Vai trò “Tiên phong” của thiền sư Khánh Hòa trong phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt Nam trong những năm 1920-1945 qua tài liệu lưu trữ

Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
61  
NINH THỊ SINH*  
VAI TRÒ “TIÊN PHONG” CỦA THIỀN SƯ KHÁNH HÒA  
TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở  
VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1920-1945  
QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ  
Tóm tắt: Trên cơ sở khảo cứu các tài liệu lưu trữ (ở Pháp và  
Việt Nam), các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và các luận án  
tiến sĩ, bài viết góp phần làm sáng tỏ vai trò “tiên phong”của  
Thiền sư Khánh Hòa trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở  
Việt Nam trong những năm 1920-1945 nói chung và vai trò đối  
với sự ra đời của Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội nói riêng.  
Từ khóa: Thiền sư Khánh Hòa, phong trào, chấn hưng, Phật  
giáo, lưu trữ, Việt Nam.  
1. Đặt vấn đề  
Trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, dưới ảnh  
hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Châu Á, đặc biệt là ở  
Trung Quốc, ở Việt Nam cũng xuất hiện cuộc vận động chấn hưng  
Phật giáo, mà nơi khởi đầu là Nam Kỳ. Trải qua gần 10 năm vận động  
sôi nổi, đến năm 1931, phong trào đạt được địa vị hợp pháp, đánh dấu  
bằng sự ra đời của Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội. Tiếp sau Nam  
Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội, các hội Phật giáo lần lượt được thành  
lập ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Mặc dù mỗi hội Phật học có một chương  
trình hoạt động riêng nhưng tất cả đều nhằm mục tiêu phổ thông giáo  
lý Phật giáo bằng việc phiên dịch kinh điển Phật giáo ra chữ Quốc  
ngữ, chỉnh đốn thiền môn, thiết lập kỷ luật tăng già, đào tạo một thế  
hệ thanh niên tu sĩ chân chính và hữu học.  
Chấn hưng Phật giáo là một trong ba vấn đề quan trọng trong lịch  
sử tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX1, chính vì vậy đã  
thu hút sự quan tâm của các học giả ở cả trong và ngoài nước, ở nhiều  
* Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội 2; NCS Đại học Aix-Marseille và Viện  
Nghiên cứu Châu Á (Cộng hòa Pháp).  
62  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
mức độ và khía cạnh khác nhau. Ở Việt Nam, chấn hưng Phật giáo  
được đề cập trước hết trong các tác phẩm về lịch sử Phật giáo Việt  
Nam. Có thể kể tới các công trình của Mật Thể2, Mai Thọ Truyền3,  
Vân Thanh4, Nguyễn Lang5, Nguyễn Tài Thư6, Nguyễn Duy Hinh7…  
Một số khía cạnh của phong trào cũng là đối tượng nghiên cứu của các  
học giả trong nước, chẳng hạn như Trần Văn Giàu quan tâm đến vấn  
đề tư tưởng và triết học Phật giáo8, trong khi đó Thích Thiện Hoa9,  
Thích Đồng Bổn10 lại giới thiệu một số gương mặt tiêu biểu của phong  
trào. Báo chí Phật giáo thu hút sự quan tâm của Thích Thanh Đạt11,  
trong khi đó Nguyễn Thị Thảo12 lại tìm hiểu về vấn đề văn học và  
Phật học trên báo chí Phật giáo giai đoạn trước năm 1945. Nguyễn  
Quốc Tuấn tập trung tìm hiểu về đặc điểm và vai trò của Phật giáo  
Việt Nam trong thế kỷ XX13.  
Ở nước ngoài, phong trào chấn hưng Phật giáo được đề cập trong  
các nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh14, Trịnh Văn Thảo15 (Pháp).  
Trong những năm gần đây, cũng đã thấy xuất hiện hai luận án tiến sĩ ở  
Hoa Kỳ tìm hiểu về chấn hưng Phật giáo. Đó là luận án tiến sĩ Triết  
học của Nguyễn Thị Minh16 và Ngô Đức Hoàng17. Nếu như Nguyễn  
Thị Minh khai thác khía cạnh giáo dục tăng chúng trong phong trào  
chấn hưng ở cả ba kỳ, thì luận án của Ngô Đức Hoàng lại tìm hiểu về  
vấn đề “nhập gian Phật giáo”.  
Các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu hoặc là phong trào  
chung hoặc là các phương diện, khía cạnh khác nhau của phong trào  
chấn hưng Phật giáo. Bên cạnh đó, nhiều công trình cũng đã đề cập  
đến nhiều nhân vật quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở  
cả ba Kỳ. Chẳng hạn, Lê Tâm Đắc trong tác phẩm Phong trào chấn  
hưng Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam 1924-1954 đã giới thiệu 10  
gương mặt tiêu biểu của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ,  
Nguyễn Lang giới thiệu những đại diện tiêu biểu (tăng sĩ và cư sĩ) của  
cả ba Kỳ. Tuy nhiên, có một nhân vật rất quan trọng và là một trong  
hai nhân vật gắn liền với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ -  
Thiền sư Khánh Hòa, nhưng các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc  
giới thiệu tiểu sử, hoặc đưa ra nhận định hết sức khái quát về vai trò  
của Thiền sư trong phong trào chấn hưng. Ví dụ, Nguyễn Lang, trong  
Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, có nhận xét rằng: “Công đầu của  
Ninh Thị Sinh. Vai trò "tiên phong" của Hòa thượng Khánh Hòa...  
63  
phong trào chấn hưng thuộc về Thiền sư Khánh Hòa”18 hay Trần  
Hồng Liên cũng khẳng định rằng “Hòa thượng Khánh Hòa là vị tổ mở  
đầu phong trào chấn hưng Phật giáo trong người Việt ở Nam Bộ”19.  
Vậy, vai trò ấy là gì ? Bài viết này, trên cơ sở khảo cứu các hồ sơ lưu  
trữ ở Pháp và Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ “công đầu” cũng như  
vai trò “tiên phong” của Thiền sư Khánh Hòa trong phong trào chấn  
hưng Phật giáo ở Việt Nam trong những năm 1920-1945.  
2. Vai trò của Thiền sư Khánh Hòa trong giai đoạn 1920-1945  
Trước hết, Cần nhắc lại rằng, trong phong trào chấn hưng Phật giáo  
giai đoạn 1920-1945, trên cả ba Kỳ, có nhiều hội Phật giáo đã được  
thành lập. Theo Pascal Bourdeaux, đến năm 1935, ở Nam Kỳ có 6 hội,  
như Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội, Lưỡng Xuyên Phật học Hội,  
Thiên thai Thiền giáo tông lương hữu Hội…20, ở Trung Kỳ có hai hội  
là Annam Phật học Hội và Đà thành Phật học21, ở Bắc Kỳ có Hội Phật  
giáo Bắc Kỳ. Chính các hội Phật giáo, Phật học này giữ vai trò chủ  
đạo trong các hoạt động chấn hưng.  
Trong số các hội đó, Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội ra đời sớm  
nhất. Sự ra đời của Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội có một ý nghĩa  
quan trọng, không những đạt được địa vị hợp pháp mà còn có tác dụng  
cổ vũ đối với tăng sĩ, trí thức trong việc vận động thành lập các hội Phật  
học ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Mặc dù đến tháng 8 năm 1931, Nam Kỳ  
Nghiên cứu Phật học Hội mới chính thức được thành lập, nhưng những ý  
tưởng về việc thành lập một hội Phật giáo đã xuất hiện từ cuối năm 1927  
và tác giả của nó, không ai khác, chính là Thiền sư Khánh Hòa.  
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877, tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị  
(Bến Tre). Vào thời điểm năm 1927, ngài trụ trì chùa Tiên Linh, ở Tân  
Hương (Bến Tre). Trên thực tế, liên quan đến vấn đề năm sinh của  
Ngài, các tài liệu hiện nay chưa có ý kiến thống nhất. Trần Hồng Liên  
trong Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ từ thế kỷ XVII  
đến năm 1975 cũng như Vân Thanh trong Lược khảo Phật giáo sử  
Việt Nam qua các thời đại và phát nguồn của các giáo phái Phật giáo  
đều cho rằng Hòa thượng Khánh Hòa sinh năm 1878, trong khi đó  
Nguyễn Lang lại cho rằng Hòa thượng sinh năm 1877. Căn cứ vào kê  
khai của Hòa thượng trong hồ sơ xin phép thành lập Hội Phật giáo  
năm 1927 thì Hòa thượng Khánh Hòa sinh năm 187722.  
64  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
Hòa thượng Khánh Hòa, lúc nhỏ tên là Lê Văn Hiệp, con của ông  
Lê Văn Chất và bà Thị Nương. Lúc thơ bé được học Tứ Thư Ngũ  
Kinh với cụ Đồ Chiểu, và chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của cụ  
Đồ. Ngài xuất gia năm 18 tuổi, tại chùa Khải Tường, lễ thiền sư Chơn  
Tánh làm thầy. Sau đó lại theo học sư tổ Chánh Tâm, một bậc danh  
đức thời bấy giờ ở chùa Kim Cang, làng Bình Cang, Thủ Thừa, tỉnh  
Tân An. Theo học với tổ Kim Cang 10 năm, đến năm 1906 tổ Kim  
Cang thị Phật, sau đó, vào năm 1907, Thiền sư Khánh Hòa được dân  
làng và bổn đạo chùa Tiên Linh làng Tân Hương mời về trụ trì chùa  
này. Nhận xét về Thiền sư Khánh Hòa, Nguyễn Lang viết : “Ông rất  
có chí cầu học, hễ nghe ở đâu có bực cao tăng là tìm tới họ để thọ  
giáo. Năm 28 tuổi, trong kỳ kiết hạ tại chùa Long Hoa ở quận Gò Vấp,  
Gia Định, ông được mời giảng kinh Kim Cương Chư Gia cho đại  
chúng. Đây là lần đầu ông làm giảng sư Phật học. Ông được các bậc  
tôn túc khen ngợi và từ đó tiếng tăm ông được đồn xa”23. Khi trụ trì  
chùa Tiên Linh, nhận thấy tình trạng thất học của tăng đồ, Phật pháp  
suy đồi nên Hòa thượng Khánh Hòa tận lực giáo hóa. Chính vì vậy,  
ngôi chùa Tiên Linh do Ngài trụ trì đã trở thành trường học để dạy  
chư tăng thời bấy giờ.  
Riêng đối với phong trào chấn hưng Phật giáo trong những năm  
1920 đến 1945, Hòa thượng Khánh Hòa là người sớm có chí  
nguyện, đồng thời cũng là người tiên phong và có thể coi là vị kiến  
trúc sư trưởng trong việc thành lập hội Phật giáo để lo việc chấn  
hưng Phật giáo.  
Hiện nay, trong các kho lưu trữ ở Pháp và Việt Nam, chúng tôi tìm  
thấy các hồ sơ cho phép làm sáng tỏ nhận định nêu trên. Ở Trung tâm  
Lưu trữ Quốc gia II, có hai hồ sơ D.62/432 và D9.56/58 (phông Phủ  
Thống đốc Nam Kỳ), và ở Kho Lưu trữ Hải ngoại Pháp (Aix-en-  
Provence) cũng có hồ sơ 65539 (phông Phủ Toàn quyền Đông Dương)  
và hồ sơ 227 (phông Phủ Thống sứ Cao Miên).  
Trước hết, hồ sơ D9.56/58 cho biết, vào tháng 12 năm 1927, thông  
qua M. Guigues, Hòa thượng Khánh Hòa, với tư cách là Hội trưởng  
tạm thời, đã đệ trình hồ sơ xin phép thành lập Hội Phật giáo  
(Association des Bouddhistes) lên Thống đốc Nam Kỳ. Riêng đối với  
sự kiện này, có hai vấn đề cần nghị luận. Thứ nhất, thời điểm xin phép  
Ninh Thị Sinh. Vai trò "tiên phong" của Hòa thượng Khánh Hòa...  
65  
lập hội, tháng 12 năm 1927 và thứ hai là nội dung cụ thể hồ sơ xin lập  
hội mà Hòa thượng Khánh Hòa đã đệ trình. Việc phân tích hai nội  
dung này sẽ cho thấy rõ tâm huyết của Hòa thượng Khánh Hòa trong  
sự nghiệp chấn hưng Phật giáo.  
Cuộc vận động chấn hưng Phật giáo xuất hiện trên báo chí quốc  
ngữ khoảng cuối năm 1923 đầu năm 192424, và thực sự sôi nổi kể từ  
năm 1927, với những đại diện tiêu biểu như sư Lai (chùa Hang, Thái  
Nguyên, Bắc Kỳ), sư Thiện Chiếu (Nam Kỳ).... Trong khi các vị này  
còn đang bàn luận về chương trình chấn hưng, chẳng hạn như chương  
trình 10 điểm của sư Lai25 thì cuối năm 1927, Hòa thượng Khánh Hòa  
đã bắt đầu xin phép thành lập hội Phật giáo. Theo chúng tôi, hành  
động này của Hòa thượng Khánh Hòa được khích lệ bởi những tin tức  
về sự hoạt động của Hội Phật giáo Trung Quốc. Nếu những thông tin  
mà cuốn Biên niên sử Phật giáo Gia Định - Sài Gòn -Thành phố Hồ  
Chí Minh là chính xác thì nhận định này hoàn toàn có cơ sở. Trang 81,  
tác phẩm này viết “Ngày 10 tháng 7 năm 1927, mãn hạ, Hòa thượng  
Khánh Hòa về (từ chùa Long Khánh, Quy Nhơn, Trung Kỳ) ghé chùa  
Linh Sơn (Sài Gòn), gặp Thiện Chiếu giới thiệu Điều lệ Hội Phật giáo  
Trung Quốc”26.  
Tuy nhiên, ý tưởng thành lập hội Phật giáo với tư cách như một  
biện pháp để chấn hưng Phật giáo đã xuất hiện trên báo chí Quốc  
ngữ ở Việt Nam ngay từ năm 1926, mà tác giả của nó là một người  
Pháp, ông G. Robert, Đốc học trường Trung học Pháp-Hoa (Chợ  
Quán). Khảo cứu một số tờ báo Quốc ngữ nổi tiếng thời bấy giờ như  
Đông Pháp, Đông Pháp thời báo, Khai hóa nhật báo, Thực nghiệp  
dân báo,… trong hai năm 1925-1926, chúng tôi thấy xuất hiện một  
số bài viết về Phật giáo. Trong số đó, đáng chú ý là bài viết “Vì sao  
đạo Phật đáng cho hết thảy dân cõi cực Đông sùng bái” của G.  
Robert đăng trên ba số báo Đông Pháp, ra ngày 13, 16 và 18 tháng  
11 năm 1926. Trong bài viết này, ông Robert đã chỉ ra những điều  
cốt yếu của Phật giáo nguyên thủy. Sau đó, khi liên hệ với Phật giáo  
ở các nước cực Đông, như Trung Quốc, Nhật Bản thì ông nhận thấy,  
Phật giáo ở đây bị “sai khác” nhiều lắm so với đạo gốc. Riêng đối  
với Phật giáo ở xứ Đông Pháp ông nhận thấy rằng “chín nghìn chín  
trăm chín mươi chín người xưng mình là theo Phật giáo, nhưng  
66  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
không biết Phật giáo là cái gì ráo. Theo ý mấy người ấy, theo Phật  
giáo là theo chùa miếu và theo mấy điều dị đoan thô kịch đó”27. Tuy  
nhiên, theo Robert, thực trạng đó hoàn toàn có thể thay đổi được. Và  
biện pháp mà ông đưa ra là thành lập một hoặc nhiều hội “Annam  
chuyên học về Phật”. Các hội này phải tập hợp những người Annam  
giỏi về khoa học cũng như triết học Phương Tây, đọc hiểu, giải nghĩa  
và bình luận được các sách Phật bằng tiếng Pháp, tiếng Anh. Hội lập  
rồi thì những người trong hội phải “diễn thuyết phép Phật”, “in sách  
về phép Phật ra cho nhiều”, “phải coi xét cách chọn lựa thầy chùa  
Annam cùng cách ăn học của mấy thầy chùa ấy”, cuối cùng lập ra  
“trường cao đẳng về Phật học”. Quan trọng hơn nữa, ông Robert  
khẳng định, việc chấn hưng Phật giáo ở xứ Đông Pháp không hề trái  
với lợi ích của nước Pháp ở xứ này.  
Ý kiến của Robert về việc chấn hưng Phật giáo thực sự có ảnh  
hưởng lớn đến một bộ phận sư tăng cũng như những người có tư  
tưởng chấn hưng phật giáo thời bấy giờ. Bằng chứng là bài báo cũng  
như ý kiến của ông Robert được đề cập trong các bài viết vận động  
chấn hưng Phật giáo của nhiều vị tăng sĩ cũng như cư sĩ trong năm  
1927, như của sư Lai (Bắc Kỳ), của Bất Tài Tử, thậm chí Thần Nông  
báo - một tờ báo phổ thông kiến thức trong lĩnh vực nông nghiệp do  
Nguyễn Gia Huy làm chủ nhiệm, trụ sở tại số 93 đường Carreau, Hà  
Nội (nay là đường Lý Thường Kiệt) còn đăng lại một phần nội dung  
của bài viết trong số 90, ra ngày 21 và 29 tháng 11 năm 1931.  
Mặc dù, hiện tại chúng tôi không tìm thấy một dẫn chứng nào cho  
phép khẳng định sư Khánh Hòa trong cuộc vận động thành lập hội  
Phật giáo có chịu ảnh hưởng từ bài viết này hay không, nhưng rõ ràng  
bài báo của Robert là sự cổ vũ và động viên rất lớn đối với tăng sĩ và  
cư sĩ trong cuộc vận động chấn hưng Phật giáo. Một điều đáng chú ý  
nữa là, năm 1931, khi Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội được thành  
lập, ông G. Robert có tên trong danh sách hội viên danh dự. Điều này  
chắc chắn không phải ngẫu nhiên.  
Trở lại vấn đề hồ sơ xin phép lập hội của Hòa thượng Khánh Hòa  
cuối năm 1927. Hồ sơ này gồm có đơn xin thành lập hội, dự thảo Điều  
lệ, bản khai về mục đích thành lập Hội Phật giáo và đơn xin xuất bản  
tạp chí Từ Bi Âm. Căn cứ vào các giấy tờ nêu trên, có thể biết được  
Ninh Thị Sinh. Vai trò "tiên phong" của Hòa thượng Khánh Hòa...  
67  
những nội dung cụ thể liên quan đến Hội Phật giáo như về tên hội,  
mục đích thành lập, các hạng hội viên…  
Về tên hội, chủ trương thành lập một hội của các tín đồ theo Phật  
giáo ở Nam Kỳ lấy tên là “Hội Phật giáo” (L’Association des  
bouddhistes). Hội này sẽ đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, Sài Gòn.  
Hội Phật giáo được thành lập nhằm 10 mục đích, gồm, đoàn kết và  
giúp đỡ lẫn nhau giữa các tín đồ Phật giáo trên con đường tu học;  
Nâng cao hiểu biết về Phật giáo trên cơ sở nghiên cứu kinh điển; Bảo  
tồn giáo lý Phật giáo, thiết lập trật tự và kỷ luật tăng giới; Cập nhật  
cho hội viên những tin tức liên quan đến Phật giáo; tổ chức các buổi lễ  
Phật tại hội quán trung ương cũng như ở các địa phương; thành lập  
trường phật học; mở thư viện; xuất bản kinh sách bằng chữ Quốc ngữ;  
tổ chức các cuộc diễn giảng; xuất bản một tờ nguyệt san làm cơ quan  
ngôn luận của hội. Cũng theo tài liệu trong hồ sơ này cho biết, thì tờ  
tạp chí này sẽ lấy tên là Từ Bi Âm, in bằng chữ Quốc ngữ, nhằm mục  
đích làm cơ quan tuyên truyền giáo lý của Phật giáo cũng như cập  
những thông tin trong Hội28.  
Mặc dù còn rất khái quát, nhưng những mục đích được nêu ra, rõ  
ràng cho phép nhận định rằng, Hội rất chú trọng đến việc phổ thông  
giáo lý Phật giáo. Điều đó được thể hiện thông qua hoạt động xuất  
bản kinh sách bằng chữ Quốc ngữ cũng như tạp chí Từ Bi Âm và tổ  
chức diễn giảng. Cần nhắc lại ở đây rằng, lúc bấy giờ kinh điển Phật  
giáo ở Việt Nam chủ yếu bằng chữ Hán, nhưng do Khổng giáo suy  
tàn, nên chỉ một bộ phận nhỏ chư tăng có thể thông hiểu kinh điển,  
trong khi đó chữ Quốc ngữ lại đang được sử dụng ngày càng rộng  
rãi. Chính vì vậy, việc xuất bản tạp chí Phật học, sách vở bằng chữ  
Quốc ngữ sẽ góp phần phổ thông Phật giáo đến đông đảo công  
chúng. Sau này, khi các hội Phật giáo được thành lập ở Trung Kỳ và  
Bắc Kỳ, trong chương trình hoạt động của mình đều chú trọng đến  
việc này. Bên cạnh việc phổ thông giáo lý, Hội Phật giáo mà Hòa  
thượng Khánh Hòa chủ trương thành lập cũng chú trọng đến việc  
chấn chỉnh nội bộ tăng già, thông qua việc thiết lập trật tự và kỷ luật  
trong tăng giới.  
Tuy nhiên, rất tiếc rằng, hồ sơ xin lập Hội Phật giáo đã không được  
chính quyền thuộc địa chấp nhận, bởi vì, bản dự thảo của Hội có ghi  
68  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
rằng, những người không Phật giáo cũng có thể trở thành hội viên  
thường trợ. Phía cảnh sát nhận định rằng, điều khoản này “mang tính  
chất mở”.  
Mặc dù thất bại, nhưng chí nguyện thành lập Hội Phật giáo của  
Hòa thượng Khánh Hòa không vì thế mà mất đi.  
Ngày 1 tháng 4 năm 1928, Hòa thượng Khánh Hòa cùng với các  
ông Trần Văn Hương (chủ chùa Chục Thọ, làng Nhị Hòa, Biên Hòa),  
Lê Trí Chất (chủ chùa An Phước, làng Tân Phú Đông, Sa Đéc), Phạm  
Văn Khuê (chủ chùa Thạnh Lương, làng Mỹ Khánh, Biên Hòa),  
Trương Tấn Phát (chủ chùa Chúc Thọ, làng Hanh Thông, Gia Định),  
Thái Văn Cơ (chủ chùa Phước Long, làng Mỹ Chánh, Long Xuyên),  
Nguyễn Văn Tài (tức sư Thiện Chiếu, chùa Linh Sơn, đường  
Douaumont, Sài Gòn) đã tu chỉnh lại bản dự thảo Điều lệ năm 1927 và  
tiếp tục xin phép thành lập Hội Phật giáo. Bản dự thảo điều lệ lần này  
gồm 6 chương và 41 điều khoản, quy định về các khoản như tên hội,  
mục đích, hoạt động, vào hội-thôi hội, sự quản trị,…. So với điều lệ  
năm 1927, bản dự thảo lần này có điều chỉnh một số nội dung, chẳng  
hạn như về các hạng hội viên, nếu như điều lệ năm 1927 quy định có 5  
hạng, thì điều lệ năm 1928 rút xuống còn ba hạng, gồm tán trợ hội  
viên, chủ trì hội viên và thường hội viên, trong khi đó mục đích và nội  
dung hoạt động về cơ bản vẫn được giữ nguyên. Cụ thể:  
“Điều 2: Mục đích của hội là liên hiệp tăng đồ và tín đồ để phát  
dương Phật giáo, sở dĩ: cứu tế thế gian cho được an vui về phần xác và  
siêu thoát về linh hồn.  
Điều 3: Cho đạt cái mục đích ấy thì hội chuyên:  
1) Lập:  
a. Những trường Phật học để đào tạo cho tăng đồ và tín đồ đủ tư  
cách đặng tuyên truyền giáo nghĩa của đạo Phật.  
b. Những thơ viện để cho hội viên dùng  
2) Tổ chức những cuộc giảng kinh mỗi tháng 2 kỳ  
3) Mở:  
a. Một tạp chí làm cơ quan cho hội, mỗi tháng xuất bản một kỳ  
Ninh Thị Sinh. Vai trò "tiên phong" của Hòa thượng Khánh Hòa...  
69  
b. Cuộc tu thơ đặng dịch ra quốc văn các bản chữ ngoại quốc đã  
chép kinh điển chân truyền cũ, lại dịch các thứ sách trứ danh luận về  
đạo Phật.  
4) Lập nhà truất cô, nhà dưỡng lão và nhà y tế cho kẻ nghèo  
nhờ”29.  
Theo quy định thời bấy giờ, hồ sơ xin phép thành lập Hội Phật giáo  
được chuyển đến sở cảnh sát để điều tra. Kết quả điều tra ngày 9 tháng  
6 năm 1928, phía cảnh sát nhận định thái độ chính trị của một số hội  
viên sáng lập “có vấn đề”. Ông Trương Tấn Phát (chủ chùa Chục Thọ)  
có qua lại với Bùi Quang Chiêu30; ông Thái Văn Cơ gia nhập đạo Cao  
Đài; ông Thiện Chiếu đã từng cộng tác với “Pháp Việt Nhứt Gia”. Bên  
cạnh đó, trong hồ sơ có điểm không hợp lý, đó là việc ông Trần Văn  
Hương đã mất ngày 14 tháng 10 năm 1926 (Âm lịch) nhưng trong bản  
Dự thảo, soạn thảo ngày 1 tháng 4 năm 1928 vẫn có chữ ký của ông.  
Mặc dù khẳng định, phần lớn những người sáng lập Hội Phật giáo có  
đạo hạnh tốt, nhưng phía cảnh sát cũng hết sức lưu ý rằng Hội Phật  
giáo phải được giám sát chặt chẽ, tránh tình trạng mượn vỏ bọc chấn  
hưng Phật giáo để khích lệ tinh thần dân tộc đối với dân bản xứ.  
Kết quả cuối cùng là đề nghị thành lập Hội Phật giáo năm 1928 vẫn  
không được nhà cầm quyền chấp nhận. Như vậy, trong vòng 5 tháng  
(tháng 12 năm 1927 đến tháng 4 năm 1928), mặc dù Hòa thượng  
Khánh Hòa đã hai lần xin phép thành lập Hội Phật giáo, nhưng đến  
giữa năm 1928, vẫn chưa có Hội nào được phép thành lập ở Nam Kỳ.  
Trước tình hình đó, Hòa thượng Khánh Hòa đã hợp tác cùng với  
ông Trần Nguyên Chấn (thường gọi là Commis Chấn), làm việc tại Sở  
Đốc lý Sài Gòn. Bài báo Une interview de M. Chấn, promoteur de  
l’oeuvre de la reconnaissance du bouddhisme đăng trên báo  
L’Opinion, nằm trong hồ sơ 65539 (lưu trữ tại Kho Lưu trữ Hải ngoại  
Pháp) cho biết, ông Trần Nguyên Chấn, sinh ngày 27 tháng 11 năm  
1884, là một người sùng Phật giáo và cũng là người có nguyện vọng  
bảo tồn Phật giáo ở Nam Kỳ. Bản thân ông đã cho đúc 500 pho tượng  
bằng xi măng, một nửa trong số đó, ông đã đem tặng các chùa ở Nam  
Kỳ, số còn lại được trưng bày trong chùa Linh Sơn. Tiếp đó, với sở  
nguyện phục hưng Phật giáo ở Nam Kỳ ông đã tham khảo nhiều nhà  
70  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
sư ở Nam Kỳ và cuối cùng tìm được Hòa thượng Khánh Hòa, trụ trì  
chùa Tiên Linh, ở Bến Tre, một bậc tu hành uyên bác và nhiệt thành.  
Mặc dù vẫn kiên trì chủ trương thành lập Hội Phật giáo, nhưng  
trước khi tiến tới thành lập chính thức, quá trình lập hội phải trải qua  
nhiều bước đệm.  
Trước hết, Hòa thượng Khánh Hòa cùng với ông Trần Nguyên  
Chấn và một số vị khác thành lập Ban Bảo tồn Phật giáo (Le comité  
pour la Conservation du bouddhisme). Ban này do Hòa thượng Khánh  
Hòa làm Chánh trưởng ban; ông Trần Nguyên Chấn làm Phó trưởng  
ban, và được sự ủng hộ của chư tăng 15 chùa ở Nam Kỳ. Vì không lấy  
tên “hội”, nên theo tôi (TG) việc thành lập Ban Bảo tồn có lẽ không  
phải xin phép nhà cầm quyền.  
Tiếp theo, những người đứng đầu Ban Bảo tồn Phật giáo xin phép  
chính quyền thành lập Thư viện Phật học với tên gọi Pháp Bảo  
Phương và Duyệt Kinh Thất (phòng đọc) vào tháng 9 năm 1929. Việc  
xin phép thành lập Pháp Bảo Phương và Duyệt Kinh Thất cũng không  
hề dễ dàng. Sau khoảng một tháng, đơn xin thành lập Thư viện và  
Duyệt Kinh Thất vẫn chưa được chính quyền phê chuẩn. Do vậy, ngày  
7 tháng 10 năm 1929, ông Trần Nguyên Chấn viết thư cho bà  
Karpelès, Thư ký của Viện Phật giáo ở Phnom-Penh. Trong thư, ông  
Trần Nguyên Chấn trình bày nguyện vọng thành lập Thư viện Phật  
học, Duyệt Kinh Thất và nếu có thể sẽ thành lập một Trường Phật học  
nhằm mục đích bảo tồn Phật giáo cổ truyền ở Nam Kỳ và nhờ bà  
Karpelès bằng uy tín và địa vị khoa học của mình tác động tới Thống  
đốc Nam Kỳ31.  
Tài liệu lưu trữ hiện nay không cho biết chính quyền thuộc địa cho  
phép Ban Bảo tồn Phật giáo thành lập Thư viện Phật học và Duyệt  
Kinh Thất vào thời gian nào nhưng lễ khánh thành Thư viện Phật học  
và Duyệt Kinh Thất đã diễn ra vào ngày 21 tháng 12 năm 1929. Sự  
kiện này được báo chí hồi đó đưa tin cũng như được đề cập trong báo  
cáo của sở cảnh sát.  
Tham dự buổi lễ có ông Eutrope đại diện cho Thống đốc Nam Kỳ,  
ông Me Béziat - Đốc lý thành phố, cùng với nhiều quan chức Nam,  
Pháp và các chư tăng, tín đồ Phật giáo. Trước sự hiện diện của đại  
Ninh Thị Sinh. Vai trò "tiên phong" của Hòa thượng Khánh Hòa...  
71  
diện chính quyền và chư tăng, ông Trần Nguyên Chấn có một bài phát  
biểu trang trọng bằng tiếng Pháp. Trong bài phát biểu này, ông Trần  
Nguyên Chấn nói rõ mục đích của Thư viện Phật học và Duyệt Kinh  
Thất nhằm chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ. Vì Phật giáo vốn là một  
tôn giáo cổ truyền của người Việt, nhưng lại đang đứng trước nguy cơ  
bị diệt vong do sự xuất hiện của đạo Cao Đài. Ý tưởng này của ông  
phù hợp với chủ trương của Toàn quyền Đông Dương Pasquier.  
Tháng 7 năm 1929, nhân cuộc viếng thăm các tỉnh miền Tây, Pasquier  
nói rằng “Quyết định thành lập một Viện Phật giáo ở Nam Kỳ để bảo  
tồn tôn giáo này”. Nhưng theo ông Trần Nguyên Chấn, trước mắt,  
Thư viện Phật học mang lại nhiều lợi ích cho Phật giáo ở Nam Kỳ  
hơn. Thư viện này tàng trữ kinh sách Phật, bằng chữ Hán, chữ Pháp và  
các tiếng nước ngoài. Tại thời điểm khánh thành, thư viện có 820 tập  
của bộ Tục Tạng Kinh được đặt mua tại Thượng Hải, và 100 tác phẩm  
Phật giáo bằng tiếng Pháp được đặt mua tại Paris. Thư viện bắt đầu  
mở cửa phục vụ công chúng (cả tăng và tục) kể từ ngày 1 tháng 1 năm  
1930. Ông Trần Nguyên Chấn hy vọng sẽ xây dựng Pháp Bảo Phương  
thành hạt nhân cho Phật giáo ở Nam Kỳ.  
Cùng với việc thành lập Thư viện Phật học, những người chủ  
trương chấn hưng cũng quan tâm đến việc xin phép xuất bản tạp chí  
Phật học bằng chữ Quốc ngữ. Cụ thể tháng 9 năm 1929, ông Phạm  
Ngọc Vinh gửi đơn cho Thống đốc Nam Kỳ, xin phép xuất bản tạp chí  
Từ Bi Âm bằng chữ Quốc ngữ. Ông Phạm Ngọc Vinh sinh ngày 15  
tháng 12 năm 1903 tại làng Phú Tài, tổng Đức Thắng (Phan Thiết),  
trong một gia đình quan lại. Cha là ông Phạm Ngọc Quát, Thượng thư  
triều đình Huế, mẹ là bà Trà Thị Thức. Bản thân Phạm Ngọc Vinh làm  
việc tại ngân hàng Đông Pháp từ năm 1923, và là con rể của ông Trần  
Nguyên Chấn. Ngày 30 tháng 4 năm 1931, nghị định số 2683 do Toàn  
quyền Đông Dương René Robin ký, cho phép ông Phạm Ngọc Vinh  
được phép xuất bản tạp chí Từ Bi Âm bằng chữ Quốc ngữ, mỗi tháng  
một kỳ32.  
Bước tiếp theo là việc xin phép thành lập hội Phật giáo. Ngày 28  
tháng 12 năm 1929, ông Trần Nguyên Chấn thay mặt Ban Trị sự tạm  
thời đệ trình hồ sơ xin phép thành lập Association pour l’Etude et la  
Conservation du Bouddhisme en Cochinchine (tạm dịch: Hội Nghiên  
72  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
cứu và Bảo tồn Phật giáo Nam Kỳ) lên Thống đốc Nam Kỳ. Hồ sơ này  
gồm đơn, bản Dự thảo Điều lệ của Hội và danh sách Ban trị sự tạm  
thời. Ban trị sự tạm thời gồm có 8 vị, trong đó tăng sĩ chỉ có một  
người duy nhất là Thiền sư Khánh Hòa, 7 người còn lại đều là cư sĩ và  
đều giữ các chức vụ trong các cơ quan hành chính, hãng sở của chính  
quyền thuộc địa33. Chính quyền thuộc địa nghiên cứu rất tỉ mỉ hồ sơ  
xin phép lập hội, và để đạt được sự phê chuẩn của chính quyền, bản  
dự thảo điều lệ cũng trải qua nhiều lần bổ sung và chỉnh sửa. Lần cuối  
cùng là ngày 19 tháng 8 năm 1931. Ông Trần Nguyên Chấn, thay mặt  
Ban Trị sự tạm thời Association pour l’Etude et la Conservation du  
Bouddhisme en Cochinchine gửi lên Thống đốc Nam Kỳ bản Dự thảo  
Điều lệ được hoàn thiện theo sự hướng dẫn của bức thư số 7190 ngày  
7 tháng 8 năm 1931. Đồng thời, ông cũng xin được bổ sung thêm hai  
chữ “Nam Kỳ” vào tên Hội bằng chữ Quốc ngữ, vừa để diễn tả nghĩa  
chữ “Cochinchine” sang tiếng Việt, vừa để phân biệt với Viện Phật  
học ở Phnom-Penh và Phật giáo Nam tông ở Campuchia và Lào. Sau  
gần hai năm kể từ ngày đệ trình hồ sơ xin phép thành lập, ngày 26  
tháng 8 năm 1931, Thống Đốc Nam Kỳ, J. Krautheimer, đã phê chuẩn  
bản Điều lệ của Hội và cho phép Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội  
được thành lập, quyết định số 206234.  
Theo bản Điều lệ được phê chuẩn, hội quán của Nam Kỳ Nghiên  
cứu Phật học Hội đặt tại chùa Linh Sơn, đường Douaumont, Sài Gòn,  
do Hòa thượng Khánh Hòa làm Chánh Hội trưởng. Bản Điều lệ cũng  
cho biết, mục đích của Hội nhằm sùng thượng Phật giáo tại chùa Linh  
Sơn, đường Douaumont, Sài Gòn và tu bổ chùa ấy; lo sự tu bổ và hành  
động ngôi Pháp Bảo Phương và ngôi Duyệt Kinh Thất lập tại chùa ấy,  
và mua kinh sách chữ Pháp và chữ Hán nói về Phật giáo trữ thêm  
trong ngôi Pháp Bảo Phương; dịch ra chữ Quốc ngữ những kinh sách  
bằng chữ Hán; lập tại chùa Linh Sơn một Thích học đường để dạy  
tăng đồ học đạo.  
Bốn tháng sau khi thành lập, Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội  
xuất bản tạp chí Từ Bi Âm làm cơ quan ngôn luận cũng như truyền bá  
Phật giáo. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc ngày 1 tháng 1 năm 1932. Tòa  
soạn tạp chí đặt tại chùa Linh Sơn, do Hòa thượng Khánh Hòa làm  
chủ nhiệm.  
Ninh Thị Sinh. Vai trò "tiên phong" của Hòa thượng Khánh Hòa...  
73  
So với mục đích và hoạt động của dự thảo điều lệ Hội Phật giáo  
năm 1927, Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội đã giữ lại những “ý  
tưởng công trình” quan trọng như xuất bản tạp chí Từ Bi Âm, phiên  
dịch và xuất bản kinh sách bằng chữ Quốc ngữ. Tác giả của những  
công trình đó, không ai khác là Hòa thượng Khánh Hòa.  
Tuy nhiên, Hòa thượng Khánh Hòa cũng chỉ giữ những chức vụ  
này trong khoảng gần 2 năm. Sao đó, do “Hội đã bị một số cá nhân  
dùng địa vị xã hội của họ để khuynh loát và hướng dẫn về một nẻo  
khác”35 nên Hòa thượng Khánh Hòa từ chức trong Ban Trị sự cũng  
như Chủ nhiệm tạp chí Từ Bi Âm. Cuối năm 1933, Ngài về chùa  
Long Hoa, tổ chức Phật học đường lưu động lấy tên là Liên đoàn  
Phật học xã, rồi lại chuyển sang thành lập Lưỡng Xuyên Phật học  
Hội vào năm 1934.  
3. Kết luận  
Như vậy, qua sự trình bày ở trên, có thể khẳng định rằng Hòa  
thượng Khánh Hòa chính là vị tiên phong và là tác giả của chủ  
trương thành lập Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội và tạp chí Từ Bi  
Âm. Bản thân Hòa thượng đã tích cực vận động thành lập Hội Phật  
giáo trong hai năm 1927-1928, tuy nhiên, cả hai lần xin phép đều  
không được chính quyền thuộc địa chấp nhận. Kinh nghiệm sau hai  
lần thất bại đã đưa đến sự hợp tác giữa Hòa thượng Khánh Hòa - là  
người có trình độ Phật học uyên bác, lại có sẵn chủ trương hành  
động về việc chấn hưng và ông Trần Nguyên Chấn - người có địa vị  
xã hội, có khả năng tài chính, nhiệt thành sùng Phật cùng với các  
viên chức trong các cơ quan hành chính của chính quyền thuộc địa.  
Sự hợp tác này đã đưa đến sự ra đời của Nam Kỳ Nghiên cứu Phật  
học Hội vào năm 1931. Đây là hội Phật giáo đầu tiên trong phong  
trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam. Với sự xuất hiện của Nam Kỳ  
Nghiên cứu Phật học Hội, phong trào chấn hưng Phật giáo không  
những đạt được địa vị hợp pháp mà còn khuyến khích các nhà trí  
thức cùng các vị tăng sĩ ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ tích cực vận động  
đưa đến sự ra đời của các hội Phật học ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ trong  
các năm sau đó./.  
74  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
CHÚ THÍCH:  
1
Nguyễn Thế Anh (2008), “Les principaux courants de pensée religieuse du  
Vietnam au XXe siècle”, in Nguyễn Thế Anh, Parcours d’un historien du  
Vietnam, Paris, Les Indes savantes: 623-633.  
2
3
4
Mật Thể (2004), Việt Nam Phật giáo sử lược, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội: 232-234.  
Mai Thọ Truyền (2007), Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội: 98-102.  
Vân Thanh (1974), Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam qua các thời đại và phát  
nguồn của các giáo phái Phật giáo, Sài Gòn: 185-227.  
5
6
7
8
Nguyễn Lang (1985), Việt NamPhật giáo sử luận, Paris, Lá Bối; tái bản lần thứ  
2, San Jose-USA, 1993, tr. 13-179.  
Nguyễn Tài Thư (chủ biên, 1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học  
xã hội, Hà Nội: 428-472.  
Nguyễn Duy Hinh (2009), Lịch sử đạo Phật Việt Nam, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo,  
Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội: 524-593.  
Trần Văn Giàu (1971), “Phong trào chấn hưng Phật giáo và các vấn đề tư tưởng  
triết học mà phong trào ấy đã nêu lên ở nước ta trong thời kỳ lịch sử giữa hai  
cuộc chiến tranh thế giới”, Nghiên cứu Lịch sử, số 139: 8-21, số 140: 7-19.  
Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm (1920-1970) Chấn hưng Phật giáo Việt Nam  
hay là "ghi ơn tiền bối", Sài Gòn.  
9
10 Thích Đồng Bổn (chủ biên, 1996), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, Thành  
hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành: 79-220.  
11 Thích Thanh Đạt (1994), Báo chí Phật giáo với phong trào chấn hưng Phật giáo  
1930-1945, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội.  
12 Nguyễn Thị Thảo (2014), Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam  
trước năm 1945, Luận án Tiến sĩ Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.  
13 Nguyễn Quốc Tuấn (2013), Đặc điểm và vai trò của Phật giáo Việt Nam thế kỷ  
XX, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.  
14 Nguyễn Thế Anh (2008), Parcours d’un historien du Vietnam, Paris, Les Indes  
savantes, les chapitres "L’engagement politique du bouddhisme au sud du  
Vietnam dans les années soixante" et "Les principaux courants de pensée  
religieuse du Vietnam au XXe siècle", pp. 614-633.  
15 Trịnh Văn Thảo (2007), Vietnam du Confucianisme au Communisme, Paris,  
L’Harmattan: 305-309.  
16 Nguyễn Thị Minh (2007), Buddhist monastic education and regional revival  
movements in early twentieth century Vietnam, Luận án Tiến sĩ Triết học,  
Université de Wisconsin, Madison.  
17 Ngô Đức Hoàng (2015), Building a New House for the Buddha: Buddhist Social  
Engagement and Revival in Vietnam, 1927-1951, Luận án Tiến sĩ Triết học,  
Université de Washington, Washington.  
18 Nguyễn Lang (1985), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, Lá Bối xuất bản lần thứ nhất: 51.  
19 Trần Hồng Liên (1995), Phật giáo trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ từ thế  
kỷ XVII đến năm 1975, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội: 49.  
20 Pascal Bourdeaux (2003), Émergence et constitution de la communauté du  
Bouddhisme Hòa Hảo: Contribution à l’histoire sociale du delta du Mékong,  
1935-1955, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Paris, École Pratique des Hautes Études: 85.  
Ninh Thị Sinh. Vai trò "tiên phong" của Hòa thượng Khánh Hòa...  
75  
21 Ngô Đức Hoàng (2015), Building a New House for the Buddha: Buddhist Social  
Engagement and Revival in Vietnam, 1927-1951, Luận án Tiến sĩ Triết học,  
Université de Washington, Washington: ii.  
22 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, phông Phủ Thống đốc Nam  
Kỳ, hồ sơ D9. 56/58.  
23 Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, Lá Bối xuất bản lần thứ nhất,  
Paris 1985; Lá Bối in lần thứ hai, San-Jose, USA, 1993: 51.  
24 Nguyễn Thị Minh (2007), Buddhist monastic education and regional revival  
movements in early twentieth century Vietnam, Luận án Tiến sĩ triết học,  
Université de Wisconsin, Madison: 134-137.  
25 Chương trình 10 điểm gồm: lập Phật giáo tổng hội, lập Phật gia công học hội, lập  
Phật học tu thư xã, lập giảng đàn, lập trường học cho các con cái thiện tín học,  
lập thư viện trong các chùa, lập ra cuộc y tế trong các chùa, lập nhà bảo cô, tức là  
nhà để nuôi trẻ mồ côi, lập nhà nuôi kẻ khó, dạy nữ công cho con cái thiện tín.  
26 Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh (2001), Biên niên sử Phật giáo Sài  
Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh, 1600-1992, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh: 81.  
27 G. Robert (1926), “Vì sao đạo Phật đáng cho hết thảy dân cõi cực đông sùng bái,  
Đông Pháp, ngày 13, 16 và 18 tháng 11.  
28 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, phông Phủ Thống đốc Nam  
Kỳ, hồ sơ D9. 56/58.  
29 Trung tâm Lưu tữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, phông Phủ Thống đốc Nam  
Kỳ, hồ sơ D.62/432.  
30 Ông là người đã cổ động phong trào duy tân của Phan Châu Trinh cũng như hoạt  
động của Phan Bội Châu. Đồng thời ông còn thành lập Đảng Lập Hiến Đông  
Dương vận động đòi tự trị cho Việt Nam. Đảng này dùng ba tờ báo: La tribune  
indochinoise, L’Écho Annamite và Đuốc Nhà Nam làm diễn đàn.  
31 Kho Lưu trữ Hải ngoại Pháp, Aix-en-Provence, phông Phủ thống sứ Cao Miên,  
hồ sơ 227.  
32 Kho Lưu trữ Hải ngoại Pháp, Aix-en-Provence, phông Phủ thống sứ Cao Miên,  
hồ sơ 227.  
33 Ban Trị sự tạm thời gồm các vị sau:  
Chánh Hội trưởng: Lê Khánh Hòa, Hòa thượng chùa Linh Sơn  
Phó Hội trưởng: Trần Nguyên Chấn, Chánh Thừa Biện hạng nhất tại dinh Đốc lý  
thành phố Sài Gòn  
Thủ quỹ: Trần Văn Khuê, Tri huyện tại phòng thứ sáu dinh Soái Phủ Nam Kỳ  
Phó Thủ quỹ: Lê Văn Phổ, thư ký tại dinh Đốc lý thành phố Sài Gòn  
Thư ký: Nguyễn Văn Nhơn, thư ký tại dinh Đốc lý thành phố Sài Gòn  
Phó thư ký: Phạm Ngọc Vinh, thư ký tại ngân hàng Đông Pháp, Sài Gòn  
Cố vấn: Huỳnh Văn Quyền, Thông phán thượng hạng tại dinh Đốc lý thành phố;  
Nguyễn Văn Cần, Thừa biện tại dinh Đốc lý thành phố Sài Gòn.  
34 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, phông Phủ Thống đốc Nam  
Kỳ, hồ sơ D9. 56/58.  
35 Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, Lá Bối xuất bản lần thứ nhất,  
Paris 1985; Lá Bối in lần thứ hai, San-Jose, USA, 1993, tr. 54.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
A. Tài liệu lưu trữ  
76  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
1. Kho Lưu trữ Hải ngoại (Aix-en-Provence, Pháp), phông Phủ Toàn quyền Đông  
Dương, hồ sơ 65539.  
2. Kho Lưu trữ Hải ngoại (Aix-en-Provence, Pháp), phông Phủ Thống sứ Cao  
Miên, hồ sơ 227.  
3. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, phông Phủ Thống đốc Nam  
Kỳ, hồ sơ D.62/432.  
4. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, phông Phủ Thống đốc Nam  
Kỳ, hồ sơ D9.56/58.  
B. Báo chí giai đoạn thuộc địa  
1. G. Robert (1926), “Vì sao đạo Phật đáng cho hết thảy dân cõi cực Đông sùng  
bái”, Đông Pháp, ngày 13, 16 và 18 tháng 11.  
C. Sách tham khảo  
1. Nguyễn Thế Anh (2008), Parcours d’un historien du Vietnam, Paris,Les Indes  
savantes.  
2. Ngô Đức Hoàng (2015), Building a New House for the Buddha: Buddhist Social  
Engagement and Revival in Vietnam, 1927-1951, Luận án Tiến sĩ Triết học,  
Université de Washington, Washington.  
3. Nguyễn Lang (1985, 1993), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, Lá Bối xuất bản  
lần thứ nhất, Paris; Lá Bối in lần thứ hai, San-Jose, USA.  
4. Trần Hồng Liên (1995), Phật giáo trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ từ thế  
kỷ XVII đến năm 1975, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
5. Nguyễn Thị Minh (2007), Buddhist monastic education and regional revival  
movements in early twentieth century Vietnam, Luận án Tiến sĩ triết học,  
Université de Wisconsin, Madison.  
6. Pascal Bourdeaux (2003), Émergence et constitution de la communauté du  
Bouddhisme Hòa Hảo: Contribution à l’histoire sociale du delta du Mékong,  
1935-1955, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Paris, École Pratique des Hautes Études.  
7. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh (2001), Biên niên sử Phật giáo Sài  
Gòn- Gia Định-Thành phố Hồ Chí Minh, 1600-1992, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.  
Abstract  
“PIONEER” ROLE OF MASTER KHÁNH HÒA  
IN THE BUDDHIST REVIVAL MOVEMENT IN VIETNAM  
FROM 1920 TO 1945 THROUGH THE ARCHIVES’ DOCUMENTS  
On the basis of analysing the archives’ data (in France and in  
Vietnam), the works in Vietnam and theses, the article clarifies the  
“pioneer” role of Master Khánh Hòa in the Buddhist revival movement  
in Vietnam during the years 1920-1945 in general and the birth of the  
Association of Buddhist Studies in the South (Nam Kỳ) in particular.  
Keywords: Master Khánh Hòa, movement, revival, Buddhism,  
archives, Vietnam.  
pdf 16 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 24660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò “Tiên phong” của thiền sư Khánh Hòa trong phong trào chấn hưng phật giáo ở Việt Nam trong những năm 1920-1945 qua tài liệu lưu trữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_tien_phong_cua_thien_su_khanh_hoa_trong_phong_trao_c.pdf