát huy.
Phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề
ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới, tạo được sự nhất trí cao
trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội và đã đạt được những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước qua 20 năm đổi mới. Tư tưởng tích
cực là xu hướng chủ đạo, tạo nên sức mạnh tinh thần của dân tộc ta trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã
hội của nhân dân bước đầu được phát huy; dân chủ trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội được mở rộng. Sự tham gia tích cực, tự giác của nhân dân vào các
hoạt động văn hoá đã tạo được chuyển biến bước đầu. Nhiều nét mới trong
giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước được hình thành. Thế hệ trẻ
tiếp thu những kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những việc làm thiết thực hướng về cội nguồn, đền ơn đáp nghĩa, từ
thiện, nhân đạo giúp đỡ người hoạn nạn, xoá đói giảm nghèo, khuyến học,
2
3
khuyến tài, phong trào “Thanh niên tình nguyện”, “Thanh niên lập nghiệp”…
trở thành phong trào của quần chúng.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” là cuộc vận
động quần chúng tham gia xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh đang
được mở rộng và đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thiết thực. Công tác xây
dựng làng, bản, buôn văn hoá đã chú ý nâng cao chất lượng. Phong trào xây
dựng gia đình văn hoá góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đề cao giá trị đạo
đức, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
Đời sống văn hoá cơ sở đã có bước phát triển. ở miền núi, hải đảo, vùng
sâu, vùng xa, đời sống văn hoá tuy còn thấp so với đô thị và đồng bằng,
nhưng đã có những cải thiện rõ rệt.
- Nhận thức về giá trị di sản văn hoá và truyền thống văn hoá ngày càng
được nâng cao, tạo được sự đồng thuận và nguồn lực xã hội trong việc bảo vệ
và phát huy di sản văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Di sản văn hoá vật thể và phi vật thể là nền tảng để hun đúc nên bản sắc
văn hoá và hệ giá trị của văn hoá dân tộc, là một nguồn lực cho phát triển. Đã
có sự chuyển biến tích cực về nhận thức của lãnh đạo các cấp, của nhân dân
đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá của dân tộc. Hàng
ngàn di tích được chống xuống cấp, tu bổ, tôn tạo. Hệ thống bảo tàng nước ta,
nơi lưu giữ và giới thiệu một khối lượng lớn di sản lịch sử - văn hoá quý giá,
bước đầu có những đổi mới, thu hút ngày một nhiều khách tham quan, du
lịch, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội. Công
tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá dân tộc, đặc biệt là văn hoá
của các dân tộc thiểu số, có bước phát triển mới về quy mô cũng như chiều
sâu. Nhiều dự án lớn về sưu tầm, tư liệu hoá di sản văn hoá được thực hiện.
- Lĩnh vực văn học, nghệ thuật có bước phát triển mới, có những biến
đổi sâu sắc, đạt được nhiều thành tựu, đóng góp tích cực vào quá trình dân
chủ hoá xã hội, làm phong phú, đa dạng đời sống văn hoá
Sáng tác văn học, nghệ thuật tiếp tục truyền thống tốt đẹp của văn học,
nghệ thuật trong thời kỳ chiến tranh cách mạng; gắn bó, nỗ lực phản ánh chân
thật cuộc sống, làm phong phú và sâu sắc thêm tính nhân văn của văn học,
nghệ thuật nước nhà; mạnh dạn phê phán cái xấu, các biểu hiện biến chất,
thoái hoá về nhân cách, đạo đức, lối sống, góp phần cảnh tỉnh, ngăn chặn xu
hướng tiêu cực trong đời sống xã hội. Có nhiều tìm tòi về nội dung phản ánh,
thể nghiệm nhiều phương thức, hình thức diễn đạt mới làm phong phú các thể
loại và các sản phẩm nghệ thuật. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống, trong
cơ chế thị trường vẫn được giữ gìn và phát huy. Văn hoá truyền thống được
phục hưng và phát huy giá trị. Nhiều tư liệu quý từ kho tàng văn hoá dân gian
3
4
và văn hoá bác học Việt Nam được sưu tầm, tư liệu hoá và công bố. Bên cạnh
những nỗ lực phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống, nhiều loại hình
nghệ thuật hiện đại cũng có bước tiến mới; một số tác phẩm mỹ thuật, nhiếp
ảnh, âm nhạc, điện ảnh đã nhận được giải thưởng cao trong nước và quốc tế.
Diện mạo kiến trúc các đô thị và nông thôn đang trong quá trình thay đổi; chất
lượng và thẩm mỹ của nhiều công trình đã được nâng cao hơn hẳn so với
trước đây. Bước đầu nâng cao được nhận thức về bảo hộ quyền tác giả và
quyền liên quan theo quy định của pháp luật, hình thành tổ chức bảo hộ quyền
tác giả, bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo.
Văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số có bước tiến đáng kể, đã có
những đóng góp quan trọng vào hầu hết các lĩnh vực văn học, nghệ thuật.
Phong trào văn nghệ quần chúng ngày càng phát triển rộng rãi, phong
phú, đa dạng và có chất lượng. Nhiều câu lạc bộ văn học, nghệ thuật ra đời,
góp phần cổ vũ, động viên quần chúng sáng tạo, khai thác, truyền bá các giá
trị nghệ thuật cổ truyền và thưởng thức văn học, nghệ thuật, nâng cao đời
sống tinh thần của nhân dân.
Hoạt động lý luận, phê bình đã đạt được những kết quả tích cực, bước
đầu đã có những đổi mới về quan niệm, về phương pháp nghiên cứu lý luận,
phê bình văn học, nghệ thuật; tính chủ thể của văn nghệ sĩ được coi trọng.
Nhiều tác phẩm lý luận, trường phái nghiên cứu văn học, nghệ thuật nước
ngoài được giới thiệu.
Đặc điểm nổi bật trong những năm vừa qua là sự phát triển mạnh mẽ,
nhanh nhậy, cập nhật của các phương thức sử dụng và truyền bá các sản phẩm
văn học, nghệ thuật đến công chúng thông qua truyền hình, triển lãm, biểu
diễn nghệ thuật với nhiều phương thức khác nhau, xuất bản và phát hành văn
hoá phẩm… hình thành một thị trường văn hoá và dịch vụ các sản phẩm văn
học, nghệ thuật ở trong nước; đưa các sản phẩm văn học, nghệ thuật có chất
lượng ra nước ngoài, góp phần khẳng định nước ta là địa chỉ giao lưu văn hoá
quốc tế trong thời kỳ mới.
Các hội văn học nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương tiếp tục giữ
vững định hướng chính trị, cố gắng tập hợp đội ngũ, đẩy mạnh hoạt động sáng
tạo. Nhiều văn nghệ sĩ cao tuổi nhưng vẫn tâm huyết tiếp tục sự nghiệp sáng
tạo, cùng với lớp văn nghệ sĩ trẻ có nhiều bứt phá để tìm tòi cái mới, năng
động, tự chủ, đem đến cho đời sống văn học, nghệ thuật một triển vọng phát
triển mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
- Giao lưu văn hoá với nước ngoài từng bước được mở rộng cùng với quá
trình đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế của Nhà nước ta
4
5
Trong những năm qua, chúng ta có nhiều cơ hội tiếp xúc rộng rãi hơn
với văn hoá thế giới và chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng
thời giới thiệu với nhân dân các nước những giá trị tốt đẹp, độc đáo của văn
hoá Việt Nam. Nhiều hoạt động hợp tác, giao lưu văn hoá quốc tế trên quy
mô lớn đã được tổ chức ở Việt Nam và nước ngoài gây được tiếng vang và
tạo được ấn tượng tốt đẹp trong lòng bè bạn về truyền thống văn hoá, nghệ
thuật Việt Nam. Bước đầu đã có sự kết hợp các hoạt động văn hoá, nghệ thuật
của nước ta ở nước ngoài để quảng bá du lịch Việt Nam và xúc tiến thương
mại, hợp tác đầu tư.
Lực lượng hoạt động văn hoá, nghệ thuật trong cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài đã có những công trình nghiên cứu, những tác phẩm văn
học, nghệ thuật tốt hướng về Tổ quốc. Nhiều nghệ sỹ Việt kiều về nước biểu
diễn, làm phim và hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của văn hoá, góp
phần mình vào đời sống văn hoá, nghệ thuật của đất nước.
- Việc xây dựng thể chế và thiết chế văn hoá đã chú ý đến những yêu cầu
của thời kỳ mới, tuy chưa hoàn chỉnh nhưng về căn bản bảo đảm được sự lãnh
đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phát huy tiềm năng sáng tạo của trí
thức, văn nghệ sĩ và của nhân dân tham gia xây dựng, phát triển sự nghiệp
văn hoá
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển nền kinh tế sang cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã ban hành nhiều văn
bản luật nhằm điều chỉnh và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hoá
phù hợp với tình hình mới; nhiều cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển sự
nghiệp văn hoá.
Các thiết chế văn hoá từ Trung ương đến địa phương, sau một thời gian
lúng túng trong hoạt động khi mới chuyển đổi cơ chế, nay cách tổ chức và
hoạt động bước đầu đã có sự đổi mới, cơ sở vật chất được tăng cường; một số
công trình văn hoá quy mô lớn, hình thức kiến trúc đẹp được xây dựng.
Công tác đào tạo đội ngũ những người hoạt động văn hoá, nghệ thuật
được chú trọng, có bước phát triển về quy mô, mạng lưới, loại hình, số lượng
và trình độ, bao quát được hầu hết các ngành nghề cần thiết cho hoạt động
văn hoá, sáng tạo, biểu diễn, lý luận và phê bình văn nghệ, hình thành hệ
thống các trường văn hoá nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương; việc đào
tạo sau đại học để tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, trong những năm gần
đây được triển khai, bước đầu có kết quả khả quan.
b) Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu
- Những yếu kém
5
6
+ Những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hoá còn chưa
tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ mạnh để tác động có hiệu quả đối với
các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối
sống. Chất lượng xây dựng đời sống văn hoá còn nhiều mặt hạn chế.
Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt.
Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, nhận thức tư
tưởng có biểu hiện lúng túng, có phần lạc hậu so với sự phát triển của thực tiễn.
Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận xã hội ảnh hưởng
tiêu cực đến đời sống tinh thần, môi trường văn hoá lành mạnh. Hiện tượng
càn quấy, coi thường luật pháp, làm mất an toàn xã hội; bạo hành trong gia
đình, trên sân cỏ; cách ứng xử thiếu văn hoá nơi công cộng; sử dụng ngôn từ
thiếu chuẩn mực trong giao tiếp làm phương hại đến sự trong sáng của tiếng
Việt; căn bệnh “vô cảm” đối với nỗi đau của con người; nạn tham nhũng, hối
lộ, sách nhiễu dân, mất đoàn kết của một bộ phận cán bộ, đảng viên… đang
làm nhức nhối dư luận xã hội.
Bên cạnh các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng khá sôi động và phức tạp;
nạn mê tín dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các
hủ tục cũ, mới tràn lan, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều
hướng gia tăng.
Nhiều cơ sở in, quảng cáo, quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường mở
tràn lan, chạy theo lợi nhuận đơn thuần, hoạt động biến tướng, trá hình, có
nhiều biểu hiện tiêu cực. Một số sản phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật chất
lượng kém được phát hành, truyền bá; không ít sản phẩm không phù hợp với
truyền thống đạo đức, văn hoá của dân tộc, thậm chí độc hại, phản động của
nước ngoài xâm nhập vào nước ta, làm xói mòn đạo đức, lối sống, ảnh hưởng
xấu đến truyền thống văn hoá, thuần phong mỹ tục dân tộc.
Việc phục hồi và phát huy văn hoá truyền thống, nhất là việc tổ chức lễ
hội, còn mang tính tự phát, mang tính phong trào, thiếu chọn lọc; chưa khai
thác, phát huy được đầy đủ nét độc đáo, bản sắc riêng và giá trị tốt đẹp của
văn hoá truyền thống; đồng thời cũng chưa chú ý phát huy tính chủ động của
quần chúng, vai trò chủ thể văn hoá của cộng đồng chưa thật sự được coi
trọng, ảnh hưởng tới chất lượng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của
các dân tộc.
Bệnh hình thức, chạy theo thành tích còn khá phổ biến trong các hoạt
động và báo cáo kết quả xây dựng đời sống văn hoá. Phong trào xây dựng gia
6
7
đình văn hoá, làng, bản, khu phố văn hoá chưa được nhận thức sâu sắc và
đồng đều ở các địa phương, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các
lực lượng xã hội tham gia; chất lượng phong trào chưa được chú trọng duy trì;
việc tổ chức đăng ký, bình xét khen thưởng chưa thường xuyên và kịp thời.
Ở nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các
dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, vùng biên
giới, hải đảo, hoạt động văn hoá còn nghèo nàn, sự chênh lệch về hưởng thụ
văn hoá so với thành thị còn lớn.
+ Di sản văn hoá đang đứng trước nhiều thách thức, chưa giải quyết tốt
mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.
Việc bảo tồn di sản văn hoá chưa được triển khai theo một quy hoạch, kế
hoạch dài hạn nên thường bị động. Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa quy
hoạch bảo tồn di tích với quy hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của các
ngành khác trên cùng địa bàn, nên chưa tạo được cơ sở vật chất, môi trường
văn hoá và sinh thái đồng bộ, có chất lượng ở di tích. Việc xử lý hài hoà giữa
bảo tồn và phát triển còn lúng túng. Hiện tượng lấn chiếm đất đai di tích,
thương mại hoá hoạt động và tổ chức lễ hội ở di tích, đào bới, mua bán trái
phép cổ vật… diễn ra ngày càng phổ biến, nhưng chưa có biện pháp giải quyết
triệt để. Đội ngũ những người làm công tác bảo tồn trong cả nước còn thiếu về
số lượng, tính chuyên nghiệp chưa cao, lúng túng trong việc xử lý những vấn
đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo tồn và tôn
tạo di tích, thậm chí làm sai lệch, biến dạng tính nguyên gốc của di tích.
Các bảo tàng ở nước ta, nhìn chung còn khá lạc hậu trong công tác trưng
bày, trang thiết bị kỹ thuật bảo quản tài liệu, hiện vật, trong phương pháp
quản lý và vận hành của bảo tàng hiện đại, làm cho bảo tàng chưa phải là
điểm đến hấp dẫn đối với công chúng.
+ Hoạt động văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập.
Trong sáng tác, biểu diễn, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật
còn không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và
bản sắc dân tộc. Số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một
nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách
mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số
tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ không rõ nét. Một số tác phẩm có nội
dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ
nhận quá khứ hào hùng của dân tộc, xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác
phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận
công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận và nhận
7
8
thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện
đại, lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn; một số tác phẩm và
sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ
pháp mới, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc. Giáo dục, định hướng thẩm mỹ
cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức; chưa chủ động hướng dẫn dư
luận xã hội. Tình trạng nghiệp dư hoá các hoạt động văn học, nghệ thuật
chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên. Sáng tác kiến trúc trong thời gian dài
không rõ định hướng, lúng túng trong việc thể hiện bản sắc truyền thống trong
công trình kiến trúc hiện đại Việt Nam, tạo nên tình trạng lai tạp, lộn xộn
trong bộ mặt kiến trúc đô thị hiện nay.
Hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật những năm gần đây có phần
chững lại, chưa đáp ứng được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn
sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác - xít chưa được nghiên cứu và phát
huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó. Hoạt động phê bình văn học,
nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng
hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và
tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính,
thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm. Đội ngũ lý
luận, phê bình vừa thiếu, vừa bị hụt hẫng thế hệ kế cận, phân bố không đều ở
các ngành nghệ thuật. Thiếu định hướng và tiêu chí cụ thể cho việc chọn lọc,
kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, cũng như chọn lọc, tiếp
thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Đội ngũ cán bộ quản lý văn học, nghệ thuật chưa theo kịp yêu cầu của
hoạt động văn học, nghệ thuật ngày càng mới mẻ, phức tạp; hiệu quả lãnh
đạo, quản lý còn thấp, có sự hẫng hụt đội ngũ này ở cả tầm vĩ mô và ở các
đơn vị cơ sở.
Một số hội văn học, nghệ thuật chậm đổi mới nội dung và phương thức
hoạt động, lúng túng trong việc tập hợp và phát huy tiềm năng của đội ngũ.
Đáng chú ý là thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chỉ đạo, quản lý
văn học, nghệ thuật của Đảng, Nhà nước với các hội văn học, nghệ thuật
trong việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển văn học, nghệ thuật của
Đảng và Nhà nước.
+ Giao lưu văn hoá còn thiếu chủ động; chưa tạo được nhiều nguồn lực
để mở rộng hợp tác, giao lưu.
Do quản lý thiếu chặt chẽ, phối hợp chưa đồng bộ và thường xuyên nên
số sản phẩm độc hại xâm nhập vào nước ta khá lớn. Chưa chủ động giới thiệu
được nhiều tinh hoa văn hoá Việt Nam ra nước ngoài. Việc tuyên truyền, giới
thiệu nền văn hoá Việt Nam và những thành tựu trong công cuộc đổi mới của
đất nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội ra nước ngoài chưa tương ứng với nhu
8
9
cầu phát triển. Trong khi đó, việc nhập khẩu và đưa lên sóng truyền hình quá
nhiều, thiếu chọn lọc phim ảnh, chương trình ca nhạc nước ngoài làm ảnh
hưởng tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của lớp trẻ.
Việc quản lý, giới thiệu văn hoá nước ngoài tại Việt Nam thiếu sự nhất
quán giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành, giữa Trung ương và địa
phương; thiếu các văn bản quy định mang tính pháp lý cao để quản lý, điều
chỉnh các hoạt động giới thiệu văn hoá nước ngoài tại Việt Nam. Việc quản lý
các nghệ sĩ ra nước ngoài biểu diễn và về nước biểu diễn, sáng tác thiếu chặt
chẽ, phân cấp trách nhiệm không rõ ràng dẫn đến sơ hở trong một số hoạt
động, gây dư luận bất bình.
+ Quan tâm chưa đúng mức, chậm đổi mới công tác xây dựng thể chế
văn hoá.
Các văn bản pháp luật về văn hoá còn thiếu đồng bộ; việc thể chế hoá
các nghị quyết, quan điểm của Đảng còn chậm, tổ chức thực hiện còn yếu nên
nhiều quy phạm pháp luật về văn hoá chưa thực sự đi vào cuộc sống. Một số
lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật chưa có luật để quản lý. Nhiều chính sách đối
với văn nghệ sĩ đã lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi.
Đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá, nhất là ở các địa phương và cơ sở luôn
biến động. Tình trạng buông lỏng quản lý, thiếu cơ chế phối hợp trong quản
lý hoạt động kinh doanh sản phẩm văn hoá, nhất là băng đĩa lậu, internet,
karaoke, tổ chức biểu diễn, triển lãm… còn để kéo dài. Công tác đào tạo đội
ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý văn hoá chưa đáp ứng yêu cầu, còn hẫng hụt
cán bộ văn hoá ở các vị trí quan trọng.
Mạng lưới đào tạo phát triển nhanh, nhưng chất lượng chưa đồng đều.
Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo cơ bản ở nước
ngoài trước đây đã lớn tuổi và nghỉ hưu nhiều, giáo viên có trình độ cao của
các trường chiếm tỷ lệ rất thấp. Thiếu một chính sách lâu dài, cơ bản và cơ
chế đặc thù trong việc đào tạo tài năng, năng khiếu văn nghệ.
Hệ thống các thiết chế và cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá nhìn
chung vẫn ở tình trạng xuống cấp, chắp vá, thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng
còn thấp. Chưa có nhiều công trình văn hoá và khu vui chơi giải trí lớn. Đầu
tư của ngân sách nhà nước cho văn hoá còn thấp. Việc huy động các nguồn
vốn khác đầu tư cho văn hoá rất hạn chế do chính sách khuyến khích chưa cụ
thể và thiết thực.
- Những nguyên nhân chủ yếu
Về khách quan:
9
10
+ Những thành tựu to lớn và sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội vừa là nguồn cảm hứng sáng tạo,
vừa là những vấn đề rất mới mẻ, luôn biến động và sự tác động nhiều chiều,
dẫn tới sự bỡ ngỡ, lúng túng trong lực lượng hoạt động văn hoá, văn nghệ.
+ Các thế lực thù địch ráo riết chống phá ta trên mặt trận tư tưởng, văn
hoá, lợi dụng ưu thế về công nghệ thông tin, toàn cầu hoá về kinh tế để áp đặt
các giá trị văn hoá, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” về văn hoá; đồng
thời, mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hoá ảnh hưởng tiêu cực đến ý
thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận dân chúng, nhất là lớp trẻ,
cũng như đối với đời sống văn hoá, văn nghệ.
+ Sự bùng nổ về thông tin, truyền thông đi kèm với làn sóng giao thoa,
du nhập văn hoá với nhiều yếu tố văn hoá mới, có mặt tích cực nhưng cũng
không ít những tiêu cực, trong khi trình độ cán bộ và phương tiện kỹ thuật để
quản lý những vấn đề mới mẻ này còn hạn chế, dẫn đến sự lúng túng, bị động
trong tổ chức thực hiện.
Về chủ quan:
+ Trong khi tập trung sức vào nhiệm vụ kinh tế, nhận thức về vị trí, vai
trò của văn hoá của nhiều cấp, nhiều ngành, trong một bộ phận cán bộ lãnh
đạo chưa đúng tầm; chưa nhận thấy rõ mối quan hệ gắn bó giữa kinh tế, văn
hoá và chính trị; chưa quan tâm gắn phát triển kinh tế, phát triển các ngành,
các lĩnh vực đi đôi với xây dựng và phát triển văn hoá; chưa coi phát triển văn
hoá là trách nhiệm của toàn xã hội.
+ Trước những biến đổi nhanh chóng, đa dạng, phức tạp của đời sống
văn hoá, văn nghệ trong nền kinh tế thị trường, sự chỉ đạo của các cấp từ
Trung ương đến địa phương còn bộc lộ sự bất cập, hạn chế, phương thức lãnh
đạo còn chậm được đổi mới; chưa lường hết tính phức tạp và những tác động
của mặt trái kinh tế thị trường đối với đời sống văn hoá, văn nghệ. Chậm ban
hành hoặc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý. Các giải pháp
thường bị động, mang tính tình thế; có biểu hiện buông lỏng, hữu khuynh,
vừa áp đặt chủ quan; thiếu tầm nhìn xa... Nghiên cứu lý luận còn thiếu khả
năng dự báo và định hướng; chưa làm rõ nhiều vấn đề có liên quan đến văn
hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong việc xác
định những giá trị truyền thống cũng như hệ giá trị mới cần xây dựng, trong
việc xử lý các mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế,
bảo tồn và phát triển, văn hoá và kinh tế… Thị trường văn hoá đang trong quá
trình hình thành, chưa có đủ điều kiện để phát huy hết năng lực sáng tạo của
trí thức, văn nghệ sĩ.
10
11
+ Đầu tư cho lĩnh vực xã hội nói chung và văn hoá nói riêng, chưa tương
xứng với yêu cầu mới. Chưa có nhiều cơ chế và chính sách cụ thể phát huy
nội lực của nhân dân.
2. Bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển văn hoá nước ta
a) Bối cảnh quốc tế
- Xu hướng phát triển văn hoá.
+ Coi trọng văn hoá và gắn văn hoá với phát triển, coi văn hoá là nhân tố
đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế có nguy cơ dẫn đến xung đột với việc
bảo tồn bản sắc và đa dạng văn hoá trên phạm vi toàn thế giới, đồng thời cũng
xuất hiện khả năng gắn chặt quá trình kinh tế với quá trình văn hoá. Kinh tế
không thể phát triển bền vững nếu không đặt rõ vấn đề văn hoá trong mỗi
hoạt động kinh tế.
+ Các quốc gia ngày càng đề cao tính đặc thù, bản sắc văn hoá dân tộc,
coi trọng việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hoá, đấu tranh chống
khuynh hướng đồng hoá về văn hoá; đồng thời chọn lọc tiếp thu các giá trị
tinh hoa văn hoá của nhân loại.
Bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề trọng đại, sống còn của mỗi quốc gia.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, văn hoá là một lĩnh vực dễ bị tổn thương, trong
đó bản sắc văn hoá, văn hoá truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả. Xử lý đúng
đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với tiếp thu có chọn lọc
tinh hoa văn hoá nhân loại sẽ làm phong phú cho văn hoá đất nước, thúc đẩy
văn hoá phát triển.
+ Phát triển văn hoá trong mối quan hệ với xây dựng con người.
Nguồn lực văn hoá được cấu thành bởi 3 yếu tố: Tài sản văn hoá, nguồn
lực con người và cơ chế, chính sách tăng cường nguồn lực, trong đó nguồn
lực trung tâm để phát triển văn hoá là con người. Văn hoá là sáng tạo, mà con
người vừa là chủ thể sáng tạo văn hoá, vừa là sản phẩm văn hoá. Văn hoá trở
thành động lực và hệ điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội, lấy phát triển
nguồn lực con người làm mục tiêu trung tâm. Vì vậy, phát triển văn hoá gắn
kết chặt chẽ với việc xây dựng con người đang là xu thế của thời đại.
+ Phát triển nhanh chóng “công nghiệp văn hoá”.
Ngày nay, người ta đã nói nhiều đến công nghiệp điện ảnh, nghe nhìn;
công nghiệp phát thanh, truyền hình; công nghiệp vui chơi giải trí v.v… Phát
11
12
triển “công nghiệp văn hoá” đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách
văn hoá của các nước trên thế giới.
+ Sự bùng nổ thông tin (cả thông tin đại chúng, viễn thông, mạng
internet) liên kết từng gia đình và cả xã hội vào một quá trình chung.
Sự hội tụ giữa thông tin, viễn thông và tin học là một xu hướng có tác
động mạnh đến lĩnh vực văn hoá. Công nghệ thông tin phát triển tạo điều kiện
cho mọi người tổ chức sự liên lạc với xã hội; internet, intranet giúp mọi người
tiếp cận lượng thông tin đồ sộ của nhân loại và mỗi quốc gia; sự xuất hiện
“văn học mạng”, việc trao đổi qua blog… hình thành phương thức mới liên
kết xã hội trong môi trường mạng đang đặt ra những vấn đề mới trong công
tác quản lý văn hoá, thông tin.
+ Sử dụng hữu ích thì giờ nhàn rỗi của cá nhân và cộng đồng.
Ngày nay, việc sử dụng hữu ích thời giờ nhàn rỗi là nhu cầu của xã hội.
Xu hướng này đặt ra những yêu cầu mới trong công tác quy hoạch, kế hoạch
và xây dựng các dự án phát triển văn hoá, cũng như các phương thức tiếp cận
và hoạt động văn hoá phù hợp với nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao
của xã hội.
+ Sự thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân - cộng đồng và dân chủ xã hội,
sự đa dạng của thị hiếu và cách tiếp cận.
Sự phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, thông tin viễn thông và tri
thức trao cho mỗi cá nhân những sức mạnh mới, làm cho mỗi cá nhân và cộng
đồng thay đổi theo hai xu hướng: hoặc tác động mạnh vào sự phát triển của
cộng đồng, hoặc biệt lập với cộng đồng. Điều này đòi hỏi phải có cách tiếp
cận mới từ nền tảng văn hoá để gắn kết cá nhân và cộng đồng, dung hợp tính
đa dạng trong cách tiếp cận văn hoá của từng cá nhân trong cộng đồng.
- Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan, vừa
là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh bảo vệ lợi ích
quốc gia. Các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, internet tạo thuận
lợi cho giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời cũng diễn ra
cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. Mặt khác, các thế
lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình”
nhằm tạo ra những diễn biến phức tạp trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, đạo
đức, lối sống trong nội bộ ta.
b) Bối cảnh trong nước
12
13
- Những thành tựu của công cuộc đổi mới và quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước là cơ sở quan trọng thúc đẩy văn hoá phát triển, nhưng
cũng đặt ra nhiều thử thách.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan
trọng. Quá trình đổi mới đất nước tạo ra những tiền đề mới, rất quan trọng
cho sự nghiệp phát triển văn hoá.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm cho xã hội nước ta biến đổi
sâu sắc và toàn diện, diễn ra quá trình đấu tranh gian khổ và phức tạp giữa cái
lạc hậu và tiến bộ, giữa cái tốt và cái xấu, giữa tư duy trì trệ, bảo thủ và đổi
mới… Đó chính là mảnh đất tốt cho sự tìm tòi, sáng tạo văn hoá, văn nghệ.
Đô thị hoá làm cho kết cấu dân cư có bước thay đổi lớn. Từ sự thay đổi này sẽ
dẫn đến những thay đổi về nếp sống, lối sống, tập tục v.v… đòi hỏi phải có
những giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp
vốn có của quê hương và di sản văn hoá, đồng thời phát triển đời sống văn
hoá thích ứng với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Phát triển văn hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ chế thị trường làm cho tính tích cực xã hội được phát huy, các hoạt
động văn hoá và dịch vụ văn hoá trở nên năng động, đa dạng và phong phú
hơn, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro, phức tạp. Mặt trái của cơ chế thị trường
tác động đến từng gia đình, các quan hệ xã hội, quan hệ cộng đồng đòi hỏi sự
đổi mới về công tác quản lý và tổ chức hoạt động văn hoá; tạo hành lang pháp
lý để đảm bảo phát triển văn hoá đúng định hướng trong cơ chế thị trường.
- Các tôn giáo vẫn ở xu thế điều chỉnh, thích nghi và mở rộng ảnh
hưởng, diễn biến của các vấn đề tôn giáo còn nhiều phức tạp.
Tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tố của văn hoá, là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân.
Các tôn giáo có xu hướng vận động thu hút thêm các tín đồ, một số tôn
giáo lạ xâm nhập vào nước ta. Đa phần các hoạt động tôn giáo và tín đồ các
tôn giáo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tuy
nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc các tôn giáo có những hoạt động đi ngược
lại truyền thống văn hoá dân tộc (xoá lễ hội dân tộc, bỏ các sinh hoạt văn hoá
cổ truyền…), truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tôn giáo tạo dựng các “điểm
nóng”, đấu tranh đòi đất đai, đòi nơi thờ tự… đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ
trong công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về tín ngưỡng, tôn giáo; đấu tranh bảo vệ truyền thống văn hoá dân tộc, chống
việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia
rẽ tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, vi phạm pháp luật.
13
14
c) Cơ hội và thách thức
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp xây dựng và phát triển
văn hoá, đã xác định vị trí và vai trò quan trọng của văn hoá vừa là mục tiêu,
vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích
cực hội nhập quốc tế, phấn đấu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020, văn hoá nước nhà có nhiều thời cơ, vận hội lớn, đồng thời cũng
đứng trước những thách thức mới gay gắt.
Việt Nam có một lịch sử lâu đời với những trang sử chói lọi trong cuộc
đấu tranh dựng nước, giữ nước, giành độc lập dân tộc, tạo được sự ngưỡng
mộ, khâm phục trong lòng nhân dân thế giới. Sự thành công trong công cuộc
đổi mới và những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và sự ổn
định chính trị của đất nước đang tạo lập được vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế. Việt Nam lại có nền văn hoá đa dạng, phong phú, nhân văn; mỗi loại
tài sản văn hoá đều tiềm ẩn những giá trị cao, cả về mặt văn hoá và tiềm năng
kinh tế, vẫn giữ được bản sắc độc đáo của văn hoá Việt Nam, có sức hấp dẫn
lớn… Tất cả những yếu tố đó tạo nên tiềm năng và lợi thế to lớn trong việc
xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Từ mấy chục năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã
hình thành một đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ quản lý đông đảo, luôn
gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, giàu năng lực sáng
tạo, là một vốn quý. Nếu có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đúng
đắn, có thể phát huy mạnh mẽ nguồn nhân lực quan trọng này đi vào nền
“kinh tế tri thức”, “tri thức phục vụ phát triển”, đáp ứng yêu cầu phát triển
văn hoá trong thời kỳ mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế, với đường lối đa phương hoá, đa
dạng hoá quan hệ quốc tế, văn hoá nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri
thức, các nguồn lực và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp thu tinh hoa văn
hoá nhân loại và sáng tạo những giá trị văn hoá mới. Sự tác động mạnh mẽ
của các xu hướng, các phong cách mới có khả năng tạo ra những biến đổi lớn
về diện mạo, đặc điểm, loại hình văn hoá, văn nghệ nước nhà, nhưng cũng đặt
ra nhiều thử thách gay gắt.
Cơ chế thị trường, một mặt huy động được sự tham gia của các thành phần
kinh tế vào sản xuất, phổ biến các sản phẩm văn hoá, kích thích một số ngành
sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá xuất hiện, mở ra khả năng giải quyết
việc làm, nâng cao thu nhập, tạo tiền đề cho việc phát triển “công nghiệp văn
hoá” ở nước ta; mặt khác, nảy sinh khuynh hướng thương mại hoá các hoạt động
14
15
văn hoá. Sản phẩm văn hoá độc hại không những có chiều hướng gia tăng do
nhập lậu từ nước ngoài, mà còn được sản xuất ngay trong nước; lối sống chạy
theo đồng tiền… ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người, đặc biệt
là lớp trẻ, tác động xấu đến truyền thống văn hoá của dân tộc.
Do ý đồ của một số cường quốc muốn áp đặt những giá trị văn hoá cho
các dân tộc khác dựa trên sức mạnh của công nghệ thông tin, nên nguy cơ về
sự đồng nhất hoá các hệ giá trị văn hoá đang đe doạ, làm hạn chế khả năng
sáng tạo, sự đa dạng của các nền văn hoá; việc truyền bá lối sống bạo lực, phi
luân, vô chính phủ, đề cao dục vọng và chủ nghĩa cá nhân… đặt chúng ta
trước những thách thức không thể xem thường.
3. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển văn hoá đến năm 2020
a) Quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá
Từ trước đến nay, Đảng ta luôn luôn khẳng định vị trí và tầm quan trọng
của văn hoá trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa, nhất là trong thời kỳ đổi mới từ Đại hội VI đến nay. Đặc biệt, trong
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), Đảng ta đã xác định năm quan điểm
chỉ đạo cơ bản sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta:
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Nền văn hoá chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh
đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
- Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp
cách mạng lâu dài đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) không những chỉ ra những nhiệm
vụ cấp bách trước mắt, mà còn có ý nghĩa chiến lược về xây dựng và phát
triển văn hoá của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năm
quan điểm chỉ đạo cơ bản đó, cùng với những quan điểm về sự gắn kết giữa
nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then
chốt với không ngừng nâng cao văn hoá – nền tảng tinh thần của xã hội của
Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) và Nghị quyết Đại hội lần thứ X
của Đảng là những quan điểm chỉ đạo và được quán triệt trong Chiến lược
phát triển văn hoá đến năm 2020. Trong quá trình tổ chức thực hiện Chiến
15
16
lược, cần tiếp tục nghiên cứu làm sâu sắc thêm, vận dụng, cụ thể hoá những
quan điểm quan trọng này vào trong thực tiễn xây dựng và phát triển văn hoá
trong thời kỳ mới.
b) Mục tiêu phát triển văn hoá đến năm 2020
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, mục tiêu trọng tâm của Chiến
lược phát triển văn hoá cần phải đạt tới:
Một là, hướng mọi hoạt động văn hoá vào việc xây dựng con người Việt
Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng
lực sáng tạo; tuân thủ pháp luật; có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan
dung, trọng nghĩa tình, lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng
đồng và xã hội, làm cho văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn
thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi
lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; gắn kết mối quan hệ giữa văn hoá và
xây dựng môi trường văn hoá với vấn đề hình thành nhân cách.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá
trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc
độc đáo của văn hoá các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao
tính thống nhất trong đa dạng của văn hoá Việt Nam, tập trung xây dựng
những giá trị văn hoá mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu
quốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới, làm phong phú thêm
nền văn hoá dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại.
Ba là, giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo của mọi
người, phát huy cao độ tính sáng tạo của trí thức, văn nghệ sĩ; đào tạo tài năng
văn hoá, nghệ thuật; tạo cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất để có nhiều sản
phẩm văn hoá, nghệ thuật chất lượng cao xứng tầm với dân tộc và thời đại;
nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về lý luận và thực tiễn việc xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Bốn là, tạo mọi điều kiện nâng cao mức hưởng thụ và tham gia hoạt
động, sáng tạo văn hoá của nhân dân; phấn đấu từng bước thu hẹp sự chênh
lệch về hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng
bằng và miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa,
biên giới, hải đảo.
Năm là, đi đôi với việc tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã
hội hoá các hoạt động văn hoá, huy động mọi nguồn lực cho phát triển văn
hoá, coi đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền
16
17
vững, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, làm cho
văn hoá tham gia tích cực vào việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” của đất nước.
c) Nhiệm vụ trọng tâm
- Xây dựng con người, lối sống văn hoá.
Xây dựng con người toàn diện, có đủ phẩm chất (về tư tưởng, đạo đức,
lối sống và nhân cách văn hoá) đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng
thường xuyên, vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài của sự nghiệp phát triển văn
hoá nước ta.
Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với
những đức tính sau:
+ Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phát huy nội lực, có ý chí
vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và tụt hậu.
+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tuân thủ pháp luật, tôn trọng quy ước của cộng đồng, chăm lo xây dựng
cộng đồng.
+ Không ngừng nâng cao tri thức, học tập suốt đời; biết suy nghĩ độc lập
và tự chịu trách nhiệm, đồng thời có tinh thần hợp tác, làm việc hiệu quả
trong tổ chức, theo nhóm chuyên môn; có tư duy cởi mở với cái mới, không
ngại đương đầu với thách thức; năng động, sáng tạo; nỗ lực tiếp cận và vận
dụng những kiến thức tiên tiến nhất của khoa học, công nghệ thế giới phục vụ
phát triển đất nước; rèn luyện thể lực, nâng cao thể trạng; tu dưỡng, bồi bổ cả
kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và đạo làm người.
+ Xây dựng gia đình đoàn kết, hoà thuận, bình đẳng, hạnh phúc, kỷ
cương, nền nếp, đời sống kinh tế ổn định và phát triển; kế thừa và phát huy
các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc
các giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển để mỗi gia đình Việt
Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội. Phát
huy tinh thần tương thân tương ái, tự nguyện, tính tự quản, dân chủ và năng
lực làm chủ trong sinh hoạt cộng đồng, xây dựng môi trường xã hội lành
mạnh, bảo vệ môi trường sinh thái.
- Xây dựng đời sống văn hoá và môi trường văn hoá.
Xây dựng đời sống văn hoá và môi trường xã hội lành mạnh là một
nhiệm vụ quan trọng, có quan hệ khăng khít với việc xây dựng con người phát
17
18
triển toàn diện, xây dựng gia đình văn hoá; phát huy tính tích cực cá nhân và
tính tích cực xã hội, tạo thành “vốn xã hội” quyết định tiến bộ xã hội. Để xây
dựng đời sống văn hoá và môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh, trước hết
phải xác lập các thể chế dân chủ ở cơ sở, khuyến khích và tạo điều kiện cho
mọi người dân được tổ chức và tham gia các sinh hoạt văn hoá cộng đồng;
hình thành truyền thống xã hội học tập; giáo dục sức khoẻ cộng đồng, lối sống
thân thiện và bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường sinh thái; thực hiện
nghiêm pháp luật, phòng chống tham nhũng, ngăn chặn và trấn áp tội phạm,
tệ nạn xã hội và những hành vi vi phạm pháp luật, gìn giữ kỷ cương và cuộc
sống yên bình của nhân dân.
Gắn kết chặt chẽ những hoạt động xây dựng đời sống văn hoá với nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng khu vực (đô thị, nông thôn,
khu công nghiệp…), từng vùng, từng dân tộc, tôn giáo. Chú trọng tính đặc thù
trong xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc thiểu số và ở vùng tôn giáo
khác nhau. Hoạt động văn hoá phải góp phần thiết thực vào việc đảm bảo an
ninh, trật tự xã hội; củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; giáo dục nhân cách văn
hoá; nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng
dân tộc thiểu số; nâng cao dân trí, cung cấp cho bà con những kinh nghiệm
hay, những cách làm tốt về xây dựng đời sống văn hoá, về xoá đói giảm
nghèo, thi đua làm giàu chính đáng, về chuyển đổi cơ cấu kinh tế…, góp
phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”.
Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình, làng (thôn, ấp, buôn,
bản), khu tập thể, khu phố văn hoá; đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động
xây dựng cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp… đạt tiêu
chuẩn văn hoá, nếp sống văn minh.
Coi trọng, nâng cao văn hoá lãnh đạo và quản lý.
Tập trung thực hiện tốt Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá” là nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược; đưa Phong trào đi vào
chiều sâu, có kết quả thiết thực, trở thành phong trào của toàn xã hội.
- Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc.
Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc là nhiệm vụ then chốt của
Chiến lược phát triển văn hoá. Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu
tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hoá và văn hoá phi vật
thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hoá dân gian của từng địa
phương, từng vùng văn hoá, từng vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống,
lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm. Kết hợp hài hoà việc bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững.
18
19
Điều tra, sưu tầm, xây dựng “ngân hàng dữ liệu” về văn hoá vật thể và
văn hoá phi vật thể tiêu biểu.
Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để bảo quản, giữ gìn lâu dài tài
liệu, hiện vật tại các bảo tàng, cơ quan lưu trữ tư liệu lịch sử, văn hoá, nghệ
thuật ở Trung ương và địa phương.
Thực hiện các hình thức tôn vinh các nghệ sĩ, nghệ nhân tiêu biểu và cơ
chế chính sách để các nghệ nhân phổ biến, truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ.
- Bảo tồn và phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số.
Văn hoá các dân tộc thiểu số là tài sản quý giá góp phần làm nên sự
phong phú, đa dạng mà thống nhất của văn hoá Việt Nam. Giữ gìn bản sắc và
sự đa dạng của văn hoá các dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chính trị - xã hội to
lớn ở kỷ nguyên toàn cầu hoá. Có thể nói, thực chất của vấn đề dân tộc là vấn
đề văn hoá.
Coi trọng và tổ chức thực hiện các chương trình về bảo tồn, phát huy
những giá trị truyền thống tốt đẹp và xây dựng, phát triển những giá trị mới
về văn hoá, văn học, nghệ thuật, đặc biệt là hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ, chữ
viết của các dân tộc thiểu số. Có chính sách và giải pháp cụ thể xây dựng đội
ngũ trí thức trong các dân tộc thiểu số; phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức lực
lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá, văn học, nghệ thuật dân tộc
thiểu số. Ưu tiên tài trợ cho các tác giả dân tộc thiểu số có tài năng, sáng tạo
các tác phẩm về đề tài dân tộc và miền núi.
Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân
tộc thiểu số. Thông qua hoạt động du lịch văn hoá được tổ chức, quản lý tốt,
góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm
nghèo cho đồng bào vùng dân tộc, miền núi.
- Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật.
Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn
hoá. Nhiệm vụ trung tâm của văn học, nghệ thuật thời gian tới là phấn đấu
sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật
cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng
con người. Vừa coi trọng những đề tài về truyền thống dân tộc, về cách mạng
và kháng chiến, vừa bám sát thực tiễn cuộc sống hiện nay để có được những
tác phẩm lớn có giá trị cao về thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế. Thực hiện việc lấy tác phẩm tốt để cổ vũ, giáo dục con người và
xã hội, giải trí lành mạnh; lên án, phê phán không khoan nhượng những tiêu
cực đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam; ngăn
19
20
ngừa những tác phẩm văn học, nghệ thuật phi đạo lý, lạc hậu, xa rời bản sắc
văn hoá dân tộc.
Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học,
nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, phương thức
và sự tìm tòi, thể nghiệm. Thực hiện chính sách hỗ trợ về vật chất, bảo trợ và
đặt hàng các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Bảo hộ có kết quả về tác giả và
quyền liên quan.
Bảo tồn, bảo vệ những tinh hoa nghệ thuật truyền thống, văn hoá dân
gian và phát huy có hiệu quả trong đời sống xã hội hiện đại.
Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, phát triển lý luận văn học và mỹ học mác -
xít, hiện đại; nâng cao tính khoa học, tính thuyết phục, góp phần hướng dẫn,
điều chỉnh sáng tác, phê bình văn nghệ. Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn
lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha ta và của thế giới, vận
dụng sáng tạo, làm phong phú lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại;
làm rõ vấn đề bản sắc dân tộc trong kiến trúc. Xây dựng cơ chế tư vấn, phản
biện xã hội và thẩm định giá trị của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, kiến
trúc giúp cho sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; coi trọng ý kiến
của quần chúng góp ý, phê bình tác phẩm. Đề cao đạo đức phê bình, văn hoá
tranh luận và ý thức trách nhiệm của người phê bình trước công chúng và
trước lịch sử văn học, nghệ thuật; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho
hoạt động phê bình văn nghệ; phát huy vai trò quan trọng của công tác lý
luận, phê bình văn học, nghệ thuật, kiến trúc trong việc đánh giá, định hướng
sáng tác, hướng dẫn dư luận xã hội và thị hiếu văn hoá, nghệ thuật cho quần
chúng. Xây dựng cơ chế quản lý và chế tài ngăn chặn, xử lý các hoạt động
sáng tác, truyền bá những sản phẩm văn học, nghệ thuật có nội dung, tư tưởng
nghệ thuật thấp, ảnh hưởng xấu tới xã hội. Chọn lọc và tạo điều kiện công bố
những tác phẩm trong và ngoài nước có giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Nâng
cao chất lượng, hiệu quả của việc đưa các tác phẩm văn nghệ Việt Nam ra
nước ngoài; xây dựng cơ chế thẩm định, lựa chọn tác phẩm của nước ngoài
đưa vào nước ta.
Phát huy, khai thác và giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng
tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để tạo ra được nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư
tưởng và nghệ thuật. Thực hiện dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng
trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo văn hoá, văn học, nghệ thuật đi đôi với
phát huy trách nhiệm công dân của trí thức, văn nghệ sĩ. Trọng dụng trí thức,
văn nghệ sĩ trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống
hiến; có chính sách đặc biệt với nhân tài của đất nước. Khuyến khích sự tìm
tòi, khẳng định và bảo vệ những giá trị mới làm phong phú và đa dạng đời
sống văn hoá, văn nghệ.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chien_luoc_phat_trien_van_hoa_den_nam_2020.pdf

