Vai trò của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá, bảo vệ vùng đất Nam bộ thế kỷ xvii – xviii

Journal of Thu Dau Mot University, No 6 (19) – 2014  
VAI TROØ CUÛA TAÀNG LÔÙP ÑÒA CHUÛ  
TRONG COÂNG CUOÄC KHAI PHAÙ, BAÛO VEÄ VUØNG ÑAÁT  
NAM BOÄ THEÁ KYÛ XVII – XVIII  
Nguyeãn Thò AÙnh Nguyeät  
Tröôøng Ñaïi hoïc Khoa hoïc Xaõ hoäi vaø Nhaân vaên (VNU–HCM)  
TÓM TẮT  
Công cuộc khẩn hoang Nam Bộ trong suốt 2 thế kỷ (XVII–XVIII) có sự đóng góp tích  
cực từ tầng lớp địa chủ. Với chính sách phù hợp của nhà Nguyễn, tầng lớp địa chủ ở Nam  
Bộ tích cực mở cõi, khai phá vùng đất mới, phát triển kinh tế vùng đất mới, làm thành chỗ  
dựa vững chắc cho các chúa Nguyễn củng cố quyền lực, đồng thời cùng với chính quyền  
từng bước xác lập và bảo vệ chủ quyền trên vùng đất mới. Địa chủ đã đóng vai trò quan  
trọng trong toàn bộ quá trình khẩn hoang, mở mang bờ cõi, tạo dựng nên bộ mặt văn hóa  
xã hội, thiết chế hành chính, chính trị xã hội của vùng đất Nam Bộ.  
Từ khóa: địa chủ, Nam Bộ, khẩn hoang, kinh tế  
*
Công cuộc khẩn hoang Nam Bộ kéo  
dài trong suốt 2 thế kỷ XVII – XVIII đã  
làm xuất hiện tầng lớp địa chủ. Cùng với  
những thành phần cư dân khác, địa chủ  
Nam Bộ đã đóng vai trò quan trọng trong  
toàn bộ quá trình khẩn hoang, mở mang bờ  
cõi. Dưới đây là những phân tích đánh giá  
bước đầu về một số vai trò của địa chủ  
Nam Bộ trong quá trình ấy.  
Nguyễn. Những động thái của các đời chúa  
Nguyễn trong việc bảo vệ lưu dân như can  
thiệp với quốc vương Chân Lạp để cho  
người Việt di dân khai khẩn đất hoang, đặt  
doanh binh hành tuần, đặt đồn thuế để bảo  
vệ dân Việt đều diễn ra khi giữa biên giới  
Đàng Trong và vùng đất mới Nam Bộ vẫn  
còn bị ngăn cách bởi vương quốc Chiêm  
Thành. Như vậy, chính những người tự  
phát di dân với các quyền lợi địa chủ mới  
của người Việt ở Nam Bộ đã tạo động lực  
cho các đời chúa Nguyễn nảy sinh ý tưởng  
và nhu cầu trách nhiệm phải tiếp thu, làm  
chủ vùng đất gần như vô chủ này sáp nhập  
vào lãnh thổ Việt Nam.  
1. Tích cực trợ giúp chúa Nguyễn  
mở cõi, khai phá vùng đất mới  
Những lưu dân Việt đầu tiên vào Nam  
Bộ khẩn hoang trở thành những địa chủ đầu  
tiên trên vùng đất Nam Bộ giai đoạn nửa  
sau thế kỷ XVIII. Phong trào di dân tự phát  
vào Nam Bộ mạnh dần lên, đặt các chúa  
Nguyễn trước một thực tế cần phải có  
những chính sách, động thái tích cực để  
bảo vệ, trước hết là sinh mạng và quyền lợi  
của lưu dân Việt trên một vùng đất mà vào  
giai đoạn đó hoàn toàn chưa thuộc về chúa  
Quá trình khai phá đất đai, một mặt  
biến những nông dân thiếu đất ở Đàng  
Trong thành những địa chủ ở Nam Bộ, mặt  
khác cũng giúp tạo dựng cơ sở hạ tầng,  
biến những vùng đất hoang hóa thành xóm  
làng, thôn ấp, tạo điều kiện cho chúa  
50  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 6 (19) – 2014  
Nguyễn từng bước thiết lập các đơn vị hành  
Nếu lấy số liệu tổng diện tích khai khẩn  
của toàn Nam Bộ cho đến cuối thế kỷ  
XVIII là 32.000 sở ruộng với 21.000 dân  
đinh thì vùng thuộc Tiền Giang ngày nay  
có số dân chiếm tỉ lệ 71,42% số dân đinh  
và diện tích khai khẩn chiếm tỉ lệ 50% diện  
tích khai khẩn toàn Nam bộ. Dù thống kê  
không đầy đủ các vùng, nhưng với những  
số liệu trên đây cũng phác họa phần nào  
thành quả hết sức tích cực trong hai thế kỷ  
khai phá mà các lực lượng khẩn hoang ở  
Nam Bộ đạt được, trong đó không thể  
không nhắc đến địa chủ Nam Bộ.  
chính lên vùng Nam Bộ. Mãi đến năm  
1698, Gia Định Phủ, đơn vị hành chính đầu  
tiên thuộc chúa Nguyễn mới được ra đời.  
Việc khẩn hoang, chiếm hữu đất đai tự phát  
của giới nông dân – địa chủ đã đi trước việc  
xác lập quyền thống trị nhà nước gần một  
thế kỷ. Trong quãng thời gian đó, sự cần  
cù, chịu khó lao động đã làm thay đổi cơ  
bản diện mạo cư trú, dân tộc, nhân học và  
nhiều mặt xã hội khác của toàn vùng Nam  
Bộ rộng hơn 30.000 km2. Chính địa chủ  
Nam Bộ, trên chặng đường hình thành kéo  
dài gần một thế kỷ này đã biến cơ cấu xã  
hội có quy mô hết sức nhỏ lẻ chỉ là các làng  
xã khoảng đầu thế kỷ XVII không quá “nhị  
thập nhân” (20 người) để từ đó phát triển  
thành một phủ Gia Định “dư tứ vạn hộ”,  
với số dân ước trên 200.000 người(1).  
Trong một thế kỷ tiếp theo, cho đến khi  
Nguyễn Ánh trở thành Gia Long hoàng đế,  
địa chủ tiếp tục là hạt nhân, giai cấp xã hội  
đóng vai trò chính thu hút nhân, tài, vật lực  
để khai phá, xây dựng nên hạ tầng xã hội  
khắp các vùng, làm cơ sở cho chúa Nguyễn  
xây dựng nên toàn bộ cấu trúc xã hội vùng  
Nam Bộ. Đồng thời, họ cũng đóng góp rất  
lớn để tạo ra một vựa lúa mới dồi dào, giải  
quyết vấn đề lương thực cho toàn xứ Đàng  
Trong, trực tiếp khẳng định vị thế là một bộ  
phận không thể thiếu, không thể tách rời  
của quốc gia Việt Nam.  
Theo Lê Quý Đôn, vào những năm 70  
của thế kỷ XVIII, huyện Tân Bình có ruộng  
thực trưng hơn 1.454 mẫu, huyện Phước  
Long có ruộng thực trưng hơn 787 mẫu,  
đấy là chưa kể các khoản ruộng núi, đất  
dâu, đất mía, đất vườn trầu, ruộng các họ,  
ruộng quan đồn điền. Huyện Phước Long  
còn có Trường Giang Thảo có ruộng đất  
ngoài 6000 sở. Ở khu vực tả ngạn sông  
Tiền, hai thuộc Quy An và Quy Hoá, ruộng  
đất mỗi nơi đều ngoài 5000 sở.(2)  
2. Tham gia và đi đầu trong  
phát triển kinh tế vùng đất mới  
Nhờ nhận biết được vị trí và điều kiện tự  
nhiên thuận lợi của vùng đất mới, cũng như  
những chính sách khuyến khích và bảo hộ  
quyền chiếm hữu ruộng đất để khai khẩn đối  
với người dân của các chúa Nguyễn mà công  
cuộc khẩn hoang ở Nam Bộ đã mở rộng rất  
nhanh và sản xuất nông nghiệp sớm đi vào  
sản xuất lớn, đưa tới hình thành một nền kinh  
tế hàng hóa phát triển với thị trường nông sản  
hàng hóa dồi dào. Trên cơ sở đó, chính quyền  
phong kiến cũng vì thế mà được thiết lập và  
củng cố ngày càng vững mạnh.  
Chỉ tính riêng khu vực Tiền Giang ngày  
nay, địa chí Tiền Giang đã đưa ra những con  
số cụ thể, theo đó thì: Thuộc Tam Lạch (Ba  
Giồng) số dân đinh 4.000 với số ruộng 5.000;  
Thuộc Bà Lai (có lẽ là Bà Rài – Cai Lậy  
ngày nay) số dân đinh 4.000 với số ruộng  
4.000; Thuộc Bà Kiến ở Châu Định Viễn  
(Rạch Kiến trong đó có Cai Lậy – Cái Bè  
ngày nay) số dân đinh 7.000 với số ruộng  
7.000. Tổng cộng ở Tiền Giang số dân đinh  
15.000 người với số ruộng (sở) là 16.000.  
51  
Journal of Thu Dau Mot University, No 6 (19) – 2014  
Do những đặc điểm riêng trong quá  
trình khẩn hoang, hình thức sở hữu tư nhân  
về ruộng đất đã sớm hình thành và giữ vị trí  
chủ đạo ở vùng đồng bằng Nam Bộ. Quá  
trình tích tụ, tập trung ruộng đất vào tay các  
địa chủ đã giúp cho bộ phận này nắm được  
một số lượng nông sản to lớn. Lượng nông  
sản đó được đưa ra thị trường và trở thành  
hàng hoá trao đổi.  
Do sản xuất hàng hoá phát triển và việc  
buôn bán sớm trở thành một hoạt động kinh  
tế quan trọng, cho nên trong thế kỷ XVIII,  
vùng này đã xuất hiện nhiều thị tứ, nhiều  
điểm buôn bán sầm uất, trong đó có một số  
điểm đã trở thành những trung tâm thương  
mại và giao dịch quốc tế nổi tiếng như Nông  
Nại Đại Phố ở Biên Hoà, thương Cảng Sài  
Gòn (tức Chợ Lớn ngày nay), thương cảng  
Hà Tiên, thương cảng Bãi Xàu, phố chợ Mỹ  
Tho… Phố chợ Mỹ Tho phát triển trở thành  
một trong những trung tâm, điều phối hoạt  
động thương mại của khu vực Tây Nam Bộ  
và góp phần hướng nền nông nghiệp ở Nam  
Bộ ngay từ rất sớm đi vào sản xuất hàng hóa.  
Về vấn đề này, Giáo sư Phan Huy Lê nhận  
xét: “Thời kỳ từ cuối thế kỷ XVI đến năm  
1836, vùng Đồng Nai – Gia Định chỉ có chế  
độ tư hữu ruộng đất và nông thôn gồm những  
thôn ấp dựa trên chế độ sở hữu ruộng đất  
này. Đấy là một kết cấu kinh tế – xã hội khác  
với các vùng khác; và chính nó đã thúc đẩy  
sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hóa,  
làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế của  
Đồng Nai – Gia Định”(3). Tác giả Nguyễn  
Đình Đầu cũng có ý kiến tương tự: “việc tư  
nhân chiếm hữu ruộng đất triệt để và việc  
ruộng đất lần hồi tập trung trong tay một  
thiểu số người giàu đã tạo cho xã hội miền  
Nam, rõ ràng, có tình trạng tiền tư bản chủ  
nghĩa... mà dấu hiệu của sự hình thành chủ  
nghĩa tư bản là tình hình sản xuất hàng hóa  
đã tới mức cao”(4). Còn tác giả Lê Văn Năm  
thì cho rằng: “Sở hữu đất đai tư nhân, nhất  
là việc tập trung ruộng đất trong tay các địa  
chủ lớn đã giúp cho những người này nắm  
được một số lượng nông sản to lớn. Lượng  
nông sản đó được đưa ra thị trường”(5).  
Chính vì có sự xuất hiện sớm bộ phận  
sở hữu lớn ruộng đất của địa chủ mà phần  
nông sản dư thừa có thể đem bán đã đạt tới  
một khối lượng rất lớn, đưa tới sự hình  
thành tương đối sớm nền kinh tế hàng hóa  
ở đây. Đồng bằng Nam Bộ từ chỗ là một  
vùng đất hoang, đầy rừng rậm, lau sậy,... đã  
được mở mang và ngay từ rất sớm đã trở  
thành một vựa lúa lớn, sản xuất thóc gạo đã  
dư thừa so với nhu cầu lương thực tại chỗ.  
Lúa gạo sản xuất được không chỉ đáp ứng  
được nhu cầu lương thực của nhân dân tại  
chỗ mà còn là nguồn cung cấp thóc gạo chủ  
yếu cho cả xứ Đàng Trong, đặc biệt là vùng  
Thuận Hoá.  
Trên cơ sở một nền nông nghiệp trồng  
lúa khá phát triển, sản xuất lúa gạo có sự  
dư thừa so với nhu cầu tiêu dùng, trong xã  
hội bắt đầu xuất hiện sự phân công lao  
động, dẫn tới sự ra đời của nhiều ngành thủ  
công như mộc, chạm bạc, tiện, nhuộm, vẽ,  
dệt…. Bước đầu thủ công nghiệp đã tách ra  
khỏi nông nghiệp. Ở mỗi vùng đã xuất hiện  
các nghề thủ công truyền thống, mặc dù  
chưa đạt tới trình độ chuyên môn hoá cao.  
Từ thành quả của kinh tế nông nghiệp và  
thủ công nghiệp, việc trao đổi hàng hoá ở  
vùng Đồng Nai – Gia Định cũng sớm được  
mở rộng. Ngành lưu thông buôn bán quan  
trọng nhất lúc bấy giờ là buôn gạo từ Gia  
Định ra Thuận Quảng và mua hàng hoá từ  
Thuận Quảng vào Gia Định.  
Ngoài các thương cảng và thị tứ, một  
mạng lưới các chợ đã sớm hình thành ở  
Nam Bộ, từ những nơi thị tứ cho đến các  
52  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 6 (19) – 2014  
vùng nông thôn, nhất là ở những giao điểm  
Với việc thóc gạo trở thành mặt hàng  
kinh doanh lớn, giới thương buôn chuyên  
kinh doanh thóc gạo cũng được hình thành  
nhanh chóng và ngày càng gia tăng về số  
lượng. Những người này thường đi bằng các  
thuyền lớn từ miền Trung vào, sau đó neo  
đậu tại các cửa biển hoặc tại các thương  
cảng, phố chợ lớn; từ đó dùng các thuyền nhỏ  
hơn luồn lách khắp nơi sâu trong nội địa để  
thu mua thóc gạo. Theo tác giả Lê Văn Năm  
thì thuyền buôn ở Nam Bộ chở thóc gạo ra  
bán ở Phú Xuân năm 1768, có 341 chiếc;  
năm 1774, có hơn 1.000 chiếc(8). Nếu tính  
bình quân mỗi chiếc thuyền có thể chở được  
20 – 30 tấn thì số gạo ấy phải lên đến hàng  
ngàn tấn. Đây chính là thành quả của quá  
trình khai hoang tích cực của người dân Nam  
Bộ ở thế kỷ XVIII.  
các trục lộ đường thuỷ, đường bộ, ở các  
bến đò, các lỵ, sở hành chính… Trong đó  
có nhiều chợ hình thành từ rất sớm và khá  
trù mật như: chợ Đồng Nai, chợ Bến Cá,  
chợ Đồng Sử, chợ Lò, chợ Thủ Đức, chợ  
Bà Rịa... thuộc trấn Biên Hoà; chợ Phố  
Thành, chợ Sỏi, chợ Điều Khiển, chợ Sài  
Gòn, chợ Bến Nghé… thuộc trấn Phiên An;  
chợ Mỹ Tho, chợ Sông Tranh, chợ Cái  
Bè… thuộc Trấn Định Tường.  
Thóc gạo ở Nam Bộ trở thành nguồn  
cung cấp chủ yếu của vùng Thuận Hóa và  
cả miền Trung. Pierre Poivre trong nhật ký  
ngày 27/2/1749 viết: “Hiện nay, Đồng Nai  
(chỉ chung vùng đồng bằng sông Cửu  
Long) là một vựa lúa của xứ Đàng Trong.  
Vùng này đã cung cấp cho toàn xứ một  
khối lượng lớn về thóc”. Hay “vùng đồng  
bằng sông Cửu Long, ngay từ rất sớm, đã  
là vựa lúa lớn, sản xuất thóc gạo dư thừa,  
so với nhu cầu lương thực của nhân dân tại  
chỗ, còn được đem bán đi các nơi khác ở  
trong nước, chủ yếu là các phủ phía ngoài  
của xứ Đàng Trong, nhất là xứ Thuận  
Hóa… Thóc gạo từ Nam chuyển ra miền  
Trung là nhiều, nhưng không tính được số  
lượng cụ thể”(6). Trong nghiên cứu của  
mình LiTana cho rằng, thóc gạo ở Nam Bộ  
không chỉ là nông sản đơn thuần mà đã trở  
thành hàng hóa, được bán đi khắp nơi sớm  
nhất là từ đầu thế kỷ XVIII. Lê Quý Đôn  
trong Phủ biên tạp lục cũng cho biết: “Miền  
Gia Định có rất nhiều thóc lúa... Hàng năm,  
cứ đến tháng 11 và tháng chạp, người ta  
thường xay, giã thóc lúa thành gạo đem đi  
bán lấy tiền tiêu dùng vào những lễ tiết chạp.  
Những lúc bình thường, người ta chuyên chở  
gạo thóc ra bán tại thành Phú Xuân để đổi  
chác hay mua sắm những hàng vóc nhiễu,  
trừu đoạn của người Tàu”(7).  
Ngoài số thóc gạo hàng hóa, chính quyền  
chúa Nguyễn còn có một khối lượng thóc gạo  
nhất định được trữ trong các kho của nhà  
nước. Đó là số thóc thuế do dân đóng. Lúc  
bấy giờ là thóc thuế của hai trường Tam Lạch  
và Bả Canh ở Tiền Giang nộp vào kho Định  
Viễn. Hàng năm, một phần thóc thuế các kho  
địa phương được chở về miền Trung trữ ở  
các kho, như thóc thuế của kho Định Viễn  
được chuyên chở về kho Thọ Khang thuộc  
phường Thọ Khang, huyện Phú Vang (Phú  
Xuân), thuộc quyền quản lý của Nội Các.  
Chính nhờ vậy, xứ Đàng Trong mới có đủ  
lương thực cung ứng cho nhân dân, mặc dù  
vùng Thuận Hóa và Quảng Nam có sự gia  
tăng dân số liên tục và đặc biệt là từ đầu thế  
kỷ XVIII, khỏi phải mua thóc gạo của Xiêm  
và Cao Miên(9).  
Không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu  
dùng trong nước, thóc gạo của Nam Bộ còn  
được xuất khẩu ra nước ngoài, đặc biệt là thị  
trường Trung Quốc. Sách Phủ biên tạp lục  
ghi: “các khách buôn người Tàu thường tới  
53  
Journal of Thu Dau Mot University, No 6 (19) – 2014  
kinh tế, tài chính khá hùng hậu của mình đã  
những nơi ấy mua bán đã quen thuộc, ai  
cũng tấm tắc khen ngợi”(10). Về số lượng  
gạo được xuất khẩu theo con đường này,  
theo Trần Ngọc Định dẫn lại từ P. Vital  
trong Les premières années de la  
Cochinchine, vào những năm 70 của thế kỷ  
XIX, hàng năm, có khoảng 12.000 tấn thóc  
gạo đã được bán ra nước ngoài bởi các  
thương buôn Trung Quốc.  
thuê mướn nhân công, tổ chức khai hoang  
với quy mô lớn, từ đó trở thành những địa  
chủ chiếm hữu nhiều ruộng đất. Từ đây bộc  
lộ những mặt hạn chế là sự hình thành và  
ngày càng mở rộng của bộ phận ruộng đất  
thuộc sở hữu lớn của địa chủ dựa vào thế  
lực kinh tế và đôi khi cả thế lực chính trị,  
thông qua các phương thức cầm cố, cưỡng  
đoạt, thôn tính dần những đất đai thuộc sở  
hữu nhỏ nông dân, đẩy nông dân nghèo vào  
tình cảnh mất đất, không còn phương tiện  
sinh sống. Điều này cho thấy rằng ngay  
trong giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII, sự mở  
rộng công cuộc khẩn hoang và gia tăng sản  
xuất nông nghiệp trong quá trình khai phá  
vùng đất Nam Bộ, đồng thời cũng bộc lộ  
những mâu thuẫn xã hội. Mặc dù vậy, một  
thực tế không thể phủ nhận là những thành  
tựu đạt được về mặt khẩn hoang và phát  
triển kinh tế trong giai đoạn này có sự đóng  
góp rất lớn của địa chủ ở Nam Bộ. Và  
chính những thành tựu này là nền tảng cho  
công cuộc khai phá vùng đồng bằng Nam  
Bộ trong những thế kỷ tiếp theo.  
Sau thóc gạo, cau là mặt hàng nông sản  
đứng hàng thứ hai được tiêu thụ rất mạnh  
trên thị trường trong nước và nước ngoài  
“Nam Bộ nhất thóc nhì cau”. Thời bấy giờ  
cau được trồng ở nhiều vùng, nhưng nổi  
tiếng nhất phải kể đến cau ở Kiến Đăng và  
Kiến Hưng thuộc trấn Định Tường và nhất  
là cau ở Mỹ Lồng thuộc trấn Vĩnh Thanh,  
tại đây “có vườn cau đứng rậm như rừng  
quả lớn, lại sai trái”(11)  
.
Ngoài ra các loại thủy sản cũng là mặt  
hàng được bán rất chạy trên thị trường.  
Theo Lê Quý Đôn, nguồn lợi cá tôm ở  
vùng cửa Tiểu là rất lớn và nhiều đến nỗi  
người ta ăn không hết, làm khô, bán cho  
các bạn hàng. Ở vùng Đồng Tháp Mười, cá,  
tôm ở sông rạch, ao, đồng ruộng nhiều  
không kể xiết. Từ đó, giới thương lái  
chuyên buôn bán cá, tôm được hình thành.  
Họ đóng những chiếc ghe lớn để chở được  
nhiều cá và đưa đi khắp nơi để tiêu thụ, thu  
về được nguồn lợi lớn.  
3. Làm chỗ dựa vững chắc cho  
các chúa Nguyễn củng cố quyền  
lực trên vùng đất mới  
Nhờ những chính sách ủng hộ, hậu thuẫn  
của các đời chúa Nguyễn trước đó với phong  
trào di dân khẩn hoang Nam Bộ, đa số các  
địa chủ lớn của miền Nam đều có cảm tình  
và giúp đỡ Nguyễn Ánh rất nhiều trên đường  
trốn chạy sự truy đuổi của nhà Tây Sơn.  
Nhiều địa chủ Nam Bộ sau này đã trở thành  
cai, chưởng, nắm giữ nhiều vị trí quan trọng  
trong hàng ngũ đạo quân phục thù của  
Nguyễn Ánh. Cụ thể là các trường hợp:  
Chính sự mở rộng công cuộc khẩn  
hoang và sản xuất nông nghiệp, thương mại  
trong các thế kỷ XVII, XVIII đã làm thay  
đổi bộ mặt xã hội của đồng bằng Nam Bộ.  
Trong những biến đổi về mặt xã hội, còn có  
một hiện tượng nổi bật là sự phát triển công  
cuộc khẩn hoang đồng thời cũng là quá  
trình diễn ra sự phân hoá về mặt xã hội  
ngày càng sâu sắc. Chính địa chủ Nam Bộ  
trong quá trình khẩn hoang, với tiềm lực  
– Nguyễn Văn Trương từ huyện Lễ  
Dương (nay là huyện Thăng Bình), tỉnh  
Quảng Nam, di cư vào đất Gia Định. Năm  
54  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 6 (19) – 2014  
1787, chúa Nguyễn từ Xiêm về nước,  
xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp). Ông là con  
ông Nguyễn Quang (tước Minh Đức hầu)  
và bà Thị Áo. Năm 1774, được thăng Cai  
đội. Năm 1778, ông được thăng Cai cơ.  
Năm 1795, ông làm Lưu thủ Trấn Biên  
(Biên Hòa). Năm 1797, ông về giữ Gia  
Định, lãnh việc vận lương kiêm việc ở bộ  
Hộ. Năm 1802, phong ông làm Chưởng  
Chấn võ quân, tước Nhơn Quận công; giữ  
chức Lưu trấn Gia Định trấn đến năm 1805.  
Nguyễn Văn Trương đem 300 quân, 15 chiến  
thuyền binh chạy vào Long Xuyên (Cà Mau)  
giúp chúa Nguyễn, được phong chức Chưởng  
cơ. Sau, nhờ lập thêm nhiều chiến công, được  
phong làm Khâm sai chưởng đạo tiền phong,  
Trung quân thủy dinh.  
– Trương Tấn Bửu sinh ở làng Hưng  
Lễ, tổng Bảo Phước, tỉnh Vĩnh Long (nay  
thuộc xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng  
Trôm, tỉnh Bến Tre), là con của ông  
Trương Tấn Khương và bà Trần Thị Nghĩa.  
Năm 1787, chúa Nguyễn Ánh chạy trốn  
quân Tây Sơn, có ghé nhà cha ông tạm trú  
một đêm, ông xin theo phò tá, được làm  
Cai cơ, thuộc đạo quân của Tôn Thất Hội.  
Năm 1790, thăng chức Hậu quân Hậu chi  
Chánh chưởng chi, rồi đổi qua Chưởng  
quản Tiền quân. Năm 1797, lập được nhiều  
chiến công ở Bình Định, Hội An, ông được  
thăng chức Tiền quân Phó tướng. Năm  
1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, phong  
ông làm Chưởng dinh, quản lĩnh đạo quân  
Bắc Thành.  
– Võ Tánh sinh tại huyện Phước An,  
sau dời về huyện Bình Dương, Gia Định.  
Từ năm 1783 – 1788, ông cùng anh nổi dậy  
Nghĩa quân Kiến Hòa rồi kéo quân chiếm  
giữ cả vùng Gò Công. Năm 1788, nhận lời  
mời của chúa Nguyễn Phúc Ánh, ông đến  
Nước Xoáy (Sa Đéc) hội binh, được phong  
là Tiên phong dinh Khâm sai chưởng cơ, và  
được chúa gả cho em gái là Ngọc Du. Năm  
1790, Võ Tánh tiến đánh thành Diên  
Khánh. Năm 1793, Võ Tánh được thăng  
chức Khâm Sai Quán Suất Hậu Quân Dinh  
Bình Tây Tham Thắng Tướng Quân Hộ  
Giá. Năm 1797, ông theo Nguyễn Phúc  
Ánh ra đánh Quảng Nam. Năm 1799, ông  
lại theo chúa Nguyễn tiến đánh Quy Nhơn.  
– Nguyễn Huỳnh Đức (nguyên là  
Huỳnh Tường Đức), sinh trưởng tại giồng  
Cái Én, làng Trường Khánh, châu Định  
Viễn, dinh Long Hồ (nay thuộc ấp Dinh, xã  
Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long  
An). Vốn xuất thân trong một gia đình quan  
võ đều theo phò chúa Nguyễn và đều được  
phong chức Cai đội, tham gia trấn áp cuộc  
nổi loạn Sá Tốt. Sau đó, gia đình ông ở lại  
khai khẩn và lập nghiệp tại vùng Vũng Gù.  
Năm 1782, ông được phong chức Tiền quân.  
Vì có công cứu chúa, ông được ban "quốc  
tính", mang tên là Nguyễn Huỳnh Đức.  
– Lê Văn Duyệt ở Gò Công, sinh năm  
1764 tại vàm Trà Lọt, làng Hòa Khánh,  
châu Định Viễn, dinh Long Hồ (nay thuộc  
Giang). Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê  
Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức  
(Quảng Ngãi) vào đây sinh sống. Sau khi  
Lê Văn Hiếu qua đời, cha ông là Lê Văn  
Toại rời vùng Trà Lọt đến ở tại vùng Rạch  
Gầm, làng Long Hưng (nay thuộc huyện  
Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), trở thành  
địa chủ giàu có. Năm 17 tuổi Lê Văn Duyệt  
đã cứu Nguyễn Ánh thoát chết khi bị đắm  
– Nguyễn Văn Nhơn sinh năm 1753,  
tại làng Tân Đông, huyện Vĩnh An, tỉnh An  
Giang (nay thuộc xã Tân Khánh Đông, thị  
55  
Journal of Thu Dau Mot University, No 6 (19) – 2014  
thuyền trên sông, sau đó gia nhập hàng ngũ  
cận tướng của Nguyễn Ánh, lập nhiều công  
to. Sau khi tiêu diệt được nhà Tây Sơn, Lê  
Văn Duyệt đã được Nguyễn Ánh phong  
làm Tổng trấn Gia Định Thành, thực chất là  
một phó vương có toàn quyền sinh sát trên  
toàn vùng đất Nam Bộ kéo dài từ Bình  
Thuận đến Cà Mau.  
“ơn đền oán trả”, “ăn trái nhớ kẻ trồng  
cây”. Có thời gian, Nguyễn Ánh ẩn náu tại  
làng Long Hưng (tức Nước Xoáy, Sa Đéc,  
Đồng Tháp), được một địa chủ tên Nguyễn  
Văn Hậu nuôi cơm. Nguyễn Ánh thường ra  
ngồi câu cá ở bến sông và suy nghĩ tìm  
đường chống Tây Sơn. Do đó, nơi này có  
sự tích Cây da bến Ngự và năm 1787,  
Nguyễn Ánh cho xây dựng một đồn binh  
nơi đây. Ông cũng nhận địa chủ Nguyễn  
Văn Hậu làm cha đỡ đầu, đến năm 1807  
cho xây Lăng Ông Bõ (cha đỡ đầu của vua)  
tại đây.  
Với những chính sách thời chiến tạm  
thời, cộng với năng lực, thái độ kém cỏi  
của Nguyễn Lữ, người đại diện của nhà  
Tây Sơn cai quản khu vực phía Nam, địa  
chủ Nam Bộ đã nhìn thấy những bất lợi đe  
dọa quyền lợi tư hữu ruộng đất của họ. Vì  
vậy, trong hầu hết các giai đoạn tranh chấp,  
địa chủ Nam Bộ đều ủng hộ Nguyễn Ánh.  
Nguyễn Ánh triệt để khai thác tình cảm  
của nhân dân Nam Bộ để vừa vận động,  
vừa o ép nhân dân góp của, góp sức xây  
dựng lực lượng. Cho nên ta thấy có lúc lực  
lượng Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đánh gần  
như tan rã hoàn toàn, nhưng chỉ một thời  
gian ngắn sau đó lại hồi phục nhanh chóng.  
Đồng thời cũng phải thừa nhận rằng,  
Nguyễn Ánh đã khôn khéo đưa ra hàng loạt  
chủ trương bồi dưỡng, khoan dung sức dân,  
để lôi kéo dân chúng về phía mình.  
Tận dụng sự ủng hộ này, Nguyễn Ánh  
ngay từ giai đoạn đầu phục quốc đã có nhiều  
biện pháp tranh thủ lòng dân, nhằm tăng  
cường tài lực, vật lực và cả nhân lực để xây  
dựng quân đội lớn mạnh cự địch với nhà Tây  
Sơn. Trong thời gian cuộc nội chiến còn diễn  
ra trên đất Gia Định, Nguyễn Ánh đã cho  
thực hiện nhiều biện pháp kinh tế, xã hội và  
hành chánh, mặc dù những hoạt động này  
nhằm mục tiêu củng cố sức người sức của để  
phục vụ chiến tranh chống Tây Sơn, nhưng  
đã gián tiếp làm cho tình hình kinh tế xã hội  
Gia Định không tồi tệ như ở Trung và Bắc  
Hà. Đó là điều mà Tây Sơn chưa hề làm  
được ở Gia Định. Và cũng chính những biện  
pháp này đã lôi kéo được tầng lớp địa chủ và  
một bộ phận lớn nông dân ngả về phía  
Nguyễn Ánh.  
Năm 1778, Nguyễn Ánh cho đắp lũy  
đất ở phía tây sông Bến Nghé, đóng hơn 50  
chiến thuyền hiệu “Long Lân” để bảo vệ  
Sài Gòn. Năn 1779, Nguyễn Ánh tổ chức  
lại việc cai trị đất Gia Ðịnh, chia làm 3  
dinh: Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn  
(Gia Ðịnh và Ðịnh Tường) và Long Hồ  
(Vĩnh Long và An Giang), chỉnh đốn lại  
thuế điền, tích trữ lương thực để chống lại  
Tây Sơn. Rồi nâng đạo Trường Ðồn (Mỹ  
Tho) thành dinh. Như vậy, đất Gia Ðịnh  
gồm 4 dinh và một trấn là Hà Tiên. Nguyễn  
Ánh đặt các chức quan: Lưu thủ, Cai bạ,  
Ký lục để trông coi việc cai trị. Lúc bấy giờ  
dân cư còn thưa thớt, nên dưới mỗi dinh và  
trấn chỉ có một huyện. Dưới huyện là các  
tổng; dưới tổng là các thôn hoặc xã. Nói  
Xuất thân là con cháu các chúa  
Nguyễn. Do đó, phần lớn nhân dân Gia  
Định dành nhiều tình cảm sâu nặng với các  
chúa Nguyễn, đương nhiên họ có bổn phận  
ủng hộ, giúp đỡ Nguyễn Ánh khôi phục cơ  
đồ mà các chúa Nguyễn đã dày công gây  
dựng trăm năm qua, theo suy nghĩ đơn giản  
56  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 6 (19) – 2014  
một cách cụ thể hơn, trong thời gian này  
là Dương Ngạn Địch, sau đó thả quân sang  
tận Cao Miên cướp bóc, đồng thời xây hào  
đắp lũy chiêu binh mãi mã tính kế cát cứ.  
Nhân cơ hội, Phó vương Nặc Thu của Chân  
Lạp cũng dấy loạn, quấy nhiễu. Thống binh  
Nguyễn Hữu Hào được chúa Nguyễn phái  
vào dẹp loạn, lập mưu giết được Hoàng Tiến,  
đuổi cả hai phó vương Nặc Thu lẫn Nặc Nộn  
về bên kia biên giới. Hành quân xa, đạo quân  
của Nguyễn Hữu Hào đã được các địa chủ  
vùng Tiền Giang giúp đỡ, cung cấp lương  
thực để đánh dẹp Hoàng Tiến, thiết lập lại  
trật tự vùng Mỹ Tho, sau đó đánh đuổi sự lấn  
chiếm của các thế lực phong kiến Chân Lạp  
âm mưu gây hấn. Xong việc binh, theo lệnh  
Chúa, Nguyễn Hữu Hào đã để quân binh ở  
lại lập thành đồn trại khẩn hoang, khai thác  
vùng Vũng Gù.  
tiếp tục hoàn thiện một bước nữa công cuộc  
khai hoang của các chúa Nguyễn bị bỏ dở,  
có tác động tâm lý sâu sắc đối với nhân dân  
Gia Định trong cuộc nội chiến.  
Đến cuối thể kỷ XVIII, đất Gia Định  
sau hơn một trăm năm khai phá, dù diện  
tích được đưa vào sản xuất nông nghiệp  
chưa phải là nhiều, nhưng đất đai màu mỡ,  
nguồn lợi tự nhiên hết sức phong phú đã  
sớm xuất hiện nền kinh tế hàng hóa trên  
vùng đất mới này.  
Những chính sách khuyến nông của  
Nguyễn Ánh đã được sự ủng hộ của đại địa  
chủ Nam Bộ, bằng cách tích cực đóng góp  
thóc gạo và nhân lực cho quân đội của chúa  
Nguyễn. Nhờ vậy, sau một thời gian dài, từ  
đất Gia Định, quân và thế của Nguyễn Ánh  
đã lớn mạnh hẳn lên, trong khi quân Tây  
Sơn, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Lữ thì  
suy yếu dần.  
Năm 1698, Chân Lạp lại có biến, âm  
mưu nổi loạn và gây hấn. Nhóm người Hoa  
Nông Nại có ý nhân cơ hội để cát cứ. Chúa  
Nguyễn Phúc Chu lại sai Lễ Thành hầu  
Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý Đồng Nai.  
Địa chủ người Việt đã hợp tác chặt chẽ và  
tích cực với Nguyễn Hữu Cảnh trong việc  
thống kê lại diện tích đất đai, dân số để làm  
cơ sở thiết lập phủ Gia Định, sắp xếp lại cơ  
cấu hành chính toàn vùng, khép cả người  
Việt lẫn người Hoa vào sự quản lý của chúa  
Nguyễn, dẹp tan mầm cát cứ. Nhóm Trần  
Thắng Tài (Trần Thượng Xuyên) ở Trấn  
Biên được lập thành xã Thanh Hà, thuộc  
huyện Phước Long, nhóm của Dương Ngạn  
Địch trước đây ở Mỹ Tho được lập thành  
xã Minh Hương, thuộc huyện Tân Bình.  
Thế lực của Nguyễn Ánh ở đây trước  
hết là thế mạnh từ tổ chức xã hội Gia Định,  
nó được hình thành trên cơ sở sự giàu mạnh  
của địa chủ mới nặng ân tình với họ  
Nguyễn và thương nhân người Hoa. Cấu  
trúc xã hội Gia Định vào cuối thế kỷ XVIII  
như đã trình bày ở trên, không giống như ở  
Bắc Hà hay vùng Thuận Quảng. Nó không  
còn xã hội thuần nông tự cung tự cấp, mà  
đã phát triển với nền kinh tế hàng hóa –  
tiền tệ, dù không tái sản xuất.  
4. Cùng với chính quyền các  
chúa từng bước xác lập và bảo vệ  
chủ quyền trên vùng đất mới  
Trong tiến trình khẩn hoang, mở cõi ở  
Nam Bộ, các chúa Nguyễn đã liên tục bị  
gây hấn, lấn chiếm từ bên ngoài và khởi  
loạn từ bên trong. Năm 1688, Hoàng Tiến ở  
vùng Vũng Gù, Mỹ Tho nổi loạn, giết chủ  
Một năm sau, vua Nặc Thu lại đưa  
quân sang quấy phá vùng An Giang, giết  
người Việt. Nguyễn Hữu Cảnh lại được  
chúa Nguyễn sai đưa quân xuống dẹp.  
Những địa chủ cầm đầu các toán khai  
hoang lại là nguồn cung cấp nhân lực cho  
57  
Journal of Thu Dau Mot University, No 6 (19) – 2014  
Nguyễn Hữu Cảnh khai hào, đào và khơi  
thông các kênh rạch sau này là kênh ông  
Chưởng, sông Vàm Nao, sông Mân Thít để  
lấy đường cho thuyền lớn của đại quân  
vượt sông Tiền qua sông Hậu tiến lên vùng  
Châu Đốc để đón đánh Nặc Thu. Họ cũng  
góp công cùng binh lính của triều đình khai  
phá cù lao Vàm Nao, cày cấy lấy lương  
thực nuôi quân. Đến năm 1700, quân binh  
đã lớn mạnh, thuyền chiến sẵn sàng. Thấy  
khả năng không địch lại, ngay khi chiến  
thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh vừa lên  
đường, Nặc Thu đã vội thu quân chạy mất.  
Tinh binh của Nguyễn Hữu Cảnh dong  
thuyền lên vây tận kinh thành Chân Lạp.  
Cháu Nặc Thu là Nặc Yêm mở thành xin  
hàng. Chỉ sau ít ngày, đích thân Nặc Thu  
cũng quay lại xin chịu hàng. Bất chiến tự  
nhiên thành, Nguyễn Hữu Cảnh trả lại kinh  
thành cho Nặc Thu với lời răn phải chăm lo  
định quốc an dân, không được xâm lấn,  
cướp bóc.  
biết vào năm 1739: ''Nặc Bôn lấn Hà  
Tiên... Thiên Tứ đem hết quân bản bộ ra  
đánh đuổi tới Sài Mạt, ngày đêm đánh  
hăng, lương thực không tiếp kịp. Vợ là  
Nguyễn Thị đốc suất vợ lính vận lương đến  
nuôi quân, quân không bị thiếu ăn, hăng  
hái cố đánh phá được quân Bồn. Tin thắng  
trận báo lên, Chúa cả khen ngợi, đặc biệt  
cho Thiên Tứ chức Đô đốc tướng quân, ban  
cho áo bào đỏ và mũ đai, phong Nguyễn  
Thị làm Phu nhân. Do đó Chân Lạp không  
dám nhòm ngó Hà Tiên nữa”(11)  
.
Tháng 3 năm 1775, nhờ có sự chỉ dẫn,  
đưa đường, phân tích luồng lạch sông ngòi  
của một bộ phận địa chủ và những người  
khẩn hoang vùng quanh sông Mân Thít,  
vùng Rạch Gầm – Xoài Mút (Mỹ Tho, Tiền  
Giang), chỉ với khoảng 2 vạn quân, Nguyễn  
Huệ đã bài binh bố trận, lợi dụng địa hình  
địa thế và con nước đánh tan 3 vạn quân  
thủy cùng 300 chiến thuyền của quân Xiêm  
do Nguyễn Ánh rước về, buộc 2 vạn quân  
bộ của Xiêm La cùng 40.000 quân Việt của  
Nguyễn Ánh phải tháo chạy về Xiêm.  
Một công lao khác của địa chủ Nam  
Bộ, đó là việc Mạc Cửu, lãnh chúa Hà Tiên  
xin dâng đất, thần phục chúa Nguyễn vào  
năm 1708, nhận chức Tổng binh do chúa  
Nguyễn ban cho. Việc này đã chính thức  
mở rộng và thừa nhận vương quyền của  
chúa Nguyễn lên vùng đất xa xôi nhất của  
Nam Bộ, nơi thật ra chưa có dấu chân của  
các đoàn di dân người Việt.  
Tuy nhiều địa chủ và nông dân Nam  
Bộ ủng hộ Nguyễn Ánh, nhưng họ không  
hoàn toàn ủng hộ việc cầu viện, nhất là việc  
đưa lực lượng Xiêm sang chống Tây Sơn.  
Chứng tỏ các bộ phận địa chủ Nam bộ luôn  
có tinh thần dân tộc, biết tạm gác khuynh  
hướng tình cảm riêng sang một bên, đặt  
quyền lợi Tổ quốc trên tình cảm cá nhân;  
họ đã phò giúp Nguyễn Huệ cả về lương  
thực, nhân lực lẫn trí tuệ để đánh đuổi quân  
xâm lược.  
Sau khi Mạc Cửu mất, Chúa Nguyễn  
tiếp tục phong cho con của Mạc Cửu là  
Mạc Thiên Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên.  
Sau khi được phong chức, Mạc Thiên Tứ  
không những ra sức xây dựng và phát triển  
Hà Tiên trở thành một trung tâm kinh tế  
phồn thịnh, mà ông còn nêu cao ý thức bảo  
vệ chủ quyền với tư cách là người được  
giao trách nhiệm bảo vệ vùng biên giới cực  
Nam đất nước. Sách Đại Nam thực lục cho  
*
Trong các thế kỷ XVII – XVIII địa chủ  
Nam Bộ đã có nhiều đóng góp trong quá  
trình khai phá, mở mang bờ cõi, bảo vệ chủ  
quyền lãnh thổ ở vùng đất Nam Bộ và là  
58  
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 6 (19) – 2014  
ruộng đất, dẫn đến mâu thuẫn xã hội gay  
chỗ dựa vững chắc của chúa Nguyễn.  
gắt giữa địa chủ và tiểu nông tự canh cũng  
như với tá điền cày thuê. Các yếu tố cộng  
sinh, cộng tác – được xem như thành quả  
tiến bộ trong quan hệ sản xuất ở thế kỷ  
XVII – XVIII phai nhạt dần. Thay vào đó  
là quan hệ giữa địa chủ và tá điền hoặc với  
người nông dân tự canh bị kéo quay trở lại  
với hình thức “phát canh thu tô” truyền  
thống. Địa chủ Nam Bộ cũng quay lại đúng  
vai trò và bản chất của kẻ cai trị và bóc lột  
khiến tình trạng phân hóa giai cấp ở đây  
diễn ra ngày càng nghiêm trọng, kéo dài  
cho đến suốt thời kỳ thống trị của các vua  
triều Nguyễn sau này.  
Trải qua hai thế kỷ với những nỗ lực,  
cùng với chính sách khẩn hoang tích cực  
của chúa Nguyễn, địa chủ và các thành  
phần cư dân khác đã mang đến cho vùng  
đất Nam Bộ một bộ mặt hoàn toàn mới.  
Có thể nói, trong giai đoạn đầu của tiến  
trình khai phá Nam Bộ, các yếu tố thuận lợi  
hay rủi ro trong quá trình sản xuất đều được  
chia đều, dẫn đến quan hệ giữa địa chủ và  
tá điền cũng ít mâu thuẫn, mang màu sắc  
cộng sinh và hợp tác nhiều hơn. Tuy nhiên,  
sang đến thế kỷ XIX, quan hệ cộng sinh giảm  
dần, quá trình tập trung ruộng đất diễn ra  
mạnh mẽ gây nên hệ quả phân cực sở hữu  
*
ROLE OF THE LANDLORD CLASS IN THE PROCESS OF EXPLORATION AND  
PROTECTION OF THE SOUTHERN REGION IN THE XVII – XVIII CENTURIES  
Nguyen Thi Anh Nguyet  
University of Social Sciences and Humanities (VNU–HCM)  
ABSTRACT  
The process of reclaiming the South in two centuries (XVII – XVIII) had positive  
contribution of the landlord class. With a consistent policy of the Nguyen Dynasty, the  
landlord class in the South region to actively explore and develop economy in new lands,  
prop up the Nguyen Lords to consolidate power, and together with the government to  
gradually establish and protect the sovereignty over new lands. Landlords had played an  
important role in the whole process of reclamation and expanding the borders, creating the  
social culture, administrative institutions, politics in the South region.  
CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO  
(1) Trịnh Hoài Đức, Gia định thành thông chí, Tập Trung, Bản dịch của Tu Trai, Nguyễn Tạo, Phủ  
Quốc khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1972 tr. 17.  
(2) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, 1977, tr. 179 – 180.  
(3) Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục  
tỉnh, Hội Sử học Việt Nam, 1992, tr. 9.  
(4) Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục  
tỉnh, Hội Sử học Việt Nam, 1992, tr. 72 – 75.  
(5) Lê Văn Năm, “Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – XIX”, Tạp chí  
Nghiên cứu Lịch sử, số 3 – 4, 1988, tr. 54.  
(6) Lâm Quang Huyên, 300 năm kinh tế Sài Gòn – TPHCM, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr  
151, 1998.  
59  
Journal of Thu Dau Mot University, No 6 (19) – 2014  
(7) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, 1977, tr. 362.  
(8) Lê Văn Năm, “Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – XIX”, Tạp chí  
Nghiên cứu Lịch sử, số 3 + 4, 1988, tr. 61.  
(9) Trần Hoàng Diệu, Hoàng Anh Tuấn (chủ biên), Địa chí Tiền Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy  
Tiền Giang và Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam xuất bản, tr.  
379, 2005.  
(10)Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB. Khoa học Xã hội, 1997, tr.258.  
(11)Lê Văn Năm “Sản xuất hàng hoá và thương nghiệp ở Nam bộ thế kỷ XVII – nửa đầu thế kỷ  
XIX”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3+ 4, 1988, tr. 54.  
(12)Viện Sử học, Đại Nam thực lục, tập 1, NXB Giáo dục, 2007, tr. 1756.  
60  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 20320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá, bảo vệ vùng đất Nam bộ thế kỷ xvii – xviii", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_tang_lop_dia_chu_trong_cong_cuoc_khai_pha_bao_ve.pdf