Tái định vị xứ đàng trong trong không gian Đông Á và Đông Nam Á, thế kỷ xvi-xviii

12  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
TÁI ĐỊNH VỊ XỨ ĐÀNG TRONG TRONG KHÔNG GIAN  
ĐÔNG Á VÀ ĐÔNG NAM Á, THẾ KỶ XVI-XVIII  
Vũ Đức Liêm*  
“Tây phương khôn nẻo tới  
Phía Bắc khó đường qua  
Đường Nam phương thấy đó chẳng xa  
Thì những sợ nhiều quân Đá Vách.”  
Nguyễn Cư Trinh (1750)  
Dẫn nhập: Vấn đề cấu trúc không gian của lịch sử Việt Nam  
Tiếp cận không gian lịch sử Việt Nam thường gắn liền với các mối quan tâm  
nội cấu trúc (internal structure), đặc biệt là tương tác giữa các vùng miền. Keith  
Taylor (1998) gợi ý về các xung đột vùng ở Việt Nam và lý giải tại sao chúng  
tạo ra các không gian người Việt khác nhau. Li Tana (1998) phát triển thêm một  
bước từ bản luận án (1992, ANU) và lập luận rằng Đàng Trong phản ánh một cách  
thức khác để trở thành “Việt Nam”. Trường phái học thuật này có xu hướng cho  
rằng bản sắc của Đàng Trong mang nhiều màu sắc “Đông Nam Á” hơn là so với  
Đàng Ngoài “Hán hóa” (K. W. Taylor 1998; Tana 1998b). Victor Lieberman mượn  
cách nói của Pierre Gourou khi cho rằng khu vực duyên hải phía đông của Đông  
Nam Á lục địa là vùng đất có liên hệ lãnh thổ lỏng lẻo nhất trên thế giới [the least  
coherent territory in the world] (Gourou 1936, 8; Lieberman 2003, 338). Trong khi  
đó Alexander Woodside (1988), Nola Cooke (1992; 1997, 269-95) và Choi Byung  
Wook (2004) đề cập đến "dự án chính trị" (political project) của Minh Mệnh nhằm  
tập trung hóa quyền lực, thống nhất lãnh thổ và truyền bá mô hình chính trị Nho  
giáo vào hạ lưu sông Mekong chính là cách thức mà khu vực này trở thành một  
bộ phận lãnh thổ của Việt Nam ở thế kỷ XIX. Rõ ràng là bằng cách này hay cách  
khác, các học giả này tìm cách đưa ra một mẫu hình mới cho sự đa dạng không  
gian của lịch sử Việt Nam, và tìm kiếm con đường Đông Nam Á của việc trở thành  
Việt Nam hiện đại. Diễn ngôn lịch sử này hướng đến việc thách thức cách tiếp cận  
của các học giả dân tộc chủ nghĩa, những người luôn tìm cách hạ thấp sự đa dạng  
và tính độc lập của mô hình lịch sử được phát triển ở Đàng Trong từ thế kỷ XVI.  
*
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
Tác giả xin chân thành cảm ơn GS Huệ Tâm Hồ Tài và nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân về  
những góp ý quan trọng và phê bình sắc sảo cho bài viết. Những khuyết điểm của bài viết  
thuộc về tác giả.  
13  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
Phía bên kia của câu chuyện học thuật về Đàng Trong mô tả lịch sử khu vực  
này trong một viễn cảnh hoàn toàn khác bằng cách đề cập đến ý đồ chính trị của  
chúa Nguyễn và họ Mạc Hà Tiên như là các mô hình chính trị Đông Á được cài  
đặt trên khung cảnh Đông Nam Á (Trần 1956: 77-140; 1960; 1979). Một trong các  
khía cạnh nổi bật được quan tâm bởi khuynh hướng học thuật này là Nho giáo.  
Liam Kelley đã thách thức lập luận của Li Tana rằng để tồn tại ở Đàng Trong thì  
chúa Nguyễn buộc phải tìm kiếm những cách thức thực hành tôn giáo và chính trị  
khác biệt so với Đàng Ngoài (Li 1998b, 101).Thay vào đó, ông lập luận rằng mặc  
dù chúa Nguyễn cai trị trên những vùng đất mới lạ, họ vẫn tiếp tục những truyền  
thống chính trị và ý thức hệ được sử dụng ở Đàng Ngoài, từ việc tôn thờ các tín  
ngưỡng bản địa, bảo trợ Phật giáo, cho đến các cách thức thực hành chính trị Nho  
giáo (Kelley 2006, 346).  
Tuy nhiên trong lúc cả hai khuynh hướng này tranh luận về tính chất Đông  
Nam Á hay tính chất Trung Hoa của xã hội Đàng Trong, không ai dành những  
quan tâm xứng đáng nhằm định vị xứ Đàng Trong trong không gian địa lý xã hội  
và nhân văn (human geography) gồm chứa các mạng lưới thương mại, chính trị,  
và tôn giáo mà từ đó vùng đất này được định hình nên. Bài viết này, thay vì tham  
gia vào diễn ngôn về tính chất Ấn, Đông Nam Á, hay Hoa, sẽ tập trung khảo sát  
cách thức người Đàng Trong tư duy về không gian của mình, và cách thức họ vận  
hành các mạng lưới dọc theo dãy Trường Sơn và vùng duyên hải kéo dài đến tận  
bờ đông vịnh Thái Lan. Nói cách khác, nó phân tích cách thức người Đàng Trong  
tự định vị mình trong không gian khu vực. Theo đó, bài viết này sẽ tái định hướng  
vị trí xứ Đàng Trong như một khu vực kết nối giữa Đông và Đông Nam Á thông  
qua khảo sát sự mở rộng lãnh thổ, kết nối các mạng lưới giao thương, và xác lập  
cấu trúc quyền lực vùng. Nó lập luận rằng Đàng Trong đã phát triển một khuynh  
hướng tiếp cận không gian độc đáo dựa trên các mạng lưới nằm xen lẫn giữa hai  
khu vực mà ngày nay được gọi là Đông và Đông Nam Á, và cung cấp một mẫu  
hình thú vị về tương tác nội Á với tư cách là một môi trường trung gian mà ngày  
nay các sử gia khu vực có nhiều cách khác nhau để gọi tên: thế kỷ của người  
Hoa - “Chinese century” (Wang and Ng 2004), mạng lưới người Hoa - “Chinese  
circulation” (Tagliacozzo and Chang 2011), quá trình văn minh hóa - “civilizing  
process” (Faure and Siu 1995), Những trùng hợp ngẫu nhiên trên lục địa Á-Âu -  
“Eurasian Strange Parallels” (Lieberman 2003; 2009), và đường biên lỗ chỗ ở  
Đông Nam Á - “Southeast Asian porous borders” (Tagliacozzo 2005).  
Tiếp cận của bài viết này coi không gian địa lý Đàng Trong không phải là một  
chỉnh thể đóng, thống nhất và bất biến mà co dãn theo sự chuyển dịch của các làn  
sóng người (human mobility) dọc theo các dòng chảy thương mại, tương tác văn  
hóa, bảo trợ chính trị và xung đột quân sự để định vị vùng đất này trong các tưởng  
14  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
tượng không gian mới (spatial imaginations). Bằng cách đó, chúng ta có thể đưa ra  
những tri thức mới về bản sắc, cấu trúc, và cách thức vận hành của xứ Đàng Trong  
(van Schendel 2002, 647-68; Kratoska, Raben và Nordholt 2005, 3). Thế kỷ XVII-  
XVIII là một thời kỳ năng động để khảo sát những nhân tố này ở Đàng Trong vì  
nó bao gồm một loạt các sự kiện và diễn trình nhộn nhịp trong khu vực, bao gồm  
các dòng chảy di cư, chuyển giao công nghệ, tôn giáo, thương mại, chiến tranh, mở  
rộng lãnh thổ, gia tăng dân số, và thậm chí là cướp biển trên vùng biển từ miền nam  
Trung Hoa đến eo Malacca trong thời kỳ được gọi là kỷ nguyên thương mại ở khu  
vực (Reid 1988; 1993; Antony 2007). Được mô tả như một tiểu Địa Trung Hải, các  
xã hội bao quanh Biển Đông được coi là đã tham gia vào một khung cảnh tương  
tác sôi động trong hàng nghìn năm (Solheim, David và Ambika 2006; Ptak 2008,  
53-72). Vì thế, Đàng Trong với các đường bờ biển dài, vũng, vịnh, đảo, nhiều sông  
ngòi, các mối liên hệ thượng nguồn, hạ lưu và không gian tộc người đa dạng là ví  
dụ cho một xã hội mà cấu trúc và bản sắc được định hình bởi những thăng trầm  
theo dòng chảy của các nhóm người di cư, mở rộng lãnh thổ, xác lập các khu định  
cư, thương mại.  
Phạm vi của không gian xứ Đàng Trong  
sẽ được phân tích thông qua các mạng  
lưới, vai trò của các chủ thể, và dòng chảy  
của các tương tác. Vì thế, cách thức tiếp  
cận này không giới hạn trong các đường  
ranh giới dân tộc hay khu vực hiện nay.  
THANH  
NGHE  
Các đường này đơn thuần là sản phẩm  
của thời hiện đại, phản ánh ý đồ địa chính  
trị và lợi ích của của các thế lực thực dân  
hay cường quốc mà không hề tham khảo  
các không gian hoạt động của các cộng  
đồng bản địa trong lịch sử. Trong không  
gian này, người Đàng Trong có vị thế  
đặc biệt, như một sự pha trộn của nhiều  
khuynh hướng lãnh thổ, di cư, mở rộng  
của quyền lực chính trị, tổ chức xã hội và  
các hoạt động kinh tế trao đổi. Lịch sử về  
sự hưng khởi của nó bắt đầu từ một nhóm  
người Việt từ phía Bắc đã bứt phá trên con  
đường tìm kiếm không gian mới, kết hợp  
với các nhóm bản địa, xây dựng vùng đất  
Hình 1. Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII.  
(Lieberman 2003, 339)  
của mình vươn lên thịnh vượng như một  
15  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
không gian của các tương tác từ miền nam Trung Hoa, Nhật Bản và từ vịnh Thái  
Lan và Đông Nam Á hải đảo. Đàng Trong vì thế cung cấp một mẫu hình thú vị về  
tương tác nội Á (Inter-Asian Connection) thời sơ kỳ hiện đại. Anthony Reid (2015)  
lập luận rằng không gian Đông Nam Á đặc biệt vì nó “không Hoa cũng chẳng Ấn”  
(2015, 26-28). Tuy nhiên, để định nghĩa chính xác nó là gì thì Reid vẫn bỏ ngỏ câu  
trả lời. Bằng cách lần theo các mạng lưới và nhận diện chủ nhân của nó trên vùng  
đất Đàng Trong, cách tiếp cận này có thể là một nỗ lực để trả lời câu hỏi trên bằng  
cách đặt Đàng Trong trong những không gian lịch sử và xã hội mở.  
Ý niệm không gian xứ Đàng Trong  
Về các cảng của họ (Đàng Trong), điều tuyệt vời là trên một dải bờ biển  
dài chừng 100 leagues (560km), có hơn 60 bến đỗ rất tiện lợi, bởi vì có  
nhiều nhánh biển lớn.  
Borri (1621)  
Mùa đông năm 1558, hàng nghìn binh lính và những người trung thành với  
dòng họ Nguyễn giong buồm về phía nam, khu vực ngày nay thuộc miền Trung  
Việt Nam. Thủ lĩnh của họ, Nguyễn Hoàng, một chỉ huy quân sự 33 tuổi là con thứ  
của vị tướng đầy quyền uy Nguyễn Kim, người đã đưa vua Lê quay trở lại ngai  
vàng và tiến hành cuộc chiến tranh với nhà Mạc ở phía Bắc. Không may là ông  
bị đầu độc vào năm 1545, và vị trí của ông rơi vào tay người con rể Trịnh Kiểm.  
Sự thay đổi này nhanh chóng biến những người con của Nguyễn Kim trở thành  
đối tượng thanh trừng của họ Trịnh. Lo lắng cho tương lai của mình, như bản thân  
chính sử nhà Nguyễn chép lại, Nguyễn Hoàng cử người đến tham vấn Nguyễn  
Bỉnh Khiêm và nhận được lời chỉ dạy, “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”  
(Một dải Hoành Sơn, dung thân muôn đời) (ĐNTL I, 19; Taylor 1993, 42-65). Lời  
chỉ dẫn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ mở ra thời đại của các chúa Nguyễn,  
mà còn cả vương triều Nguyễn sau này. Lịch sử Việt Nam hiện đại đã được bắt đầu  
từ một chỉ dẫn địa lý.(1)  
Đối lập với vùng châu thổ rộng lớn, bằng phẳng, không bị chia cắt và cư dân  
đông đúc ở phía bắc, Đàng Trong được tạo dựng trên không gian địa lý đa dạng  
phức tạp và không thống nhất. Phần phía bắc của nó là một dải gần 800km bờ biển  
dài và hẹp chạy dọc dãy Trường Sơn chắn ở phía tây, nơi hẹp nhất như ở Quảng  
Bình chỉ chưa đến 50km, thường xuyên bị cắt xẻ bởi các đèo, núi, cửa sông, vũng,  
vịnh, và đầm phá. Điều này tạo ra môi trường lý tưởng cho các tương tác dọc sông  
và duyên hải. Theo các mạng lưới giao thương trên môi trường nước này mà các  
cư dân ở đây tổ chức hệ thống xã hội và các liên hệ chính trị của mình (Wheeler  
2006, 123-53; Vũ 2016a). Gần một nghìn cây số về phía nam cách nơi Nguyễn  
Hoàng dựng trị sở là một không gian tự nhiên và tộc người khác của vùng châu thổ  
Mekong. Nola Cooke và Li Tana (2004) gọi đây là đường biên nước [Water frontier],  
16  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
tuy nhiên, có lẽ chính xác hơn thì đây là thế giới của nước, một khu vực ngập lụt với  
đầm lầy và rừng rậm (Cooke và Li 2004). Nơi đây từng là không gian của vương  
quốc Phù Nam trước khi nó bị người Khmer chinh phục. Tân Đường thư nói rằng  
vùng đất này sau đó thuộc về Thủy Chân Lạp khi người Khmer bắt đầu phân tán.  
Trong nhiều thế kỷ sau đó, dù có sự cư trú rải rác của những người hạ Khmer (Khmer  
Krom), phần lớn khu vực này hầu như chưa được khai phá. Ghi chép của sứ giả nhà  
Nguyên thế kỷ XIII là Chu Đạt Quan đi qua vùng đất này cho thấy dọc theo hai bên  
bờ sông không có gì khác hơn là rừng rậm bao trùm và các đàn trâu hoang (Trần  
1975, 57). Nhiều khu vực trong số này, sau khi phù sa làm tắc nghẽn các dòng sông  
bao quanh, đã bị người Khmer bỏ hoang trong khoảng gần 1.000 năm, ví như khu  
vực Đồng Tháp Mười. Ngay cả biên niên sử Campuchia cũng cho thấy rằng vào cuối  
thế kỷ XVII, chính quyền Udong không hề kiểm soát vùng hạ lưu Mekong (Sakurai  
2004, 38, 40). Cho đến thế kỷ XIX, khu vực này vẫn là một không gian mở cho các  
cuộc di cư tự do, khai phá đất đai mà nhiều vùng đất nằm ngoài kiểm soát của bất cứ  
vương quốc nào. Người Việt, người Hoa, người Chăm, người Khmer… sẽ theo dòng  
chảy di cư và viễn chinh quân sự để vào vùng đất này. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ  
thấy, sự mở rộng lãnh thổ của Đàng Trong là hệ quả của một diễn trình chính trị và  
lãnh thổ phức tạp mà ở đó sự mở rộng không gian địa lý như một sự phản ánh cho  
các nhu cầu cấp thiết về tài nguyên, di cư, và lãnh thổ.  
Cái gọi là “không gian xứ Đàng Trong” và tư duy lãnh thổ của nó cũng là một  
cấu trúc động, thường xuyên co dãn trong suốt thế kỷ XVII-XVIII. Đàng Trong  
là một thực thể địa lý năng động và có tính mở. Chúng ta thấy điều đó ở sự hình  
dung về không gian của vùng đất này vào các thời điểm khác nhau. Vào năm 1613,  
những lời trăn trối cuối cùng của Nguyễn Hoàng cho con trai mình cũng không gì  
khác hơn là những chỉ dẫn địa lý và quân sự:  
“Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và Sông Gianh  
[Linh Giang] hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi Sơn]  
vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh  
hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ  
nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ  
cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”. (ĐNTL I, 29).  
Đàng Trong của Nguyễn Hoàng là một không gian phòng thủ và đối phó,  
một không gian tự giới hạn và tự vệ theo địa hình để tồn tại. Hơn một thế kỷ sau,  
Nguyễn Phúc Khoát có một hình dung địa lý khác về không gian mà ông ta cầm  
quyền khi tuyên bố rằng mình đã có được một nửa sơn hà và bày tỏ ý đồ giành lấy  
phần còn lại. Bằng việc lên ngôi vương, thay đổi phong tục và sắp đặt lại hệ thống  
hành chính, Đàng Trong của vị chúa này là một không gian để khẳng định, để vươn  
lên quyền lực, và để thịnh vượng (ĐNTL I, 136-137). Diễn ngôn về bản sắc không  
gian này chắc chắn là có liên hệ với tư duy không gian của vị kiến trúc sư trưởng  
17  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
của ông trong ý đồ mở rộng lãnh thổ, Nguyễn Cư Trinh. Và đây là hình dung địa lý  
của nhà chiến lược này vào năm 1750, chỉ 5 năm trước khi ông cầm quân đi ngược  
sông Mekong, hướng đến đường biên Việt Nam-Campuchia ngày nay:  
“Tây phương khôn nẻo tới  
Phía Bắc khó đường qua  
Đường Nam phương thấy đó chẳng xa  
Thì những sợ nhiều quân Đá Vách.”  
(Nguyễn Cư Trinh 1750, 56-57; Hardy và Đông 2013)  
Đây rõ ràng là sự chiêm nghiệm về không gian của Đàng Trong và ý đồ mở  
rộng lãnh thổ mà Nguyễn Cư Trinh được giao phó. Nó phản ánh tầm nhìn của giới  
tinh hoa trên vùng đất này và khuynh hướng dịch chuyển không gian của Đàng  
Trong về phía nam, như lời ông tuyên bố trong cuộc viễn chinh 1756 rằng “Từ xưa  
việc dụng binh chẳng qua là để trừ diệt bọn đầu sỏ và mở mang thêm đất đai” và  
hiến kế “tàm thực” như một phương tiện dần dần mở rộng lãnh thổ vào khu vực  
sông Mekong (ĐNTL I, 147). Tư duy về không gian lãnh thổ này rõ ràng là không  
giống với cách thức chinh phục của các nhóm cư dân Đông Nam Á lục địa khác,  
những người tìm kiếm cư dân hơn là đất đai. Nguyên nhân là đất đai ở đây phong  
phú mà cư dân thì thưa thớt, chính vì vậy mục tiêu của chiến tranh và mở rộng là  
hướng đến bắt dân đưa về vùng đất của mình chứ không phải tìm kiếm thêm đầm  
lầy và rừng rậm (Pawakapan 2014, 1; Scott 2009, 64-72). Rõ ràng đây là cách  
Nguyễn Cư Trinh tư duy về không gian Đàng Trong và cách thức mà chính thể  
này được mở rộng theo không gian, khác hẳn với các nước láng giềng phía nam và  
tây. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các kiến trúc sư chính trị của Đàng Trong  
nhìn thấy sức mạnh của không gian mới dựa vào sự đa dạng tự nhiên, năng động  
của các sắc dân di cư và các nguồn lực tự nhiên. Chính ông đã xây dựng hệ thống  
phòng thủ ở Quảng Ngãi nhằm củng cố đường biên phía tây của Đàng Trong trước  
khi triển khai ý đồ mở rộng lãnh thổ của chúa Nguyễn dọc theo thế giới Khmer.  
Việc lãnh thổ của Đàng Trong mở rộng nhanh chóng đến giữa thế kỷ XVIII  
phản ảnh sức mạnh của các ý tưởng chính trị kết hợp với tư duy về không gian và  
lãnh thổ của những người cầm quyền. Sự hình dung này rất khác nhau qua các giai  
đoạn mà kéo theo đó là sự mở rộng của các mạng lưới và cuốn theo nó là sự can dự  
của các nhóm mới vào các không gian liên tục được kéo dãn đó. Vào năm 1693,  
các vùng đất cuối cùng của Champa bắt đầu chịu sự kiểm soát trực tiếp của chúa  
Nguyễn. Trước đó, người Việt cũng bắt đầu những bước đầu tiên vào vùng hạ lưu  
sông Mekong sau cuộc hôn nhân của vua Chân Lạp với một công chúa Nguyễn.  
Tuy rằng sự kiện này còn có những mốc thời gian khác nhau nếu như so sánh sử  
triều Nguyễn với các ghi chép biên niên Campuchia, 1620 rõ ràng là dấu ấn quan  
trọng khởi đầu cho một quá trình mà gần hai thập niên sau đó lãnh thổ của chúa  
18  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
Nguyễn sẽ tăng lên gấp đôi (Vickery 2011, 157-66). Cũng trên cơ sở này mà những  
người cầm quyền Đàng Trong có thể cho phép hàng nghìn quan quân nhà Minh  
tiến vào xác lập các đô thị và trung tâm định cư ở Mỹ Tho, Đồng Nai, Biên Hòa  
năm 1679. Dấu ấn quan trọng của tiến trình này chính là việc đặt phủ Gia Định như  
là vùng đất chính thức của chính quyền chúa Nguyễn ở hạ lưu Mekong. Sự thần  
phục của Hà Tiên năm 1707 tạo ra một hành lang quan trọng gắn kết các trung tâm  
dân cư và chính trị dọc sông Mekong với vùng duyên hải phía nam (Vũ 1818, 3a-b;  
V. H. Nguyễn 1970, 3-24). Người Việt sẽ mất thêm nửa thế kỷ để tiến sát vùng biên  
giới Việt Nam-Campuchia ngày nay bằng các cuộc viễn chinh 1755-1757. Theo  
sau đó là làn sóng của các nhóm nhập cư Việt, Hoa, Chăm, Malay, Khmer, Thái  
để xác lập nên một trong những khu vực đa dạng dân cư, sắc tộc, các mối quan hệ  
chính trị, lãnh thổ phức tạp và chằng chịt các mạng lưới tương tác (Li 2004, 1-12).  
Tác động qua lại giữa việc mở rộng không gian Đàng Trong và lôi cuốn vào  
đó các tương tác khu vực cho thấy rõ sức mạnh của địa lý trong việc tạo ra các môi  
trường xã hội năng động và đa tầng. Mở rộng địa lý như là một phương thức giúp  
gia tăng đa dạng xã hội, tôn giáo, đa dạng hóa các chủ thể giao tiếp, bao gồm cả  
những người đến từ cả hai khu vực địa lý ngày nay chúng ta gọi là Đông Nam Á và  
Đông Á. Những dòng người di cư và sự thịnh vượng của Đàng Trong cho thấy tầm  
ảnh hưởng của quá trình mở rộng lãnh thổ, mà tầm nhìn về địa lý và hướng đi của  
một chính thể trong không gian quyết định sự thịnh vượng của nó. Con người luôn  
vận động trong không gian và Đàng Trong cũng vậy vì các giới hạn của nó được  
xác lập dọc theo các mạng lưới liên tục vận động của con người (Zottoli 2011).  
Tính chất trung gian của không gian Đàng Trong còn được phản ánh ở cách  
thức mà bản thân người Đàng Trong mô tả về mình và cách thức mà những nhóm  
bên ngoài nhận thức về bản sắc địa lý của chính thể này. Có lẽ không có vùng đất  
nào ở Đông Nam Á có sự giao thiệp ngoại giao rộng rãi với thế giới bên ngoài giống  
như Đàng Trong, và cũng vì thế, không có nơi nào mà sự hình dung về địa lý lại đa  
dạng như việc định vị xứ sở này trong không gian. Mỗi đối tác của Đàng Trong lại  
có một sự hình dung khác nhau về vùng đất này. Bản thân các chúa Nguyễn tự gọi  
vương quốc của mình là Đại Việt và sử dụng niên hiệu vua Lê, đặc biệt là trong các  
thư từ gửi tới các nhà sư Trung Hoa và Mạc Phủ Nhật Bản (Đại Sán 1695 [1987],  
1). Bức thư gửi đến Công ty Đông Ấn Hà Lan VOC ở Batavia của Nguyễn Phúc Kỳ  
năm 1626 dùng tên An Nam [安南] (hình 2). Các thư của Đàng Trong gửi đến Nhật  
Bản tập hợp trong Ngoại Phiên thông thư cho thấy sự dịch chuyển trong ý niệm  
thực thể chính trị Đàng Trong. Bức thư năm 1601 có ghi “An Nam quốc Thiên hạ  
thống binh Đô Nguyên soái Thụy quốc công” [安南國天下統兵都元帥瑞國公].  
Bức thư năm 1606 đề rõ, “Thiên Nam quốc Khâm sai Hùng Nghĩa doanh Phó Đô  
tướng hành hạ Thuận Hóa-Quảng Nam đẳng xứ Thái úy Đoan quốc công” [天  
南國欽差雄義營副都將行下順化廣南等處太尉端國公]. Có hai bức thư sử dụng  
19  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
danh xưng “An Nam Quốc  
vương” [安南國王], niên đại  
1688 (Võ 2013, 61-71). Trong  
các thư gửi cho Đàng Ngoài  
cuối thế kỷ XVIII, lúc bị quân  
Trịnh vây lấn, chúa Nguyễn  
xưng “Thuận Hóa Quảng Nam  
đẳng xứ biên thần” [順化廣南  
等處邊臣], tức là thừa nhận  
mình là hai xứ biên viễn lệ  
thuộc vào Đàng Ngoài. Trong  
khi các thư gửi cho nhà Thanh  
xin cầu phong thì tự xưng “An  
Hình 2. Thư của Tổng trấn Quảng Nam Nguyễn Phúc Kỳ Nam quốc Thuận Hóa đẳng  
gửi Công ty VOC Batavia (1626) (Kleinen et al., 2008, 23).  
xứ Tiết chế Thái phó Tộ quốc  
công” [安南國順化等處節制太傅祚國公] hay “Hải ngoại Việt quốc thảo mãng  
thần Nguyễn Phúc Chu” [海外越國草莽臣阮福周] (Lê II: 175-6a).  
Các thư từ gửi đáp lại từ bên ngoài gọi Đàng Trong là Giao Chỉ, Đại Việt,  
hay Quảng Nam, theo tên gọi vùng đất quan trọng nhất của nó. Người Nhật Bản  
gọi vùng này là Quảng Nam hay Giao Chỉ để phân biệt với Đàng Ngoài là Đông  
Kinh (Ishii 1998, 154; Nöel 1923, 3-4, 30). Các nhà sư và thương nhân Trung Hoa  
thì đáp lại danh hiệu của chúa Nguyễn bằng cách gọi Đàng Trong là Đại Việt và  
Đàng Ngoài là An Nam (Đại Sán 1695 [1987], 1-2). Trí thức Bắc Hà phủ nhận tính  
chất độc lập của Đàng Trong khi Lê Quý Đôn coi Thuận Quảng là vùng biên viễn.  
Ngay trong quyển 1 của Phủ Biên tạp lục, ông nhấn mạnh đến mối liên hệ này bằng  
cách kết nối vùng này với lịch sử Đàng Ngoài, như cách thức mà các học giả thời  
Lê khác như Dương Văn An đã làm. Ông cũng chú ý đến Hà Tiên và mô tả nó như  
một vùng hải ngoại xa xôi (Lê II: 169b-170a; Dương 2009, 1b-2a).  
Những người phương Tây cũng có những hình dung khác nhau về Đàng  
Trong. Đó là một bức tranh phức tạp về cách thức định dạng bản sắc địa lý của  
vùng đất này giữa các nhóm đối tác và đối thủ cạnh tranh. Tên gọi phổ biến là  
Cochinchina, và có thể được phiên âm khác nhau: Quachymchyna, Concamchina,  
Cauchimchyna, Cachenchina, Cauchenchina, Cauchinchina, Coccincina (Léonard  
1924, 563-79). Các học giả Pháp đã có cuộc tranh luận về nguồn gốc tên gọi Cochin  
này. Một số ý kiến cho nó bắt nguồn từ Kẻ Chợ, sau đó bị biến âm thông qua phiên  
âm tiếng Nhật hay Hán (Nöel 1923, 5). Các ý kiến khác gợi ý từ tên gọi Cổ Chiêm,  
Cổ Chàm. Tuy nhiên, theo Paul Pelliot thì đó là từ Giao Chỉ được phiên âm qua  
tiếng Hán và Nhật, sau đó người Bồ Đào Nha ghi âm lại (Pelliot 1903, 299). Dù  
điều này có vẻ như được chấp nhận ở mức độ nào đó, các học giả khác vẫn tìm thấy  
20  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
nhiều bằng chứng về mối liên quan giữa các yếu tố tiếng Malay đối với cách người  
Bồ Đào Nha tạo ra tên gọi này (Pires 1967, 104; Dror và Taylor 2006, 17).  
Sự hình dung về bản sắc địa lý của Hà Tiên cũng trong tình trạng tương tự  
khi các chủ thể khác nhau gọi nó bằng những tên gọi và cách thức định vị không  
gian hoàn toàn khác. Họ Mạc đã không gọi Đàng Trong là Đại Việt như chúa  
Nguyễn kỳ vọng. Trong lời tựa Hà Tiên thập vịnh năm 1736, Mạc Thiên Tứ gọi  
vùng đất của mình là An Nam Hà Tiên trấn, trong khi ở một bài thơ, ông mô tả  
về vùng đất này như là biên cương nằm ở phía nam của Nhật Nam, theo cách gọi  
của nhà Hán đối với các khu vực cai trị phía nam Hà Tĩnh (Trần 1967, 174-75).(2)  
Tuy nhiên, những tên gọi chỉ Hà Tiên từ bên ngoài mới là điều thú vị. Nằm giữa  
một thế giới của những kẻ cướp, dân di cư, những người bảo trợ, những kẻ cạnh  
tranh, các đối tác và đồng minh, vùng đất này xuất hiện với nhiều tên gọi khác  
nhau. Người Khmer gọi nó là Peam hay PandayMas [Bức tường vàng] (Sellers  
1983, 9). Thương nhân và cướp biển Malay gọi nó là Pantai Mas [Bờ biển/cánh  
cổng vàng],(3) hay Kuala [Cửa sông], trong khi đối với người Thái, vùng đất này  
là Ponthaimas, Phutthaimas hay Ban-Thaay-Mas [Cổng vàng] (Rungswasdisab  
1995, 43, Li và Van Dyke 2007, 12). Nó cũng nổi danh trong số các thương nhân  
phương Tây và các viên chức lẫn thương nhân Hoa Kiều. Các văn bản Trung  
Hoa gọi nó là Phương Thành hay Cảng Khẩu quốc (Văn hiến thông khảo), trong  
khi người Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Anh, Pháp gọi nó là Cancao (có lẽ bắt  
nguồn từ Cảng Khẩu) hay Panthaimas (Willmott 1966, 15-38; Sellers 1983, 7;  
Rungswasdisab 1995, 45; Hamilton, 105; Vũ 2016b).  
Tính chất đa dạng của các hình dung về địa lý này giúp định hình bản sắc  
không gian Đàng Trong thông qua việc định vị vùng đất này giữa các mạng lưới  
thương mại, di dân, và quan hệ quyền lực giữa Đông Á và Đông Nam Á. Điều này  
phản ánh sự nhanh nhạy của các chủ thể Đàng Trong đối với sự chuyển dịch của  
các mạng lưới quốc tế. Họ đã tìm cách thu hút các đối tác toàn cầu (global factors)  
này bằng cách phát huy các thế mạnh địa phương, gắn kết các mạng lưới nội địa  
vào hệ thống vùng và toàn cầu như chúng ta sẽ phân tích dưới đây.  
Các chủ thể ở Đàng Trong  
Chính quyền Đàng Trong về tổng thể như một sự pha trộn giữa Trung Hoa và  
Nhật Bản: người Nhật chú ý đến tri thức quân sự hơn là học thuật, người Trung  
Hoa thì ngược lại, dành nhiều quan tâm cho học thuật và chỉ dành chút quan tâm  
ít ỏi đến các vấn đề quân sự. Đàng Trong không đi theo hai con đường này, dành  
các mối bận tâm như nhau đối với tri thức học thuật và kỹ năng chiến tranh tùy  
vào hoàn cảnh; đôi khi ưu ái các chiến binh, đôi khi là các học giả, do đó tận dụng  
những người này theo cách tốt nhất. Christopher Borri (1621)  
Trong một không gian đàn hồi và các đường biên mở, chúng ta sẽ xem xét các  
chủ thể ở Đàng Trong và cách thức mà sự tương tác giữa các nhóm này tạo ra cấu  
21  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
trúc kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo để vận hành vùng đất này trong các quan  
hệ nội và ngoại vùng. Điều dễ nhận thấy là những người này đã vượt qua một cuộc  
hành trình tuyệt vời để đưa một khu vực là biên viễn của bắc Việt Nam, một vương  
quốc cổ Đông Nam Á đang suy tàn, một thế giới người Khmer lỏng lẻo, phân tán  
với đầm lầy, rừng rậm trở thành nơi thu hút các đối tác từ khắp nơi trong vùng Biển  
Đông. Thành quả này là kết quả của một liên minh xã hội năng động trong cách  
thức các nhóm này cạnh tranh, hợp tác, bảo trợ, và thay thế lẫn nhau để tạo nên các  
cấu trúc mới đa dạng và thịnh vượng. Một khung cảnh xã hội mà cả Christopher  
Borri (1621) và Lê Quý Đôn (1776) đều thống nhất là ít chú ý đến sự phức tạp của  
các thiết chế chính trị, khoa cử mà nhấn mạnh tính thực dụng và khả năng quản lý  
xã hội linh hoạt (Dror and Taylor 2006, 122; Lê 1776, 2: 142b).  
Mỗi lần không gian Đàng Trong được mở rộng, nó lại lôi cuốn thêm vào cấu  
trúc của mình các nhóm tương tác mới. Điều thú vị cần quan tâm là cách thức các  
nhóm này lần lượt gia nhập vào cấu trúc và cộng hưởng với không gian vừa được  
xác lập. Frederick Turner trong luận văn về vùng biên của lịch sử Mỹ mô tả khu  
vực này như một điểm gặp gỡ giữa “dã man” và “văn minh” (Turner 1994, 32).  
Các chủ thể tương tác trong không gian Đàng Trong được hình thành trong một  
cơ chế phức tạp hơn rất nhiều bởi tính chất đa trung tâm và sự xen kẽ của nhiều  
nhóm người khác nhau mà mỗi nhóm có vai trò riêng trong các khâu riêng biệt của  
mạng lưới như sẽ thấy ở phần dưới đây. Các chủ thể này tạo ra các cấu trúc đan xen  
chồng lấn trong không gian, nơi “dã man” và “văn minh” không hề có các đường  
biên rành mạch.  
Thực tế này là hệ quả của một quá trình di cư và thẩm thấu dân cư phức tạp  
và kéo dài. Sự gia nhập của nhiều nhóm người Việt khác nhau vào vùng đất này  
dọc theo các cuộc viễn chinh thời Trần, Hồ, Lê, và từ cuối thế kỷ XV-XVI biến nó  
thành các đơn vị hành chính (Cadière 1902, 55-73; Cadière 1903, 164-205). Cuộc  
di cư có tính quy mô được ghi chép chắc chắn là sự kiện năm 1558. Tuy nhiên  
gần nửa thế kỷ chiến tranh sau đó giữa chính quyền Lê và Mạc kéo theo các cuộc  
thâm nhập, chạy loạn và cả xâm lấn quân sự từ phía bắc vào. Thủy quân nhà Mạc  
đã nhiều lần tập kích vùng đất này cùng những mối liên hệ chính trị phức tạp giữa  
họ Mạc và họ Nguyễn làm gia tăng đáng kể sự hiện diện của họ ở Đàng Trong. GS  
Trần Quốc Vượng trong cuộc điền dã năm 1995 có tới nhà thờ họ Mạc ở xứ Trà  
Kiệu Tây, nơi có cuốn gia phả họ Mạc dày dặn nhất mà ông từng biết (Huỳnh 1997,  
22-30; Zottoli 2011, 107-16). Trong quá trình chiến tranh với Đàng Ngoài, Đàng  
Trong có chính sách bắt người và tù binh từ phía bắc vào định cư sâu trong lãnh thổ  
của mình. Trường hợp dân các huyện ở Nghệ An trong chiến tranh 1653-1657, bị  
đưa vào vùng Quy Nhơn, trong đó có gia đình Nguyễn Huệ là ví dụ (KĐVSTGCM  
1884, 22a-b; Quách Tấn 1988, 20-23). Quá trình này cũng từng bước sáp nhập  
22  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
phần còn lại của vương quốc Chăm và đưa người Việt xen lẫn với các nhóm cư  
dân bản địa, bắt đầu là vùng đất từ Cù Mông đến Phan Thiết, khu vực được gọi  
là nagara Champa. Năm 1693, khu vực này được đổi tên là Thuận Thành dù một  
chính quyền nhỏ của người Chăm còn được duy trì đến 1834. Trong nhiều khung  
cảnh lịch sử và ở góc độ nào đó, các sử gia dân tộc chủ nghĩa đã phần nào “quên”  
mất những người Chăm này bởi sự hấp dẫn của khái niệm nam tiến. Tuy nhiên họ  
đã đóng vai trò rất quan trọng không chỉ với tư cách là những cư dân bản địa mà kỹ  
thuật, tầm nhìn biển, và các mạng lưới của họ đã được vận dụng một cách có hiệu  
quả bởi các chính quyền sau đó (Li Tana 1998, 32, 132; Wheeler 2001, 72-130).  
Các học giả như Emile Gaspardone (1952), Trần Kinh Hòa (1964), Li Tana  
(1998), Lombard-Salmon (2003), Li Tana và Nola Cooke (2004), Choi Byung  
Wook (2004), Yumio Sakurai (2004), Trương Minh Đạt (2008), Claudine Ang  
(2012) cũng dành nhiều quan tâm cho các nhóm người Hoa di cư ở nhiều giai đoạn  
và thiết lập nên các nhóm khác nhau. Những người này đã đến Đàng Trong theo  
nhiều đợt, vào nhiều thời điểm và tham dự vào cấu trúc chính trị, xã hội thông qua  
nhiều cách thức. Đợt đầu tiên có quy mô lớn là khoảng 3.000 người trung thành  
với nhà Minh năm 1679, những người đã khai phá các bãi sông dọc Mekong (Biên  
Hòa, Mỹ Tho), sau đó phát triển ngược lên dòng Mekong. Từ cơ sở này mà trung  
tâm hành chính đầu tiên của người Việt được xác lập trên hạ lưu Mekong (1698).  
Các mạng lưới Hoa kiều trong khu vực này rõ ràng đóng vai trò lớn trong việc  
kết nối không gian địa lý và xác lập các không gian xã hội đa dạng, mở và có tính  
gắn kết cao thông qua hoạt động thương mại. Sự sáp nhập của Hà Tiên năm 1707  
đã mở cánh cửa Đàng Trong ra thế giới phía nam và tây, với người Thái, Mã Lai,  
phương Tây và Hoa kiều trên khu vực này (Lombard-Salmon 2003, 177-227).  
Claudine lập luận về vai trò của các “dự án văn minh” mà Nguyễn Cư Trinh và  
Mạc Thiên Tứ tiến hành ở hai vùng biên của Đàng Trong nhằm củng cố sự ổn định  
và mở rộng lãnh thổ (Ang 2012, 1-9). Trong khi các lực lượng quân sự khác như  
quân Long Môn có vai trò năng động trong diễn trình lãnh thổ của Đàng Trong, đặc  
biệt là dưới sự dẫn dắt của chúa Nguyễn (Sakurai 2004, 41, 44-45). Tuy nhiên, vẫn  
còn các nhóm Minh Hương khác cũng sẽ đóng vai trò lớn trong cấu trúc văn hóa  
chính trị, đặc biệt là nửa cuối thế kỷ XVIII (Trần 1964). Jean Koffler (1911) dự báo  
có khoảng 30.000 người Hoa ở Đàng Trong vào 1740, trong khi các thống kê khác  
đề xuất con số 40.000 vào năm 1780 (Koffler 1911, 460; Lieberman 2003, 409).  
Xen lẫn vào đó là sự xâm nhập cư dân của các nhóm cướp biển, buôn lậu,  
các nhóm miền núi (“Đá Vách”…), làm cho thế giới các chủ thể tương tác ở  
Đàng Trong cực kỳ đa dạng, đến từ nhiều khu vực dọc theo các đường biên lỗ chỗ  
(porous borders). Các nhóm người khác nhau liên tục thâm nhập từ mọi phía, tạo ra  
một xã hội năng động, đa tầng, đa cấu trúc, đa chủng tộc (Anderson 2001, 82-105;  
23  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
Anthony 2003). Sự năng động này là lý do làm cho dân số Đàng Trong tăng nhanh  
chóng với tỷ lệ gần gấp đôi Đàng Ngoài. Lấy Thuận Hóa làm ví dụ, dân số nơi đây  
ước tính năm 1417 khoảng 64.000 người, đã tăng lên 378.000 người năm 1555  
(Li 1998b, 29-30, 171). Đến 1770, vùng Thuận Quảng có khoảng 900.000 dân  
(Lieberman 2003, 410). Những người phương Tây hoạt động trên lãnh thổ Đàng  
Trong cũng góp phần vào sự đa dạng hóa của cấu trúc xã hội trên vùng đất này. Các  
thương điếm buôn bán và hoạt động giao thương tạo điều kiện để các chủ thể đến  
từ bên ngoài khu vực này tham gia và trở thành một phần trong cấu trúc bản địa  
năng động. Thương nhân, giáo sĩ, thợ đúc súng, bác sĩ, nhà thiên văn học…, là một  
phần trong sự hiện diện tích cực của thế giới phương Tây ở Đàng Trong (Cooke  
2008, 385; Volkov 2013, 31-67). Một hệ quả của những tương tác sâu rộng này có  
thể dẫn ra đây là việc có khoảng 60.000 hay gần 10% dân số vùng đất này trở thành  
giáo dân trong những năm 1660 (Rochon 1793, 390; Guennou 1986, 137). Ngay  
cả khi có cuộc đụng độ chớp nhoáng diễn ra năm 1643 khi Đàng Trong đốt cháy  
các tàu Hà Lan, và năm 1705 khi chúa Nguyễn phá hủy thương điếm của Anh ở  
Côn Đảo, người phương Tây vẫn được chào đón trên vùng đất này (Wong Tze-Ken  
2012, 1.097-1.115). Điều này phản ánh nhãn quan đặc biệt trong cách tiếp cận đối  
tác bên ngoài của chính quyền Đàng Trong, đặc biệt là so với các chính thể Đông  
Á khác. Một nhà du hành người Pháp, Alexis Marie de Rochon, có lẽ đến đây vào  
cuối thế kỷ XVIII đã viết rằng “nhà vua, hơn ai hết, rất thích (các giáo sĩ phương  
Tây), và khuyến khích người châu Âu đến các cửa biển thường xuyên hơn để buôn  
bán” (Rochon 1793, 388).  
Các chủ thể này mang theo cơ cấu chính trị, xã hội và bản sắc riêng của mình  
đóng góp vào mạng lưới Đàng Trong thông qua quá trình tương tác, cộng gộp,  
cạnh tranh, và thỏa hiệp giữa các mô hình chính trị, tổ chức xã hội và thực hành  
tôn giáo. Paul Mus nói rằng người Việt “di chuyển dọc theo bán đảo Đông Dương  
như một cơn lũ, mang theo người của mình đến bất cứ nơi đâu mà họ có thể khai  
phá đất đai và trồng lúa trên đó” (Mus 1952, 17). Không chỉ lúa nước, người Việt  
mang theo sau cả một hệ thống thiết chế phức tạp của tổ chức xóm làng, Nho giáo  
và nhà nước tập quyền. Thực tế là họ đã phải học cách tồn tại và thích nghi trên  
các không gian tự nhiên hoàn toàn khác biệt so với đồng bằng Sông Hồng, Sông  
Mã và Sông Cả. Địa hình ngắn, dốc và đồng bằng nhỏ hẹp, chia cắt ở miền Trung  
yêu cầu những cách thức tổ chức mạng lưới kinh tế mới ít phụ thuộc hơn vào nông  
nghiệp, thay vào đó là sự tương tác với các nhóm miền núi qua các mạng lưới trao  
đổi ven sông đặc thù của thế giới Malay đã được thiết lập ở khu vực này hàng  
nghìn năm trước đó (Hall 2011, 32; Hardy 2008, 55-65). Điểm cuối của tất cả các  
mạng lưới này đều hướng ra biển, theo cách mà Bennet Bronson mô tả (Bronson  
1977, 39-54). Người Chăm và các cư dân bản địa khác đã thực hành hệ thống liên  
24  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
minh chính trị và quan hệ kinh tế này một cách thành công đến mức vùng biển  
Đàng Trong từng được gọi là biển Champa và vương quốc này từng nhiều lần  
chinh phục các thể chế xung quanh, bao gồm cả Angkor và Đại Việt. Tri thức và  
truyền thống hàng hải của người Chăm và Malay rõ ràng đã góp phần quan trọng  
trong thành công của chúa Nguyễn để có thể đứng vững trên vùng đất này. Nó cũng  
thúc đẩy tầm nhìn hướng biển và phát triển các mối quan hệ hàng hải mà khu vực  
này có truyền thống (Reid 1999, 40-55). Không phải ngẫu nhiên mà các trung tâm  
như Phú Xuân, Thanh Hà, Hội An lại trở thành những trung tâm thương mại quan  
trọng trong giai đoạn này trong việc kết nối giữa Đông Nam Á và Đông Á. Sự gắn  
kết với biển của vùng đất này cũng là cơ sở cho việc kết nối các nhóm cư dân bên  
ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa và phương Tây.  
Hạ lưu Mekong với đầm lầy, rừng rậm, tài nguyên phong phú và các đường  
biên bỏ ngỏ là một khung cảnh khác thách thức việc tổ chức hệ thống kinh tế và  
chính trị của người Việt. Điều kiện tự nhiên này là không hề dễ dàng để xây dựng  
hệ thống làng xóm và các thiết chế xã hội chặt chẽ như ở miền Bắc. Điều này cần  
rất nhiều nhân lực, đặc biệt là cho hệ thống thủy lợi (như chúng ta đã chứng kiến  
công cuộc khai phá này từ những năm 1820 đến 1930, Biggs 2010). Thay vào đó  
là hệ thống kinh tế và quan hệ chính trị “theo con nước lên xuống” – một xã hội  
tổ chức linh hoạt, dựa vào tự nhiên. Vì thế, mỗi chủ thể sẽ đảm nhiệm những khâu  
nào đó của các cấu trúc kinh tế, liên minh xã hội, và kết nối chính trị này. Người  
Hoa, Malay, Khmer và Việt đã chủ động hiện thực hóa các ý đồ chính trị trên sâu  
khấu không gian rộng lớn và phức tạp này. Mở đầu là việc năm 1669, chúa Nguyễn  
tiến hành đo đạc ruộng đất, chuẩn hóa hệ thống thuế khóa và khuyến khích dân  
khai hoang bằng cách xác lập ruộng đất tư cho người khai khẩn (ĐNTL 1977, I:  
72-73). Theo sau đó là các cuộc viễn chinh thiết lập các hành lang quân sự và hành  
chính nhằm bảo trợ cho cuộc di cư và xâm nhập lãnh thổ. Chúng ta sẽ nói về các  
mối liên minh quân sự và bảo trợ chính trị này ở phần dưới đây, cũng như thực chất  
của các “dự án văn minh” của Nguyễn Cư Trinh và họ Mạc Hà Tiên không khác gì  
hơn là sự thiết lập cơ sở hạ tầng cho quyền lực nhà nước ở chính các vùng biên của  
Đàng Trong. Các chúa Nguyễn với tư cách quản lý và cai trị lãnh thổ đã phát triển  
những tư duy tổ chức không gian hợp lý nhằm định hình nên các đường ranh giới  
tương lai cho thể chế của mình thông qua thỏa hiệp, chiến tranh, và thương lượng  
quyền lực. Trên hết, đó là cách thức sử dụng sức mạnh của các nhóm khác nhau  
bằng cách thu nạp họ vào hệ thống chính trị, kinh tế và biến họ trở thành một phần  
trong cấu trúc xã hội mới.  
Hà Tiên là ví dụ cho một cộng đồng lai ghép (hybrid community) và đa bản  
sắc (multiple identities). Với tư cách là một chủ thể tương tác ở Đàng Trong, lịch  
sử năng động của vùng đất này đã không dừng lại ở năm 1707, mà duy trì với tư  
25  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
cách là một trung tâm thương mại, chính trị, và giao lưu học thuật tại giao điểm  
của các mạng lưới giữa Đông Á và Đông Nam Á. Xuất phát từ một vùng đất “lệ  
thuộc” Campuchia, gia nhập vào không gian của chúa Nguyễn để trở thành một  
trấn và chấp nhận danh hiệu phiên thuộc của vương triều Thonburi (Vũ 1818, 1a/b;  
Trần 1979). Tất cả những dấu hiệu này cho thấy cách thức đa dạng mà các chủ thể  
trên không gian Đàng Trong tìm kiếm vị trí của mình trong cấu trúc khu vực, và tự  
định vị vai trò như một điểm nối giữa các mạng lưới và vùng chồng lấn giữa các  
trung tâm tập quyền. Vùng đất này triều cống Phú Xuân, quy thuận Xiêm, thúc đẩy  
quan hệ với các nhóm người Hoa và thương nhân Malay ở khu vực hải đảo, giao  
thiệp với nhà Thanh và tham dự vào mạng lưới học thuật miền nam Trung Hoa.  
“Bản sắc” không gian của chính thể này vì thế không thể đơn thuần giới hạn trong  
khuôn khổ của một cộng đồng Hoa thương bên bờ đông của vịnh Thái Lan. Sau  
khi đánh bại các cuộc tấn công của Udong (1739), Mạc Thiên Tứ tự xưng là Nak  
Somdet Pra Sothat hay Reachea Krong Kampucea Tiptei (vua của Campuchia)  
trong các thư từ với Nhật Bản. Trong các thư khác, ông xuất hiện là Somdec Preah  
Sotoat/ Sotat (danh hiệu mà theo biên niên sử Campuchia ứng với cha nuôi của vua  
Campuchia Nak Ton). Một bức thư như thế gửi đến chính quyền Tokugawa năm  
1742 đã yêu cầu thiết lập lại quan hệ thương mại giữa hai nước (Nöel 1923, 131-32;  
Trần 1979, 1538, 1554). Trong khi với các biên niên sử Thái (Pongsawadan) Mạc  
Thiên Tứ được gọi là Ong Chen Chun (vị tướng Trung Hoa) và Phraya Ratchea  
Setthi (một tước hiệu nhầm lẫn với người đứng đầu chính quyền Khmer ở Bantey  
Meas) (Sakurai and Kitagawa 1999, 180). Hơn một thập niên sau đó, ông ta tiếp  
tục đóng vai một người trung gian hòa giải giữa chúa Nguyễn và vua Campuchia  
(1755-1757) để nhận thêm 5 vùng đất mới như quà tặng (Vũ 1818, 8a; Sakurai and  
Kitagawa 1999, 165). Họ Mạc cũng chủ động tìm kiếm cách thức hòa nhập vào  
không gian bản địa. Tên gọi Hà Tiên là ví dụ cho thấy việc cộng gộp các huyền  
thoại địa phương để tạo dựng nên bản sắc mới (ĐNTL 1977, quyển 1: 111). Trong  
khi các huyền thoại Phật giáo, như sẽ trình bày dưới đây cho phép nó gắn kết hơn  
với khung cảnh tinh thần của các nhóm cư dân xung quanh. Hôn nhân với người  
Việt và các nhóm Hoa kiều ở hạ lưu sông Mekong là nỗ lực tìm kiếm các đồng  
minh mới, trong khi mạng lưới trí thức Hán học được tập hợp là sự phô diễn đối  
với các chúa Nguyễn và các nhóm người Hoa khác về sự vượt trội “văn minh” và  
tính chính thống quyền lực mà nó xây dựng.  
Họ Mạc là ví dụ về phương thức mà các chủ thể ở không gian Đàng Trong  
tìm cách định vị vị trí kinh tế, chính trị giữa các mạng lưới đa văn hóa và vùng biên  
chồng lấn của các thể chế tập quyền. Đặc trưng của không gian này là sự giao thoa  
giữa hai chỉnh thể địa lý Đông Á và Đông Nam Á (nếu như chúng ta chưa tìm ra  
khái niệm không gian nào thích hợp hơn). Ở đó, bản sắc là khả năng cộng hưởng,  
26  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
tính năng động, đàn hồi, hòa nhập, và thích nghi hơn là sự tự giới hạn trong một  
không gian đóng và sự vận hành xã hội thông qua các thiết chế cứng nhắc. Cũng  
chính vì thế, sự hấp dẫn của vùng đất này đã thu hút những đối tác từ bên ngoài,  
nhà du hành Pháp Pierre Poivre nói rằng vùng đất này là “một vương quốc mà bất  
cứ một người cần cù nào cũng đều muốn đến đó lập nghiệp” (Poivre 1769, 89).  
Theo dấu các mạng lưới  
Họ (người Đàng Trong) luôn sẵn sàng tiếp nhận những kẻ xa lạ, và rất hài  
lòng khi thấy những người này không chỉ đến từ những nước láng giềng  
mà còn từ những vùng xa xôi nhất đến buôn bán với họ.  
Borri 1621: 132  
Ở phần này, chúng ta sẽ đi theo các mạng lưới định hình và vận hành xã hội  
Đàng Trong. Các mạng lưới này đã mở rộng ý niệm địa lý Đàng Trong vượt qua  
không gian mà ở thế kỷ XX, các cường quốc bên ngoài sẽ phân chia thành Đông Á  
và Đông Nam Á. Ngay cả khái niệm về vùng địa lý được Abalahin đề ra gần đây,  
“Sino-Pacifica” cũng có vẻ không phù hợp để định vị Đàng Trong vì nó quá chú  
trọng việc lấy Trung Hoa làm trung tâm mà quên mất các chủ thể khác ở bờ bên kia  
của Biển Đông (Abalahin 2011, 659-91). Thực tế, tính cách địa lý Đàng Trong đa  
dạng hơn nhiều thông qua hệ thống phức hợp khó tách rời của các mạng lưới kinh  
tế, trao đổi thương mại cho đến thiết chế tôn giáo, liên hệ chính trị, tộc người và  
quan hệ hôn nhân. Các cấu trúc này giúp vận hành Đàng Trong và định hình nên  
bản sắc của không gian xã hội này: đa dạng tộc người, liên kết mạng lưới và hướng  
ngoại. Chúng ta sẽ khảo sát tinh thần này ở các quan hệ kinh tế, mạng lưới Phật  
giáo, học thuật, cạnh tranh quyền lực vùng, và nỗ lực kết nối với thế giới bên ngoài.  
Sự gắn kết của Đàng Trong giữa các mạng lưới Trung Hoa xứng đáng được  
đề cập ở đây như một cách thức để tìm kiếm sự thịnh vượng kinh tế, chính thống  
về chính trị, mở rộng lãnh thổ. Trong đó nổi bật là sự kết nối với mạng lưới Phật  
giáo duyên hải miền nam Trung Hoa. Thông qua mối liên hệ này, chúa Nguyễn  
thu hút dòng thương nhân và bắt mối cho các liên hệ chính trị với phương Bắc để  
tìm kiếm sự công nhận của nhà Thanh. Charles Wheeler cho rằng đối với Đàng  
Trong, các kết nối này trở thành thiết chế thứ ba mang lại sự thịnh vượng và bền  
vững bên cạnh quân sự và thương mại (Wheeler 2007, 303-24). Chúa Nguyễn vì  
thế được mô tả là rất thiết tha chào đón các nhà sư như Thích Đại Sán. Ông này  
đã được chúa viết thư mời đến ba lần, và người đưa thư chính là các thương nhân  
Phúc Kiến. Bản thân cuộc hành trình của ông cũng trên một con tàu thương mại  
đầy ắp các thương nhân và hàng hóa giong buồm thẳng hướng Đàng Trong (Đại  
Sán 1695 [1987], 2). Các chuyến đi như vậy là một bức thông điệp rõ ràng về tôn  
giáo, thương mại và chính trị. Các buổi lễ Phật giáo mà Đại Sán tiến hành ở Đàng  
Trong được thông báo là có số lượng đông đảo các tín đồ tham dự, đặc biệt là các  
27  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
thành viên họ Nguyễn. Claudine Salmon (2005) cũng đề cập đến một chiếc chuông  
được đặt đúc tại Quảng Đông và chưa bao giờ được chuyển về Đàng Trong. Chiếc  
chuông này đúc vào năm 1693 bởi một vị có danh hiệu Nam Hoàng quốc sư và  
người Quốc nhũ Nguyễn Thị Đạo (Lombard-Salmon 2005, 323).  
Tôn giáo này cũng là trụ cột của các nghi thức thực hành văn hóa ở Hà Tiên,  
vùng đất bao quanh bởi các nhóm cư dân Phật giáo. Nó bắt đầu bằng huyền thoại  
về sự ra đời của Mạc Thiên Tứ và pho tượng Phật xuất hiện ở Lũng Kỳ, nơi một  
ngôi chùa được xây dựng để thờ phụng (Vũ 1818, 2b). Họ Mạc rõ ràng đã nhìn  
thấy sức mạnh của tôn giáo này trên vùng không gian tộc người đa dạng mà họ  
đang cố kiểm soát. Phật giáo có thể là một mẫu số chung. Vì thế, các huyền thoại  
đã được tạo dựng nhằm cung cấp tư liệu cho sự chính danh chính trị. Người mẹ  
của Mạc Cửu cũng là một tín đồ sùng bái đạo Phật và nghe nói bà đã qua đời trong  
khi đang làm lễ trước tượng Phật. Vì thế, người ta đã đúc tượng và lập am thờ bà  
trên chùa Tam Bảo (Vũ 1818, 4b). Rõ ràng đó là một diễn ngôn tôn giáo và chính  
trị quan trọng của vùng đất này, về mối liên hệ giữa bảo trợ Phật giáo và cách thức  
nhằm quy tụ nhiều nhóm cư dân. Các ngôi chùa của Hà Tiên cũng trở thành đề tài  
trong văn chương tôn vinh vùng đất này, trở thành một trong mười thắng cảnh của  
Hà Tiên thập vịnh (Mạc 1736).  
Các mạng lưới Phật giáo từ miền nam Trung Hoa là một cấu trúc quan trọng  
trong giai đoạn đầu phát triển của Đàng Trong trong quá trình thu hút những người  
di cư, các dòng thương nhân và trí thức nhằm tìm kiếm nhân lực cho vùng đất mới  
khai phá, đối tác cho các mạng lưới thương mại, và lời khuyên về những chính  
sách cai trị khôn khéo đối với vùng đất non trẻ. Tất cả những chương trình nghị sự  
này đều được ít nhiều hé lộ trong cuộc đàm thoại giữa Đại Sán và chúa Nguyễn  
(Trần 1960, 17-25). Cùng với Đại Sán có Chu Thuấn Thủy trong vòng 12 năm  
(1646-1658) đã đến Quảng Nam 5 lần. Rõ ràng Đàng Trong là địa bàn quan trọng  
trên đường biên/hành lang duyên hải phía nam (Chinese maritime frontier) của các  
nhóm dù là thương nhân, tôn giáo, hay trí thức. Các cuộc viễn chinh quân sự của  
nhà Thanh đã đẩy thêm nhiều người Hoa xuống vùng ven biển trong một kỷ nguyên  
bùng nổ của các mạng lưới Trung Hoa kết nối với Đông Nam Á và Đàng Trong  
đã đón nhận xu thế này. Khi chính quyền Mạc Phủ hạn chế tàu buôn đến Nagasaki,  
các tàu này chuyển hướng xuống phía nam và một phần quan trọng ghé các cảng  
Đàng Trong (Trần 1957, 7). Ở khu vực Quảng Đông và Hồng Kông, thương nhân  
tổ chức thành các hãng buôn lớn, được biết đến như là Thập tam hãng mà không  
gian thương mại chủ yếu là giữa duyên hải nam Trung Hoa với các trung tâm ven  
Biển Đông (Trần 2001). Thêm nữa là việc gia tăng nhập khẩu gạo từ hạ lưu sông  
Mekong đến miền nam Trung Hoa, nơi có dân số tăng nhanh và nhiều biến động  
chính trị cũng thúc đẩy vai trò kết nối của vùng đất này (Li 1998, 69; Lieberman  
28  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
2003, 409; Reid 2004, 23). Các ghi chép khoảng 1695 cho biết có khoảng 10-12  
thuyền buônTrung Hoa ghé Hội An hàng năm (Lamb 1970, 52; Cadière and Mir  
1920, 183-240). Cũng trong khoảng thời gian này, chúa Nguyễn Phúc Chu được  
dẫn lời nói rằng số thuyền thương mại đã tăng từ 6-7 lên 16-17, và mang lại nguồn  
thu đáng kể cho ngân khố (Đại Sán 1695 [1987], 63). Các thống kê khác từ tư liệu  
Trung Quốc và Nhật Bản cũng cho thấy 1/4 thuyền Châu Ấn Nhật Bản buôn bán  
với Đàng Trong, trong khi 30% thuyền buôn Trung Quốc ghé Nhật Bản trong giai  
đoạn 1642-1720 xuất phát từ khu vực này (Li Tana 1998, 68-69).  
Các liên hệ tôn giáo và học thuật vì thế là xúc tác cho một dòng chảy lớn hơn  
của thương nhân, hàng hóa, con người và các tham vọng chính trị. Mạng lưới trao  
đổi văn chương, học thuật giữa duyên hải nam Trung Hoa, Nhật Bản, Phú Xuân,  
Thuận Quảng, Hà Tiên cũng là một điểm nhấn giúp định hình nên không gian  
tưởng tượng nơi giới tinh hoa Đàng Trong tìm kiếm vị trí của mình trong thế giới  
Đông Á. Hai mươi lăm trong tổng số ba mươi hai thành viên của tao đàn Chiêu  
Anh Các Hà Tiên đến từ Trung Hoa, trong khi các thành viên khác của học giả  
Đàng Trong như Nguyễn Cư Trinh thường xuyên tham gia cũng như trao đổi thư  
từ và văn chương (Lê 1776, II: 149b, 170a). Sự liên hệ giữa mạng lưới Trung Hoa  
và “dự án chính trị” (theo cách gọi của các sử gia phương Tây) của chúa Nguyễn và  
họ Mạc là rõ ràng. Không kém phần quan trọng so với các buổi thuyết giảng Phật  
pháp là các cuộc đàm đạo về thực hành chính trị. Đại Sán đã dâng lên chúa Nguyễn  
“lập quốc chính ước” gồm 18 điều xoay quanh tổ chức hệ thống nhà nước. Chúa  
Nguyễn Phúc Chu tuyên bố rằng: “Pháp độ dân tình nước ta chưa được đúng đắn,  
nay nhờ Lão Hòa thượng đem lễ pháp Trung Hoa, vì ta tỏ bày 18 điều, nên khắc  
vào bảng treo trước phủ đường, hiểu dụ cho văn võ quân dân đều biết” (Trần 1960,  
23-24). Đại Sán cũng khuyến khích cầu phong đối với nhà Thanh như một cách  
thức để củng cố vị thế quyền lực Đàng Trong (Trần 1960, 25). Năm 1702, Nguyễn  
Phúc Chu cử sứ phái đoàn sang Quảng Đông xin nhà Thanh công nhận (ĐNTL  
1977, I: 106). Trong đó có bức thư do Lê Quý Đôn dẫn lại:  
“Thần vâng mối thừa của tổ tông, mở mang đất đai ở ngoài biển lớn, kể đã lâu  
năm, cùng với các nước phương nam từ trước chưa từng lệ thuộc vào đâu. Đường  
sá xa xôi, đất đai nhỏ hẹp, chưa dám bày tỏ với thiên triều. Cha ông thần tin Phật,  
đời đời tu hành. Thầy thần là Quảng Đông Trường Thọ Am tăng nhân Thạch Liêm,  
những lúc giảng tụng kinh điển rảnh rang thường thuật chuyện Hoàng thượng là  
bậc thánh nhân văn võ, nhân đức như trời. Bọn Quảng Đông giám sinh Hoàng  
Thần, tăng nhân Hưng Triệt cũng đều xưng tụng Thiên triều thanh giáo, truyền  
tụng khắp phương xa, khiến càng thấy ân Hoàng đế mênh mông, nghểnh trông  
giáo hóa như trông ánh mặt trời mặt trăng, trộm mong được làm nước phụ dung,  
trên được vẻ vang cho việc thờ cúng tiên tổ dưới được rạng rỡ cho sự quan chiêm  
của dân chúng.” (Lê 1776, II: 176a).  
29  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
Dù các nỗ lực của Đàng Trong không được chấp nhận nhưng họ Nguyễn  
vẫn duy trì thư từ qua lại thường xuyên với chính quyền Quảng Đông (Lê 1776,  
II: 176a-178a). Sự gắn kết với các mạng lưới tôn giáo, thương mại và trao đổi học  
thuật với Trung Hoa được coi là công cụ giúp chính quyền Đàng Trong kết nối và  
tìm kiếm sự bảo trợ từ nhà Thanh. Đồng thời nó cũng cung cấp các mô hình và thể  
chế chính trị cho những người cầm quyền thiếu kinh nghiệm trên vùng đất non trẻ  
và mới xác lập.  
Bệ đỡ cho sự thực hành chính trị này là cách thức củng cố cấu trúc xã hội và  
quan hệ chính trị Đàng Trong. Chúng có thể được thực hiện bằng nhiều phương  
cách khác nhau, từ hôn nhân, viễn chinh quân sự, đồng hóa, thỏa hiệp, và trao đổi  
các lợi ích kinh tế. Bằng cách đó, các mạng lưới bên trong giúp củng cố sức mạnh  
của vùng đất này và định hình “đà lịch sử” của nó trong hai thế kỷ (chữ dùng của  
sử gia Nguyễn Phương). Hôn nhân như một cách thức để xác lập và củng cố mạng  
lưới. Chúng ta thấy rõ sự thực hành này đã diễn ra phổ biến ở Đàng Trong bởi  
nhiều chủ thể khác nhau, trong những không gian địa lý và các liên hệ cấu trúc đa  
dạng. Ở thời kỳ đỉnh cao của các thuyền Châu Ấn Nhật Bản, chúa Nguyễn Phúc  
Nguyên đã gả con gái của mình cho thương nhân Nhật Bản Araki Sotaro (1619)  
như là một nỗ lực kết nối với mạng lưới các thương nhân và Samurai Nhật Bản  
(Matsuda 2012, 89). Đồng thời, có lẽ đó cũng là cách thức nhằm tương tác hữu  
hiệu với thế giới hàng hải phía bắc, nơi chúng ta biết là nạn cướp biển đang ngày  
càng phát triển, đặc biệt là vào cuối thời Minh và đầu thời Thanh (Antony 2003;  
Chin 2014, 93-112; Dardess 2013, 89-138). Bản thân Nguyễn Phúc Nguyên cũng  
đã phải chỉ huy hạm đội đẩy lui một cuộc cướp phá như thế vào năm 1585 của  
Shirahama Kenchi (ĐNTL 1977, I: 24). Có ít nhất hai cuộc hôn nhân ngoại giao  
khác đã được thực hiện dưới thời vị chúa Nguyễn này. Ngoài cuộc hôn nhân với  
vua Campuchia Chey Chetta II (1620) được đề cập ở trên mà nhiều người cho là sự  
bảo trợ của bà công chúa Việt đã mở đầu cho cuộc di cư vào hạ lưu sông Mekong,  
còn có việc công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Khoa được gả cho vua Chăm Po Rome  
(khoảng 1627-51) (Wong Tze-Ken 2011, 246). Dù các sử liệu về sự kiện này cần  
phải khảo cứu thêm, nó cho thấy một khuynh hướng rõ ràng trong cách thức họ  
Nguyễn tìm cách mở rộng không gian của mình. Họ Mạc Hà Tiên dường như cũng  
sử dụng những cách thức tương tự khi thúc đẩy các cuộc hôn nhân với người Việt  
và kết thân với các nhóm người Hoa khác như một cách thức tìm kiếm và xây dựng  
cấu trúc trong không gian sinh tồn của mình (Vũ 1818, 11a).  
Trong khi các ý tưởng chính trị của Đàng Trong được lấy cảm hứng từ các  
mạng lưới phía bắc, thì sức mạnh để triển khai các ý tưởng này được kết nối từ các  
mạng lưới phương nam. Liên hệ với Đông Nam Á và phương Tây tạo ra các cơ  
chế xã hội năng động khác cho vùng đất này, đặc biệt là vai trò điều tiết khu vực  
30  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
và các ý đồ mở rộng không gian quyền lực. Đàng Trong không chỉ nằm ở trung  
tâm của đường biên Trung Hoa mà còn là điểm trung chuyển của vành đai khai  
khoáng thiếc trên bán đảo Malay và Bangka, nơi mà Reid gọi là đường biên khai  
mỏ (mining frontier) ở Đông Nam Á (Reid 2004, 24). Các hải cảng của vùng này  
có vai trò điều phối giữa mạng lưới Trung Hoa phía bắc và mạng lưới Malay và các  
nước Đông Nam Á lục địa ở phía nam. Barbara Andaya khi khảo sát về Sumatra và  
hoạt động thương mại của khu vực này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Hà Tiên  
và Đàng Trong trong giao thương với Đông Nam Á hải đảo, đặc biệt là các trung  
tâm hồ tiêu và thiếc trên duyên hải Sumatra, Bangka, Riau, và bán đảo Malay với  
miền nam Trung Hoa (Andaya 1993, 123, 191, 218, 219). Gạo từ hạ lưu Mekong  
được chở trên các thuyền của chúa Nguyễn đến Batavia (Li 1998b, 76). Trong khi  
các tư liệu khác cũng cho thấy vào giữa thế kỷ XVII, hàng năm có khoảng 4 thuyền  
từ Đàng Trong tiến hành buôn bán với Manila (Chaunu Pierre 1960, 60-62).  
Charlotte Phạm (2016) lập luận rằng duyên hải Đàng Trong là trung tâm  
của các tuyến đường biển từ nam Trung Hoa hay Nhật Bản xuống và từ vịnh Thái  
Lan, Malacca hay từ quần đảo Indonesia lên, vì nó cung cấp con đường an toàn  
nhất (Pham 2016, 101-2). Trong khi vùng hạ lưu Mekong cũng là không gian tự trị  
(autonomy) cuối cùng đứng bên ngoài không gian tập quyền giữa ba quyền lực có  
tham vọng ảnh hưởng và xác lập chủ quyền là Bangkok, Udong và Huế. Hai nhân  
tố này rõ ràng thúc đẩy các thương nhân phương Tây, những người muốn xác lập  
tại các đường biên và vị trí chiến lược trong khu vực, nơi giao thoa giữa các trung  
tâm thương mại Nhật Bản, Trung Hoa, Manila, Đàng Ngoài với thế giới Đông Nam  
Á. Không gian mở này còn là địa điểm lý tưởng của các nhà truyền giáo mà con số  
10% giáo dân nói trên là một minh chứng. Thương nhân phương Tây cũng có thể  
tiếp cận các nguồn tài nguyên phong phú từ rừng dọc theo một khu vực rộng lớn  
của dãy Trường Sơn kéo dài đến núi Đậu Khấu, cũng như tiếp cận thị trường Lào,  
Campuchia (Marini và Bertuccio 1998; Kersten 2003). Chính vì vị trí này mà sau  
nhiều lần khảo sát và thương lượng, cuối cùng người Anh đã thiết lập một thương  
điếm trên Côn Đảo (1702-1705) (Wong Tze-Ken 2012, 1103-8). Borri (1621) cũng  
mô tả về sự tương tác của Đàng Trong với thế giới bên ngoài:  
“Không cần phải lôi kéo, những người bên ngoài đã bị cám dỗ bởi nguồn lợi  
và sự thịnh vượng tràn ngập trên vùng đất này. Vì thế, họ đến đây không chỉ từ  
Đàng Ngoài, Campuchia, Quảng Đông, và các vùng đất lân cận khác, mà còn từ  
các vùng đất xa xôi nhất của Trung Hoa, Macao, Nhật Bản, Manila, Malacca; tất cả  
họ mang theo bạc đến Đàng Trong và đưa đi các hóa vật từ vùng đất này.  
“… Nhà vua của Đàng Trong cho phép tự do tiếp nhận người từ bất cứ quốc  
gia nào, người Hà Lan cũng tới với đủ loại hàng hóa…  
31  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (130) . 2016  
“Nhà vua (Đàng Trong) chứng tỏ rằng ông không sợ bất cứ nước nào trên thế  
giới, hoàn toàn trái ngược với vua Trung Hoa, ông này sợ tất cả, đóng cửa không  
cho người ngoại quốc vào và không cho phép buôn bán trong nước”. (Dror và  
Taylor 2006, 132, 133, 135).  
Sự kết nối với phương Tây và thế giới Đông Nam Á có tầm quan trọng đặc  
biệt trong việc định hình không chỉ khuynh hướng lãnh thổ của vùng đất này mà  
còn mang lại kỹ thuật quân sự, hàng hải, hải quân và sự đa dạng xã hội, tôn giáo  
(Mantienne 2003, 519-534; Vu n.d.). Sự gắn bó với phương Tây ở Đàng Trong là  
chặt chẽ hơn rất nhiều so với Đàng Ngoài và sẽ được tiếp tục duy trì cho đến khi  
Việt Nam được thống nhất năm 1802. Đây là một xu thế quan trọng góp phần vào  
sự năng động của các thực thể lịch sử Đàng Trong. Nó cũng góp phần lý giải vì sao  
sự thống nhất lãnh thổ Việt Nam đầu thế kỷ XIX lại được thực hiện từ Nam ra Bắc.  
Nếu so sánh Đàng Trong với Nhật Bản, Trung Quốc hay Đàng Ngoài, không  
một thể chế nào tiếp cận phương Tây theo cách thức tương tự. Nhật Bản đóng cửa  
và dùng vũ lực với Thiên Chúa giáo. Đàng Ngoài đã chấm dứt tuần trăng mật với  
phương Tây, đặc biệt là người Hà Lan khi họ thấy liên minh này không giúp ích  
cho các ý đồ quân sự ở phía nam (Hoàng 2007, 115-23). Dù Đàng Trong từng trải  
qua xung đột với người Hà Lan (1643), tấn công phá hủy thương điếm của Anh  
(1705), và cấm đạo (1690), thương nhân và giáo sĩ phương Tây luôn được chào  
đón. Vì thế Nola Cooke lập luận rằng cuộc cấm đạo năm 1690 là rất đặc biệt, vì  
nó không đi kèm theo đàn áp tôn giáo. Ngược lại, có một truyền thống lâu dài  
những người phương Tây tích cực can dự vào hệ thống xã hội và chính trị của  
vùng đất này. Họ đóng vai trò như các bác sĩ hoàng cung, như Bartolomeu da  
Costa (hay d’Acosta, 1629?-1695?), Giambattista Sanna (1682-1726), Sébastien  
(hay Etienne?), Pirès (đến Đàng Trong vào những năm 1720), Johann Siebert  
(1708-1745), Karl Slamenski (1708?-1746), Johann Koffler (1711-1785), và João  
de Loureiro (1710-1791); hay các nhà thiên văn học như Juan Antonio Arnedo  
(1660-1715), Francisco de Lima (1688-sau 1726), Josef Neügebauer (1706-1759),  
Francisco Xavier de Monteiro (?-1776), và Bento Ferreira (những năm 1750).  
Danh sách này sẽ kéo dài đến tận cuối thế kỷ XVIII với Pierre-Joseph Pigneaux de  
Béhaine (1741-1799), cố vấn quân sự, người tổ chức mạng lưới hậu cần, và nhà  
ngoại giao thay mặt Nguyễn Ánh giao thiệp với phương Tây (Duteil 1998, 283-  
97). Thậm chí trong những năm 1792-1793, ông này là người chịu trách nhiệm tổ  
chức mạng lưới sản xuất vũ khí, thuốc súng tại các công xưởng của chúa Nguyễn  
(John 1806, 273; Crawfurd 1967, 504-5).  
Vũ khí, kỹ thuật quân sự, và nhân lực từ sự liên hệ với phương Tây là sản  
phẩm đặc biệt giúp cho sự phát triển sức mạnh của Đàng Trong và hỗ trợ cho ý đồ  
chính trị của các chúa Nguyễn. Borri nói rằng từ các con tàu Bồ Đào Nha và Hà  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 31 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 18400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tái định vị xứ đàng trong trong không gian Đông Á và Đông Nam Á, thế kỷ xvi-xviii", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_dinh_vi_xu_dang_trong_trong_khong_gian_dong_a_va_dong_na.pdf