Thờ cúng việc lề trong gia đình, dòng họ người Việt ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi

142  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
NGUYỄN DUY ĐOÀI*  
THỜ CÚNG VIỆC LỀ TRONG GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ  
NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN, QUẢNG NGÃI  
Tóm tắt: Thờ cúng việc lề (thờ cúng tổ tiên) là niềm tin tôn giáo  
đặc thù của người Việt ở huyện đảo Lý Sơn. Hiện nay, tất cả các  
dòng họ lớn ở huyện đảo Lý Sơn như: Phạm Khắc, Phạm Văn,  
Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Đặng, Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ,  
Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê, v.v., đều duy trì nghi thức cúng  
lề. Bởi nghi thức cúng này không chỉ thể hiện sự tri ân đối với tổ  
tiên, những vị tiền bối có công mà còn biểu hiện tính cố kết thân  
tộc, dòng họ với nhau. Ngoài ra, nghi thức cúng việc lề cũng  
cầu mong sự phù hộ độ trì của tổ tiên cho toàn gia tộc được an  
khang, thịnh vượng tránh những điều dữ trong cuộc sống.  
Thông qua phương pháp điền dã, bài viết trình bày một số nét  
cơ bản về nghi thức cúng tế của loại hình thờ cúng này dưới góc  
nhìn văn hóa và lịch sử.  
Từ khóa: Thờ cúng, việc lề, tổ tiên, người Việt, Lý Sơn, Quảng Ngãi  
.
1. Dẫn nhập  
Hiện nay, việc nghiên cứu về văn hóa đời sống cộng đồng của cư  
dân vùng ven biển, vùng biển đảo nói chung và cư dân huyện đảo Lý  
Sơn nói riêng đang được nhiều ngành khoa học quan tâm. Tháng  
10/2014, Ban Kinh tế Trung ương và Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã tổ chức  
hội thảo quốc gia về Định hướng phát triển và cơ chế, chính sách  
đặc thù cho huyện đảo Lý Sơn. Hội thảo đưa ra những vấn đề kinh tế,  
xã hội của huyện đảo Lý Sơn, tuy nhiên chưa thấy đề cập đến những  
giá trị đời sống văn hóa tinh thần của gia đình sẽ ảnh hưởng ra sao  
trong quá trình phát triển kinh tế. Vì vậy, chúng tôi muốn tìm hiểu  
Thờ cúng việc lề của người Việt ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi  
nhằm mục đích chỉ ra những giá trị thể hiện trong nghi thức này, bên  
* ThS., Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ  
Chí Minh.  
Nguyễn Duy Đoài. Thờ cúng việc lề trong gia đình...  
143  
cạnh đó còn giúp hiểu hơn về lịch sử hình thành tộc người Việt ở  
vùng biển đảo này. Ngoài ra, nội dung bài viết cũng nêu lên những  
tương đồng và khác biệt của việc lề so với hình thức thờ cúng việc lề  
vùng Nam Bộ.  
2. Một số quan niệm và niềm tin liên quan  
Về lý thuyết, chúng tôi vận dụng chức năng luận (Functionalism)  
của Bronislaw Malinowski. Trường phái này nhấn mạnh chức năng  
tâm sinh lý của nghi lễ, bởi mọi tập tục đều có sự tương quan với tất  
cả những tập tục khác để thỏa mãn những nhu cầu sinh học của cá  
nhân thông qua phương tiện văn hóa.  
Đối với người Việt ở huyện đảo Lý Sơn thì thờ cúng việc lề là  
nhằm thể hiện hành vi của mình thông qua nghi thức cúng hàng năm.  
Sự lặp đi lặp lại ấy trở thành tục lệ vì nó được hình thành trong quá  
trình khai mương, lập ấp của những vị tiền hiền1, hậu hiền ở huyện  
đảo Lý Sơn của người Việt và được duy trì đến ngày nay. Vì thế,  
trong tâm thức của mỗi người dân ở đây luôn hướng về cội nguồn tổ  
tiên của mình. Điều này được biểu hiện qua nghi thức thờ cúng việc  
lề. Đây là văn hóa tâm linh chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và đạo  
hiếu của cư dân này. Những dòng họ lớn đều có từ đường, là nơi tế tự  
chung của cả dòng tộc. Vào dịp cúng tế việc lề, con cháu, bà con đến  
từ đường để lo việc chung của dòng họ, còn việc phụng thờ thì do  
người con trai trưởng tộc đảm nhiệm.  
Qua những đợt điền dã vào tháng 3/2013 và tháng 3/2015, chúng  
tôi được biết các tộc họ ở Lý Sơn cúng việc lề vào những ngày khác  
nhau trong tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch. Chẳng hạn, họ Phạm Văn ở  
An Vĩnh cúng việc lề chính vào ngày 20/2, ngày 17/2 thì tổ chức lễ  
nhập yết; họ Võ Văn cúng ngày 12/2; họ Đinh ở An Hải cúng ngày  
20/2; họ Lê ở An Hải cúng ngày 19/2; họ Trương Đình cúng ngày  
21/2. Nghi thức cúng việc lề cũng bao hàm quan niệm của Tam giáo,  
như tin vào sự thương xót những vong linh của Phật giáo, tin vào sự  
tôn ti của Khổng giáo và sử dụng bùa phép để cúng kiếng của Đạo  
giáo thông qua nghi thức và văn cúng.  
Quan niệm của Khổng giáo: Khổng Tử đã viết: Kính kỳ sở tôn, ái  
kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã.  
144  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
Tạm dịch: Kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những  
người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết như khi đang còn sống,  
lúc mất rồi cũng như lúc còn sống, ấy là hiếu đến rất mực vậy2.  
Thờ cúng việc lề của người Việt vốn xuất phát từ việc lấy chữ  
“hiếu” làm đầu, thể hiện lòng hiếu đễ của con cháu với cha mẹ, ông  
bà, các bậc tiền nhân và cũng nhằm ý thức về cội nguồn. Điều đó, thể  
hiện sự tôn ti trong gia đình, gia tộc thông qua “hiếu, kính, nhân” theo  
quan niệm Khổng giáo.  
Quan niệm của Phật giáo: Trong thờ cúng việc lề ở huyện đảo Lý  
Sơn thì quan niệm của Phật giáo cũng có một vai trò rất quan trọng  
như việc bố thí cho chúng sinh, những âm linh, cô hồn thông qua  
nhiều hình thức như: tài thí, pháp thí, vô úy thí3 hay cúng Tam Bảo,  
làm việc thiện nhằm hồi hướng công đức đến “cửu huyền thất tổ”, từ  
vô lượng kiếp để hướng về nơi chánh đẳng, chánh giác, cảnh Cực lạc  
Tây phương. Nhà nghiên cứu Nguyễn Lang đã viết như sau:“trai đàn  
chẩn tế gọi là diệm khẩu phổ thí pháp hội để bố thí thức ăn cho loài  
quỷ đói, cho nên trong lễ thí thực thì mỗi con ngạ quỷ đều có thức ăn  
để ăn. Lễ kỳ siêu bạt hộ này rất thịnh hành ở Trung Hoa vào đời  
Đường, cũng phổ biến vào đời nhà Trần ở Việt Nam”4. Theo Phật  
giáo, thập loại cô hồn gồm mười loại của tứ sanh và lục đạo5. Thờ  
cúng việc lề là sự thể hiện cái tâm của người cúng bằng đạo hiếu, đạo  
hạnh của mình với tiền nhân, thể hiện lòng “tri ân báo ân” của con  
cháu với ông bà. Đó cũng là tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của  
người Việt.  
Quan niệm của Đạo giáo: Trong nghi thức cúng việc lề thì cúng  
cầu siêu cho những vong hồn uổng tử, chết bất đắc kỳ tử không ai thờ  
tự cũng được những gia tộc tổ chức tế lễ một cách trang nghiêm, bởi  
người Việt ở huyện đảo Lý Sơn cho rằng: những âm hồn thường gây  
ra những tai ương, dịch bệnh cho gia đình, dòng họ. Chẳng hạn, ngày  
20/2 năm Ất Mùi (2015), lễ chánh tế cúng việc lề tại từ đường họ  
Phạm Văn - xã An Vĩnh đã làm lễ tống ôn. Tùy theo mỗi dòng họ hay  
điều kiện kinh tế mà việc tổ chức do pháp sư chủ trì hay họ tộc đứng  
ra hành lễ. Nội dung bài cúng có câu: “Tống Vương6 hành khiến ngũ  
đạo hành binh chi thần. Lâm Tào phán quan bông lông quỷ vương chi  
thần. Hành ôn Thái thượng Nguyên Soái Trà tướng quân. Quan Âm  
Nguyễn Duy Đoài. Thờ cúng việc lề trong gia đình...  
145  
hành binh đại vương hùng sơn. Thành Hoàng đại vương, Đương Kiển  
thổ đại chánh thần” với mục đích là tổ sư hành khiến sẽ tống đi, giải  
trừ tà ma, dịch bệnh, những tai ương trong năm mà họ đã gặp.  
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cho rằng: “đối với Đạo giáo:  
âm hồn gồm mọi tầng lớp của xã hội, từ vua đến dân, từ con người  
đến côn trùng thú vật”7. Người dân quan niệm âm hồn cũng có quyền  
năng chi phối trong cuộc sống, cho nên người ta phải cúng kiếng một  
cách chu đáo để cầu mong được sự phù hộ, che chở, đồng thời cũng  
tránh những tác hại của âm hồn8. Như vậy, nghi thức cúng việc lề  
cũng là một hệ thống của hành vi nhằm biểu hiện lòng tôn kính của  
dòng họ với tổ tiên cũng như những vong linh, âm hồn, đồng thời thể  
hiện những nguyện vọng, ước mong chính đáng của con người trước  
cuộc sống đầy rẫy những khó khăn, bất trắc.  
Theo chúng tôi, thờ cúng việc lề là một phong tục truyền thống tốt  
đẹp, đã ảnh hưởng tích cực đến mỗi cá nhân, dòng họ nhằm thể hiện  
cách ứng xử về chuẩn mực luân lý, đạo đức, lối sống, nếp sống của  
người Việt ở huyện đảo Lý Sơn. Điều này không chỉ thể hiện đạo hiếu  
của người Việt ở huyện đảo Lý Sơn mà còn phù hợp với tư tưởng Nho  
gia, bởi thờ cúng việc lề cũng góp phần bảo đảm tôn ti trật tự trong gia  
đình, dòng họ cho tới quốc gia9. Ở huyện đảo Lý Sơn, những dòng họ  
có những vị tiền hiền, những người có công khai hoang lập ấp từ những  
năm đầu thế kỷ XVII ở đảo này thì sẽ được cộng đồng thành lập nơi thờ  
riêng, được gọi là nhà thờ tiền hiền, hay những “chiến sĩ trận vong” của  
Hoàng Sa, Trường Sa ngày xưa đã được cộng đồng tưởng nhớ bằng Lễ  
Khao lề thế lính Hoàng Sa. Qua đó, cũng nhằm thể hiện tinh thần đoàn  
kết, đùm bọc của mỗi thành viên trong dòng họ, cộng đồng.  
3. Cách bài trí và nghi lễ thờ cúng việc lề  
Theo chúng tôi, do điều kiện môi trường sống của cộng đồng người  
Việt ở huyện đảo Lý Sơn nên những sắc thái cúng việc lề cũng ảnh  
hưởng ít nhiều dấu ấn văn hóa biển từ góc nhìn địa - văn hóa, bởi việc  
thờ cúng này đã trở thành một phần không thế thiếu trong đời sống  
tâm linh của người Việt nơi đây.  
Về cách bài trí thì qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt  
ở mỗi dòng họ, như:  
146  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
Cách bài trí ở Từ đường họ Nguyễn (xã An Hải)  
Tiên Công  
Đông Trù  
Tây Trạch  
Cửa ra vào: - - -  
- - - - - -  
Bàn cúng ngoài sân  
- - - - - - - - -  
Cách bài trí ở Từ đường họ Bùi (xã An Hải)  
Khám Tẩm  
Điện  
Tiên Công  
Quang Tiền  
Dụ Hậu  
Hữu Ban  
Tả Ban  
Cửa ra vào: - - -  
- - - - - -  
- - - - - -  
- - -  
Bàn cúng ngoài sân  
Về vật phẩm cúng:  
Thông thường trong lễ nhập yết vật phẩm gồm có: cháo, bánh khô,  
gạo, muối, trầu cau, gà, thịt, bình hoa, trà, rượu, vàng mã, còn lễ chính  
tế thì nhiều dòng họ thường làm lễ kỉnh sinh một con heo, thịt gà, cá,  
trầu, rượu… Ngày xưa, lễ vật cúng việc lề của các dòng họ thường có  
một thức cúng riêng, như: họ Phạm thì có đãi gỏi cá nhám; họ Dương  
thì có ba con gà luộc; họ Phan thì có cá nướng nguyên con; họ Võ thì  
cúng tam sinh như cá nướng, cua luộc, gà, v.v.. Đây là những thức cúng  
bắt buộc phải có trong lễ cúng việc lề10. Việc bày vật phẩm cúng như  
vậy cũng mang một quy ước trong nghi lễ phù hợp với từng tộc họ. Đó  
là một “ký hiệu văn hóa” được thể hiện qua phẩm vật như là một sản  
phẩm của văn hóa, một biểu tượng của văn hóa chứa đựng những thông  
điệp của các thế hệ trong quá khứ, để sau này con cháu nhận ra người  
thân, họ hàng của mình. Bởi ký ức văn hóa được lưu giữ trong “vô thức  
Nguyễn Duy Đoài. Thờ cúng việc lề trong gia đình...  
147  
tập thể”, được cấu thành tâm thức văn hóa, tâm thức của dân tộc nhằm  
biểu đạt một sự tổng hòa của hữu thức và vô thức, của tư duy và tình  
cảm, niềm tin và trí tưởng tượng, những hình thức trí tuệ của cộng đồng  
và những khuôn mẫu văn hóa11. Một số nhà nghiên cứu ở Nam Bộ cũng  
cho rằng: “thức cúng khác nhau được coi như là một quy ước và tín  
hiệu để con cháu trong họ nhận biết nhau trên bước đường lưu lạc trên  
những vùng đất khác nhau”12. Đồng thời, cũng nhắc nhở con cháu về  
cuộc sống khó nhọc của tổ tiên. Nhưng ngày nay, những phẩm vật cúng  
theo phong tục truyền thống của mỗi dòng họ đã mờ nhạt, thay vào đó  
là những thức cúng được chế biến ngon, bổ dưỡng được dâng cúng  
nhằm biểu hiện tình cảm của con cháu với tiền nhân.  
Về thành phần tham dự  
Ông tộc trưởng làm chủ tế và các họ tộc trong chi phái trong dòng  
tộc tham dự. Vị trí đứng bái của các thành viên trong ban tế lễ được quy  
định rõ ràng. Trưởng tộc là người chủ tế đứng ở bàn thờ giữa và còn có  
hai người là bồi tế, người đứng chính ở bàn thờ phía Đông là trưởng tử  
của chi phái thứ nhất, người đứng chính ở bàn thờ phía Tây là trưởng tử  
của chi phái thứ hai, người đứng chính ở bàn cúng ngoài sân là chi phái  
thứ ba. Từ vị trí đứng bái tổ tiên rất dễ nhận ra thứ bậc trong dòng họ.  
Ngoài ra, còn có người phụ trách xướng nghi thức trong lúc tế, ban chấp  
sự và ban nhạc lễ. Những người tham dự trong nghi thức này cảm thấy  
được an nhiên, phước lành như tiếp thu một nguồn năng lượng mới để  
thể hiện những ước nguyện nhằm giãi bày tâm niệm của mình như  
mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình an khang thịnh  
vượng.  
Về nghi thức cúng tế  
Cúng việc lề được thực hiện theo 3 bước là sơ hiến lễ, á hiến lễ và  
chung hiến lễ13 cũng giống như nghi thức cúng ở các Lân, Miếu, Đình  
nhằm đạt tới một mục đích là giải tỏa những nỗi bất an của con người  
ở cuộc sống trần tục, để đưa họ đến gần hơn với thế lực siêu nhiên mà  
họ tin tưởng. Bởi nghi lễ có chức năng giúp tăng cường sức mạnh của  
cộng đồng, như William A. Haviland đã viết: “Nghi lễ được thực hiện  
trong thời kỳ khủng hoảng hay biến cố lớn nào đó của cộng đồng cư  
dân, mục đích để giúp cho mọi thành viên trong cộng đồng đó gắn bó  
với nhau hơn”14.  
148  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
Theo nhận thức của chúng tôi, dù cách bài trí, vật phẩm hay  
thành phần tham dự có khác giữa các dòng họ nhưng có cùng chung  
một điểm đó là nghi thức cúng và mẫu văn bài tế. Trước hết “cúng  
việc lề” theo phong tục thờ cúng tổ tiên thì nhà thờ tộc không chỉ là  
nơi thờ cúng thủy tổ mà còn thờ cúng chung cho cả dòng họ có  
người đã mất qua bốn đời gọi là ngày hiệp kỵ15. Trong những đợt  
điền dã, qua quan sát và phỏng vấn sâu về nghi thức cúng việc lề của  
các tộc họ Phạm Văn, Lê, Trương, Mai, Nguyễn, chúng tôi nhận thấy  
trong lễ nhập yết để tế cáo trình tổ tiên, đồng thời cung thỉnh tổ tiên  
về dự, các tộc họ đều thể hiện trong bài văn cúng. Chẳng hạn, ở từ  
đường họ Phạm thì nội dung văn cúng như sau: “Thái thỉ tổ khảo  
Phạm phủ quận chi chơn linh. Thái thỉ tổ tỷ Nhụ Nhơn chi chơn linh.  
Cao cao cao Cao Bình Quận Phạm thỷ tổ khảo chi chơn linh…. Cao  
cao cao Cao tổ Cô Hoàng đế Cao Bình Quận Phạm Tiện Điều phụ  
nhơn chi chơn linh”16, hay ở từ đường họ Lê: “Thượng thỉnh thủy tổ  
đệ nhứt lang Kinh Triệu Quận Lê Công Triệu tiên công chi tựu vị.  
Phụng thỉnh thượng cao tổ Kinh Triệu Quận Lê Văn Dương chi tựu  
vị. Phụng thỉnh thượng cao tổ Kinh Triệu Quận Lê Văn Thạch chi  
tựu vị. Phụng thỉnh thượng cao tổ Kinh Triệu Quận Lê Văn Bài chi  
tựu vị. Phụng thỉnh thượng cao tổ Kinh Triệu Quận Lê Văn Thiệu  
chi tựu vị…”17. Trong văn tế cúng việc lề của họ Phạm Văn còn có  
nội dung: “Nhĩ huyết linh cảm ứng chi tất thông cầu chi tất ứng, tư  
nhơn thích phùng, xuân tiết thường niên, tộc nội trạch đắt kiết nhựt  
thiết lễ cầu an. Trên gia đình con cháu Phạm tộc tùng sơ niệm chí  
trung niên thân cường tráng kiện, mạng vị bình an, tai nạn ách nạn  
tận tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, phúc lạc niên trường. Ngưỡng lại  
tôn linh âm phò mặc trợ, phục vọng dám lâm, trên trình cáo yết nhứt  
niên”18, hay họ Đinh cũng có nội dung: “Đồng lai chứng dáng chi  
nghi bảo hộ sự hoàn phụng nghinh tiên linh bảo hộ toàn tộc nam nữ  
đại tiểu đẳng gia môn khương thới, bá vật hàm hanh nông ngư đảnh  
thạnh, gia xuất quần hành kê trư mãng quỹ thông tán thanh phát, đậu  
mạch tặng vinh nông thương bội lợi. Ngưỡng lại tiên linh bảo hộ  
toàn tộc chi gia phước giả”19. Thông qua nội dung các bài văn tế của  
các tộc họ trên, có thể thấy rằng ngoài sự cầu mong độ trì cho gia  
đình được ấm no hạnh phúc, nông ngư hưng thịnh thì trong văn tế  
cũng thể hiện tinh thần hiếu hòa, nhân nghĩa của Khổng giáo.  
Nguyễn Duy Đoài. Thờ cúng việc lề trong gia đình...  
149  
Như vậy, cúng việc lề người Việt ở huyện đảo Lý Sơn đã thể hiện  
niềm tin qua nghi thức và văn tế rất sâu đậm trong tâm thức của mỗi  
dòng họ. Khi kết thúc nghi lễ thì trưởng tộc sẽ ghi tên tuổi những người  
chết đã mãn tang vào phổ ý của tộc họ, còn những người chết mà chưa  
mãn tang thì chưa được ghi, cho nên nghi thức, cách bày cúng cho người  
chết chưa mãn tang được thiết trí riêng trên một bàn cúng nhỏ.  
Về thời gian tổ chức lễ chính tế thường vào rạng sáng hoặc trưa tùy  
tộc họ. Sau khi tế lễ xong, tộc họ mời các thành viên trong họ hàng,  
pháp sư dự tiệc đãi. Đặc biệt là để tỏ lòng biết ơn với thầy pháp sư thì  
tộc họ sẽ trình một mâm trầu, cau, dĩa thịt sườn và một ít tiền, nhưng  
nếu pháp sư đó là người trong họ tộc họ thì không nhận tiền vì đây  
cũng là công việc chung của dòng họ.  
Về ý nghĩa của nghi lễ cúng việc lề  
Phần lễ thể hiện sự kính cẩn trang nghiêm thông qua việc sắp xếp  
lễ vật, cũng như thể hiện sự thành kính trong nghi thức khấn vái, đọc  
văn tế. Những hình thức trên là cách hướng nội tâm, niềm tin, ước  
nguyện của dòng tộc, của mỗi người đến thế giới tâm linh nhằm cầu  
xin những điều tốt lành. Có thể nói, đó chính là “vô thức của tập thể”20  
bởi lẽ việc duy trì một tập tục trong cộng đồng người Việt ở huyện  
đảo Lý Sơn giống như một thứ “gen” văn hóa tinh thần, một thứ di  
truyền văn hóa, đã gắn kết trong chiều sâu tâm thức của họ nhằm tác  
dụng tích cực giáo dục  
sâu sắc, như một tác  
nhân có tính cố kết cộng  
đồng cũng như gia tộc, tổ  
tiên. Karl Gustave Jung  
cho rằng: “cái vô thức”  
không có tính chất tự  
nhiên mà có tính chất  
văn hóa và nó ra đời vào  
buổi bình minh của lịch  
sử nhân loại trong kinh  
nghiệm tâm lý tập thể,  
nên gọi là “cái vô thức  
Pháp sư Đinh Tự Tín nhận lễ tạ của họ  
Phạm, xã An Hải  
(Ảnh Duy Đoài, tháng 3/2015)  
150  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
tập thể” còn những dạng cấu trúc sơ khai thì ông gọi là “cổ mẫu” của  
cái vô thức tập thể. Vì vậy, khi người Việt sinh sống ở vùng đất mới  
nhưng họ vẫn nhớ về cố hương, cội nguồn, muốn tìm kiếm lai lịch  
đích thực của mình mà không cần dựa trên những tiêu chuẩn của xã  
hội và giai cấp mà nó dựa vào huyết thống và di truyền sinh học, đúng  
hơn là di truyền văn hóa. Điều này đã được chúng tôi tìm hiểu thông  
qua các dòng họ ở Lý Sơn như họ Phạm Văn hay họ Dương, họ Lê.  
Đặc biệt, cúng việc lề còn thực hiện những quan niệm khác, như nhiều  
năm liền tộc họ gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống thì sẽ tổ chức lễ yết  
và sau đó tổ chức nhiều đêm liền cho lễ cầu an, chứ bình thường chỉ tổ  
chức lễ chính. Khi chúng tôi tham dự cúng việc lề tại họ Phạm Văn ở  
An Vĩnh vào năm 2015 thì bắt đầu lễ nhập yết vào ngày 17/2 âm lịch  
kéo dài đến ngày 20/2 âm lịch. Họ Phạm Văn cho rằng lễ nhập yết kéo  
dài nhằm tạo sự thuận lợi cho con cháu ở xa về, hay đi đánh bắt xa bờ  
để có thời gian về tham dự, nhân ngày cúng việc lề cũng thể hiện lòng  
tri ân tổ tiên, cũng như dịp để anh em, bà con gần nhau hơn trong tinh  
thần đoàn kết, tương trợ nhau trong cuộc sống. Đây là việc làm mang  
tính giáo dục trong gia đình và kỷ cương, nền nếp gia phong nên  
truyền thống được bảo tồn, lễ nghi trật tự được tôn trọng. Từ niềm tin  
và ý thức của gia đình, gia tộc, cội nguồn của mình trong đời sống tâm  
linh nên có vai trò góp phần trong cố kết cộng đồng, là sức mạnh cho  
cộng đồng. Nhờ yếu tố ý thức về cội nguồn để củng cố nâng cao giá  
trị đạo lý trong xã hội, để khi tiếp xúc với nền văn hóa khác không  
làm mất đi giá trị văn hóa của chính gia tộc hay dân tộc mình.  
Bên cạnh đó, việc thờ cúng việc lề còn thể hiện đạo hiếu. Điều này  
được cộng đồng người Việt ở huyện đảo Lý Sơn coi như một tiêu  
chuẩn quan trọng về đạo đức truyền thống của gia tộc. Họ quan niệm  
rằng: “dương sao âm vậy”, con người có linh hồn “thác là thể phách,  
còn là tinh anh” (Truyện Kiều), dù hình hài tổ tiên đã không còn  
nhưng linh hồn vẫn luôn hiển hiện với con cháu, đồng thời con cháu  
phải ý thức việc ăn ở phải đạo, gìn giữ gia phong, củng cố gia tộc, tổ  
tiên của mình, không được làm những việc sai phạm. Điều này được  
thể hiện trong những câu đối treo ở từ đường của các dòng họ Phạm  
Văn hay họ Lê như:  
“Thượng hòa hạ mục, nhân nhân khắc thiệu thể tôn vinh  
Nguyễn Duy Đoài. Thờ cúng việc lề trong gia đình...  
151  
Đức mỹ công cao thế thế tương thừa minh hiếu nghĩa”  
Tạm dịch:  
Trên thuận dưới hòa, người người ghi khắc để tôn vinh  
Đức rộng ơn cao, đời đời soi sáng lòng hiếu nghĩa.  
Dù ở đâu thì cúng việc lề là một truyền thống đã thành thói, thành  
lệ nhằm tưởng nhớ tổ tiên, những bậc tiền nhân trong quá trình khai  
hoang, lập ấp của người Việt, cũng như vật phẩm cúng dù đạm bạc,  
đơn sơ đều là “ký hiệu riêng”21 như ký ức văn hóa được chuyển giao  
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì vậy, thờ cúng việc lề mang giá trị  
và ý nghĩa nhằm hướng đến đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nên về  
mặt tâm thức dù ở vùng miền nào cũng đều không khác biệt, không  
thay đổi.  
Ngoài các điểm tương đồng trên còn có những điểm khác biệt,  
chẳng hạn như ở Nam Bộ, thờ cúng việc lề là sự tái hiện lại cuộc sống  
nhọc nhằn, cơ cực của ông bà, tổ tiên thời xưa đi khai hoang, mở cõi ở  
vùng đất này, thể hiện qua cách bày thức cúng chỉ dọn trên bàn hoặc  
chiếu trải dưới đất ngoài sân, bát bằng gáo dừa, đũa làm bằng thân  
cọng cây lác, thức cúng đều là những món ăn mộc mạc, đơn sơ phản  
ánh hoàn cảnh sống thiếu thốn như cá lóc nướng trui22. Việc tổ chức  
cúng cũng có sự luân phiên nhau trong các chi của dòng họ nhưng ở  
vùng Trung Bộ (trường hợp huyện đảo Lý Sơn) thì cúng việc lề chỉ tổ  
chức ở từ đường của dòng họ, kinh phí do các chi của tộc họ đóng góp  
với nhau dù ít hay nhiều. Theo chúng tôi biết, hiện nay các từ đường  
của tộc họ được xây dựng mới như họ Bùi, họ Đặng, họ Nguyễn với  
kinh phí gần một tỷ rưỡi cũng do các chi và con cháu sinh sống trong  
cả nước đóng góp.  
Cúng việc lề là việc của dòng họ dù ở Nam Bộ hay Trung Bộ cũng  
đều thể hiện sự gắn kết từ gia đình đến dòng họ, nhưng ở huyện đảo  
Lý Sơn cúng việc lề lại có sự tiếp nối yếu tố tâm linh của dòng họ ra  
cộng đồng được thể hiện trong nghi thức Tế lính Hoàng Sa, như một  
dòng mạch tâm thức của người Việt thông qua nghi thức cúng tế  
những người binh phu, người lính Hoàng Sa ngày xưa. Nó cũng đã  
được thể hiện trong bài văn tế cúng việc lề của họ Phạm là “chiến sĩ  
trận vong” nhằm tưởng nhớ đến những anh linh vì nước quên thân.  
152  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
Một nét văn hóa tâm linh từ vô thức trong niềm tin của một tập thể gia  
đình, dòng họ đã chuyển sang vô thức của niềm tin trong cộng đồng,  
mà hiện nay Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa được tái hiện lại. Đây là  
những biểu hiện chịu sự tác động mạnh mẽ bởi những tương tác giữa  
các yếu tố nội sinh bền vững với những tác động từ bên ngoài nhằm  
củng cố làm phong phú hơn hệ giá trị cốt lõi của một nền văn hóa,  
thậm chí dẫn đến những chuyển biến về chất trên phương tiện hệ giá  
trị23. Những giá trị văn hóa đặc trưng của cúng việc lề là nhằm giáo  
dục thế hệ con cháu về truyền thống gia tộc cũng như lòng tự hào với  
những thế hệ cha ông thuở trước mà sống tốt hơn. Vì vậy, thờ cúng  
việc lề không chỉ thể hiện lòng tri ân với ông bà tổ tiên của dòng họ mà  
còn tưởng nhớ đến những người lính đã hy sinh, những chiến sĩ trận vong  
vì chủ quyền của Tổ quốc.  
4. Kết luận  
Như vậy, dưới góc nhìn văn hóa và lịch sử, thờ cúng việc lề ở  
huyện đảo Lý Sơn là một phong tục mang nhiều giá trị nhằm thể hiện  
sự thích nghi với điều kiện sống của người Việt, khởi phát từ yếu tố  
niềm tin tôn giáo của gia đình đã mở rộng thành của cộng đồng. Điều  
này đã tạo nên những đặc trưng văn hóa riêng ở huyện đảo Lý Sơn.  
Điểm nổi bật mà chúng tôi nhận thấy: đó không chỉ là việc thể hiện  
tinh thần đạo hiếu, tri ân, báo ân với những tiền nhân trong dòng họ  
mà còn thể hiện tính cố kết cộng đồng trong gia đình, dòng tộc./.  
CHÚ THÍCH:  
1 Cư dân Việt đến khai khẩn làng mạc trên đảo Lý Sơn vào khoảng cuối  
thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Họ là những cư dân huyện Bình Sơn, Sơn  
Tịnh, Quảng Ngãi. Ở Lý Sơn có thờ 15 vị tiền hiền của 15 dòng họ khác  
nhau, được xem là những người đầu tiên đến khai phá vùng đất. Đó là các  
tộc họ: Phạm Khắc, Phạm Văn, Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Đặng,  
Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê.  
2 Lý Minh Tuấn (dịch và bình giải) (2011), Tứ Thư Bình Giải: Luận Ngữ -  
Mạnh Tử - Đại Học -Trung Dung, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội: 23.  
3 Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học (2004), Từ  
điển Phật học Hán Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội: 176.  
4 Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, Hà  
Nội: 386.  
Nguyễn Duy Đoài. Thờ cúng việc lề trong gia đình...  
153  
5 Tứ sinh/sanh có bốn loại: Thai sinh như loài người ở trong thai mẹ thành  
thể rồi sau mới sinh ra; Noãn sinh như chim ở trong trứng thành thể rồi  
mới sinh ra; Thấp sinh như côn trùng dựa vào chổ ẩm thấp mà thụ hình;  
Hóa sinh là không nương tựa vào đâu, chỉ dựa vào nghiệp lực mà bỗng  
khởi lên, như Chư thiên, Địa ngục và chúng sinh thuở kiếp sơ. Lục đạo  
gồm: Địa ngục, Ngã quỷ, Súc sanh, Atula, Nhân gian, Thiên thượng. Sáu  
đường này chính là sáu đường luân hồi của chúng sinh. (Giáo hội Phật  
giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học (2004), Từ điển Phật học  
Hán Việt, sđd: 682, 1451.  
6 Đây là một trong mười hai vị cô hồn, cứ mỗi năm có vị hành khiến khác  
nhau. Chẳng hạn, từ năm Tý đến năm Hợi thì mỗi năm có một vị hành  
khiến, như: Châu vương, Triệu vương, Ngụy vương, Trịnh vương, Sở  
vương, Ngô vương, Tần vương, Tống vương, Tề vương, Lỗ vương, Việt  
vương và Lưu vương. Trong bài văn cúng mà chúng tôi thu thập được  
vào năm 2015 thì có vị hành khiến là Tống vương. Nhưng 12 vị hành  
khiến đó vào ngày mùng 3 tết đều được người dân cúng, bởi 12 vị ấy là  
12 vị thuộc sao Thái Tuế, tượng trưng cho chu kỳ 12 năm, 12 cung từ Tý  
đến Hợi, mỗi vị cai quản một năm, có nhiệm vụ thay Ngọc Hoàng trông  
coi mọi việc trên thế gian.  
7 Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường (1999), Đình Nam Bộ - xưa và  
nay, Nxb. Đồng Nai: 138.  
8 Nguyễn Duy Đoài (2015), “Nghi thức Tế lễ Âm hồn ở huyện đảo Lý Sơn  
- Quảng Ngãi”, Phát triển Khoa học - Công nghệ, tập 18, số 2.  
giao/329-tntg03.html  
10 Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (2008), Văn hóa biển Miền Trung và  
Văn hóa biển Tây Nam Bộ, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội: 246.  
11 Nguyễn Tri Nguyên (2010), “Văn hóa học - Những phương diện liên  
ngành và ứng dụng”, Trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh: 128.  
12 Phan Kim Thoa (2009), “Cúng việc lề - Một sinh hoạt văn hóa từ thời  
khẩn hoang của lưu dân người Việt (Qua cách thức cúng của họ Phan ở  
huyện Châu Thành, Long An)”, Khoa học xã hội, số 07 (131).  
13 Lễ thức “sơ hiến, á hiến, chung hiến” là nghi thức dâng rượu chỉ có trong  
cúng đình, giỗ tộc họ hoặc các lễ lớn. “Sơ hiến lễ” là nghi thức dâng rượu  
lần thứ nhất, “á hiến lễ” nghi thức dâng rượu lần thứ hai, “chung hiến lễ”  
nghi thức dâng rượu lần thứ ba.  
14 Khoa nhân học (2008), Nhân học đại cương, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.  
Hồ Chí Minh: 176.  
15 Những tiền nhân đã khuất từ 4 đời được tổ chức cúng chung như một  
ngày giỗ “cửu huyền thất tổ”.  
16 Trích văn tế cúng việc lề tại từ đường họ Phạm xã An Vĩnh, tháng  
3/2015. Nguồn: Duy Đoài, tư liệu điền dã.  
154  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016  
17 Trích từ văn tế cúng việc lề tại từ đường họ Lê xã An Hải, tháng 3/2015.  
Nguồn: Duy Đoài, tư liệu điền dã.  
18 Trích từ văn tế cúng việc lề tại từ đường họ Phạm xã An Vĩnh, tháng  
3/2015. Nguồn: Duy Đoài, tư liệu điền dã.  
19 Trích từ văn tế cúng việc lề tại từ đường họ Đinh xã An Hải, tháng  
3/2015. Nguồn: Duy Đoài, tư liệu điền dã.  
20 A. Radughin (cb) (2004), Văn hóa học - Những bài giảng, Viện Văn hóa  
Thông tin, Hà Nội: 78.  
21 Nguyễn Tri Nguyên (2010), Văn hóa học - Những phương diện liên  
ngành và ứng dụng, Trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh: 147.  
22 Phan Thị Yến Tuyết (1999), “Tín ngưỡng cúng việc lề - Một tâm thức về  
cội nguồn của cư dân Việt khẩn hoang tại Nam Bộ”, Dân tộc học, số 1: 64.  
23 Nguyễn Văn Hiệu (tuyển chọn) (2014), Văn hóa học & phương pháp  
nghiên cứu trong văn hóa học (Tài liệu tham khảo): 41.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Radughin (cb) (2004), Văn hóa học - Những bài giảng, Viện Văn hóa  
Thông tin, Hà Nội.  
2. Nguyễn Duy Đoài (2015), “Nghi thức Tế lễ Âm hồn ở huyện đảo Lý Sơn  
- Quảng Ngãi”, Phát triển KH&CN, tập 18, số 2.  
3. Phan Đình Độ (2008), “Tín ngưỡng cúng việc lề của cư dân ở đảo Lý  
Sơn” trong Hội Văn học dân gian Việt Nam, Văn hóa biển Miền Trung và  
Văn hóa biển Tây Nam bộ, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.  
4. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học (2004), Từ  
điển Phật học Hán Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
5. Khoa Nhân học (2008), Nhân học đại cương, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.  
Hồ Chí Minh.  
6. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, Hà  
Nội.  
7. Nguyễn Tri Nguyên (2010), Văn hóa học - Những phương diện liên  
ngành và ứng dụng, Trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh.  
8. Phan Kim Thoa (2009), “Cúng việc lề - Một sinh hoạt văn hóa từ thời  
khẩn hoang của lưu dân người Việt (Qua cách thức cúng của họ Phan ở  
huyện Châu Thành, Long An)”, Khoa học xã hội, số 07(131).  
9. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường (1999), Đình Nam Bộ - Xưa và  
nay, Nxb. Đồng Nai.  
10.Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc (2013), Đặc khảo về tín ngưỡng  
thờ gia thần, Nxb. Văn hóa văn nghệ.  
11.Phan Thị Yến Tuyết (1999), “Tín ngưỡng cúng việc lề - Một tâm thức về  
cội nguồn của cư dân Việt khẩn hoang tại Nam Bộ”, Dân tộc học, số 1.  
Nguyễn Duy Đoài. Thờ cúng việc lề trong gia đình...  
155  
12.Phan Thị Yến Tuyết (2014), Đời sống xã hội - kinh tế văn hóa của ngư  
dân và cư dân vùng biển Nam Bộ, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí  
Minh.  
Abstract  
ANCESTOR WORSHIP OF VIETNAMESE FAMILY  
AND KINSHIP IN LÝ SƠN ISLAND DISTRICT, QUẢNG NGÃI  
Ancestor worship is a characteristic of the Vietnamese religious  
beliefs in the Lý Sơn island district. Currently, the major clans in Lý  
Sơn such as Phạm Khắc, Phạm Văn, Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Đặng,  
Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê,  
etc. which have maintained the rites of ancestor worship. This rite  
does not only express their gratitude to ancestors, predecessors, but it  
is also the cohesion of the kinship and clan. In addition, the ritual  
formality is the blessings of ancestors for the whole clan to be  
wellbeing, prosperity, avoid evil. Based on the fieldwork data, this  
article presents some features of the ritual under the historical and  
cultural perspective.  
Keywords: Worship, ancestor, Vietnamese, Lý Sơn, Quảng Ngãi.  
pdf 14 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 25660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thờ cúng việc lề trong gia đình, dòng họ người Việt ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftho_cung_viec_le_trong_gia_dinh_dong_ho_nguoi_viet_o_huyen_d.pdf