Hồ Chí Minh với vấn đề tự học

Mã số: 282  
Ngày nhận: 4/04/2016  
Ngày hoàn thành biên tập: 25/07/2016  
Ngày duyệt đăng: 3/8/2016  
HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ TỰ HỌC  
Đoàn Văn Khái1  
Tóm tắt  
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc  
Việt Nam. Sinh thời, Người đặc biệt quan tâm đến giáo dục - đào tạo, luôn chú trọng đến  
nội dung và phương pháp học tập. Đặc biệt Người coi tự học là phương thức quan trọng  
nhất để người học lĩnh hội tri thức. Người đã nêu ra những vấn đề có tính lý luận về tự học,  
nếu hệ thống hóa và khái quát lại, thì có thể nói đó là một hệ thống tương đối hoàn chỉnh về  
khái niệm, mục đích, nội dung, đối tượng, môi trường, nguyên tắc và phương pháp tự học.  
Không chỉ là một nhà lý luận về giáo dục, về tự học mà Hồ Chí Minh còn là hiện thân của  
một tấm gương sáng ngời về tự học và học suốt đời. Cả cuộc đời Người đã miệt mài tự học  
để trở thành một nhà chính trị uyên thâm trên nhiều lĩnh vực, được cả thế giới biết đến và  
ngợi ca.  
Từ khóa: Hồ Chí Minh, tự học, mục đích, nội dung, đối tượng, môi trường, nguyên tắc,  
phương pháp tự học  
Abstract  
President Ho Chi Minh is a genius leader of the Communist Party of Vietnam and  
Vietnamese people. When alive, he paid great attention to education and training,  
particularly to the content and learning methods. Especially, he considered self - study the  
most important way for learners to acquire knowledge. He raised the theoretical issues  
of self - study. If codified and recap, these theoretical issues can be a relatively complete  
system of concepts, objectives, content, audience, environment, principles and methods of  
self-study. Not just a theorist of education and self-study, Ho Chi Minh himself has been a  
1 PGS, TS, Trường Đại học Ngoại thương, email: [email protected]  
1
shining example of self-learning and lifelong learning. During his life, he had been  
studying hard to become a wisdom politician, who is internationally known and praised.  
Keywords: Hochiminh, selfstudy, objective, content, audience, environment, principles, met  
hods of self-study  
1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về khái niệm “tự học”  
Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng, đồng thời là nhà lý luận về giáo  
dục, về tự học. Trong quan niệm về tự học, Người định nghĩa “tự học”  
bằng một câu ngắn gọn, súc tích nhưng đầy tính tư tưởng: Tự học là “tự  
động học tập” (Hồ Chí Minh, 2011C, tr.360). Điều đặc biệt là mặc dù câu  
nói đó ra đời cách đây rất lâu nhưng lại rất phù hợp với quan điểm về tự  
học của giáo dục học hiện đại.  
“Tự động học tập” có nghĩa là việc học tập do chính bản thân người  
học quyết định, người học tự giác, tự chủ không cần sự nhắc nhở, giao  
nhiệm vụ của người khác, tự mình nhận thấy nhu cầu của bản thân để rồi từ  
đó tiến hành việc tự học. Hồ Chí Minh giải thích: “Tự động là không phải  
tựa vào ai, là tự mình biết biến báo xoay xở, tự mình biết thực hành công  
tác theo nhiều hình thức mới mẻ, phong phú” (Hồ Chí Minh, 2011A, tr.44).  
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, tự học là tự mình quản lý việc học tập, lĩnh  
hội tri thức của bản thân. Người học tự vạch ra kế hoạch học tập cho chính  
mình, kiên trì và nhẫn nại thực hiện kế hoạch đó một cách bài bản, sau đó  
người học tự kiểm tra đánh giá kết quả đã đạt được, rút kinh nghiệm cho  
bản thân mình.  
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm tự học có nhiều điểm tương  
đồng với quan niệm của giáo dục học hiện đại. Theo Từ điển Giáo dục học:  
“Tự học là một bộ phận không thể tách rời của quá trình giáo dục, là quá trình  
2
mà người học tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ  
năng thực hành mà không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản  
lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo. Đây là phương thức học tập cơ bản  
của giáo dục không chính quy, giáo dục thường xuyên, đồng thời còn là bộ  
phận không thể tách rời của quá trình học tập có hệ thống trong các trường  
học nhằm đào sâu, mở rộng để nắm vững kiến thức của học sinh” (Bùi Hiền,  
2001, tr.458). Như vậy, tự học là quá trình người học tự ý thức, tự nỗ lực  
chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình hướng tới mục đích nhất  
định. Nó còn là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ  
năng kỹ xảo của bản thân người học. Trong quá trình đó, người học thực sự  
là chủ thể của nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý nhằm đạt  
được những mục tiêu đã định.  
Cốt lõi của tự học là tự ý thức của bản thân người học; trong quá trình tự  
học, vấn đề quan trọng nhất là tự kiểm tra và đánh giá kết quả tự học. Bởi vì,  
nếu kiểm tra, đánh giá không đúng sẽ dẫn đến tình trạng ảo tưởng về năng lực  
hay tình trạng tự ti, không tin tưởng vào khả năng tự học, tự nghiên cứu của chủ  
thể tự học. Tự đánh giá chính xác sẽ giúp người học thấy rõ mặt ưu, khuyết  
điểm của chính bản thân mình, thấy rõ những nội dung cần phải bổ sung và từ  
đó tiếp tục hoạt động tự học hiệu quả hơn. Thông qua tự kiểm tra đánh giá,  
năng lực tự học của người học ngày càng phát triển và hoàn thiện như chính  
quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong của bản thân người học. Tự đánh giá  
chỉ có thể trở thành động lực thúc đẩy tự học phát triển khi người tự đánh giá  
(chủ thể của tự học) có thái độ khách quan, trung thực với kết quả mà mình đã  
đạt được.  
Tóm lại, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự học là quá trình người học chủ  
động, tự giác tiến hành hoạt động học của mình. Quá trình đó có thể diễn ra  
dưới yêu cầu của công việc, nhiệm vụ cách mạng hoặc diễn ra do chính nhu cầu  
3
hiểu biết của bản thân người học. Cốt lõi của tự học là tự ý thức của chủ thể tự  
học. Vấn đề quan trọng nhất của tự học là người học tự kiểm tra, tự đánh giá  
khách quan, trung thực kết quả tự học của bản thân. Có thể nói, tự học là bộ  
phận không thể tách rời của hoạt động giáo dục, là con đường để biến quá trình  
giáo dục thành quá trình tự giáo dục.  
2. Quan niệm về mục đích, động cơ tự học  
Để tự học thành công, theo Hồ Chí Minh thì việc xác định mục đích,  
động cơ tự học đúng đắn có tầm quan trọng hàng đầu. Mục đích chung của  
việc học tập được Hồ Chí Minh đề cập tương đối toàn diện trong lời ghi ở trang  
đầu cuốn Sổ vàng tại Trường Nguyễn Ái Quốc trung ương (nay là Học viện  
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) vào tháng 9 năm 1949:  
“Học để làm việc,  
làm người,  
làm cán bộ.  
Học để phụng sự Đoàn thể,  
giai cấp và nhân dân,  
Tổ quốc và nhân loại.” (Hồ Chí Minh, 2011C, tr.208).  
Có thể nói, mục đích của tự học không nằm ngoài mục đích chung cao cả  
và lớn lao đó. Tuy nhiên trong khi bàn về tự học, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng  
định tự học có mục đích riêng nhằm thực hiện mục tiêu chung của việc học tập.  
Trước hết, Người khẳng định mục đích của tự học là nhằm nâng cao sự  
hiểu biết của bản thân mình để phát triển và hoàn thiện nhân cách. Theo Hồ Chí  
Minh, tri thức của nhân loại là vô cùng vô tận, vì vậy việc học hỏi là vô cùng.  
Trên hành trình tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc, không có nhiều điều  
kiện để học tập chính quy, Hồ Chí Minh phải tiến hành tự học để nâng cao hiểu  
biết của mình. Người quan niệm “học hỏi là vô cùng”, và theo Người, để có một  
trình độ hiểu biết uyên thâm thì nhất định phải tiến hành tự học. Thông qua tự  
4
học, hiểu biết của người học ngày càng được nâng cao. Nội dung của tự học  
phong phú và đa dạng, do vậy tự học làm cho kiến thức của người học không  
những được nâng cao mà còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách.  
Người cho rằng “học tập để phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm” (Hồ Chí  
Minh, 2011D, tr.143) hay “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ  
mãi” (Hồ Chí Minh, 2011F, tr.602). Tự học trước hết có mục đích là thúc đẩy và  
nâng cao tầm hiểu biết của bản thân người học, đồng thời nó cũng là một trong  
những nhân tố góp phần thúc đẩy việc hình thành và phát triển nhân cách .  
Thứ hai, tự học để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Thông qua quá trình tự  
học, Hồ Chí Minh cho rằng tầm hiểu biết của cá nhân không những được nâng  
cao mà năng lực của người học cũng ngày càng được trau dồi. Thực tế Hồ Chí  
Minh không có nhiều thời gian học chính quy về chính trị nhưng bản thân  
Người là một nhà chính trị kiệt xuất; chưa từng học ở trường dạy viết báo  
nhưng Người là một nhà báo thiên tài. Để đạt được những trình độ như vậy, Hồ  
Chí Minh đều nhờ vào quá trình tự học, thông qua quá trình rèn luyện kỹ năng,  
năng lực của cá nhân ngày càng hoàn thiện. Sau này, Người nhiều lần khẳng  
định tự học góp phần rất lớn trong việc trau dồi năng lực của cá nhân, từ đó  
hướng tới mục đích cao nhất của việc tự học là phục vụ sự nghiệp cách mạng,  
phục vụ công cuộc giành độc lập, tự do và xây dựng đất nước. “Mục đích học  
là để làm kinh tế, chính trị, văn hóa đều tiến bộ, các dân tộc đều đoàn kết với  
nhau. Học để làm gì nữa? Để xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minh,  
2011H, tr.270).  
Sự khổ công tự học tập, chịu đựng gian khổ của Người đều nhằm  
mục đích như Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho  
quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp  
nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục  
đích đó” (Hồ Chí Minh, 2011A, tr.272). Làm cách mạng giải phóng dân tộc  
5
chính là mục đích của tự học trong tư tưởng Hồ Chí Minh; sự nghiệp cách  
mạng của dân tộc chính là trường học lớn của Người để Người hoàn thiện,  
trau dồi kỹ năng phục vụ cách mạng.  
Thứ ba, tự học để khẳng định mình. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh,  
giải phóng con người là mục tiêu cao nhất. Để giải phóng con người trước  
hết phải hình thành ở con người năng lực làm chủ và khả năng tự giải  
phóng. Năng lực làm chủ chính là khả năng tự khẳng định bản thân mình  
trong các mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và với chính mình. Theo Người,  
tự học là một biểu hiện sinh động của ý thức tự chủ; thông qua tự học,  
người học khẳng định được giá trị của mình. Tự học chính là tự chủ vì “ý  
thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động mà còn  
phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực  
làm chủ của mình” (Hồ Chí Minh, 2011G, tr.527). Bằng say mê tự học, tự  
nghiên cứu, người học có được sự hiểu biết về tự nhiên và xã hội, từ đó có  
những hoạt động thích hợp đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, khẳng định giá  
trị của bản thân người học. Ý nghĩa nhân văn, quyền con người nằm ngay  
trong quan điểm phát huy tính chủ thể ở người học. Muốn vậy, mỗi người  
phải biết không ngừng tự học, tự đào tạo, tự khẳng định mình. Tư tưởng đó  
rất gần với tư tưởng giáo dục hiện đại ngày nay: học để biết, học để làm,  
học để chung sống, học để khẳng định mình.  
3. Về môi trường, đối tượng tự học  
3.1. Môi trường tự học  
Về môi trường tự học, theo Hồ Chí Minh là phải triệt để tận dụng mọi hoàn  
cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học. Người thường đặt câu hỏi: Học ở  
đâu? và khẳng định: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân  
dân...” (Hồ Chí Minh, 2011C, tr.361) hay “Học trong xã hội, học nơi công tác thực  
6
tế, học ở quần chúng” ( Hồ Chí Minh, 2011C, tr.163). Đó chính là môi trường toàn  
diện cho việc tự học.  
Có thể nói, Hồ Chí Minh đạt được những thành công to lớn trong tự học  
chính là nhờ việc Người rất chú tâm tích lũy cho mình một vốn sống, những  
kinh nghiệm phong phú trong thực tiễn đấu tranh, thực tiễn đời sống của giai  
cấp công nhân và của nhân dân các nước thuộc địa, đồng thời cũng nhờ những  
ngày miệt mài với sách báo, mà phương tiện tốt nhất là dựa vào thư viện. Bác  
đã triệt để sử dụng thư viện để làm giàu vốn kiến thức của mình, để trang bị  
cho mình một trình độ lý luận sắc bén nhằm giải đáp những vấn đề mà thực  
tiễn cách mạng đặt ra.  
Trong quá trình tự học, ngoài thư viện, Hồ Chí Minh còn triệt để tận  
dụng những câu lạc bộ, các sách báo, các bài nói chuyện, các buổi hội thảo,  
các viện bảo tàng…; đồng thời tự mình tạo ra các hình thức học tập mới, sinh  
động và bổ ích như: tranh thủ sự giúp đỡ, sự hướng dẫn chỉ bảo của người  
khác, học trong khi giao tiếp, học trong công tác vận động quần chúng mà  
Người gọi là “học trong nhân dân”. Người chỉ rõ: “không học nhân dân là một  
thiếu sót lớn” (Hồ Chí Minh, 2011C, tr.361). Trong suốt những năm tháng  
hoạt động cách mạng và tự học của mình, Hồ Chí Minh đã học ở nhân dân rất  
nhiều.  
Như vậy, để tự học có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh cần có một môi  
trường tự học mà ở đó người học có thể tận dụng mọi điều kiện, mọi hoàn  
cảnh, mọi phương tiện để tiến hành tự học. Phải tìm ra cách học tập mới sinh  
động và hứng thú. Quan điểm này hoàn toàn trùng hợp với triết lý giáo dục  
toàn diện của xã hội hiện đại - điều mà Hồ Chí Minh đã nói và làm suốt từ đầu  
thế kỷ XX.  
3.2. Đối tượng tự học  
7
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định tự học là yêu cầu đối với tất cả  
mọi người, không phân biệt già trẻ, trai gái, nghề nghiệp. Bởi lẽ, tri thức nhân  
loại thì vô cùng vô hạn và ngày càng phát triển, nếu tự bản thân mỗi người  
không tự học, không tự trau dồi kiến thức thì sớm muộn cũng bị lạc hậu và  
thoái bộ. Người nói: “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng  
tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự  
mình đào thải mình” (Hồ Chí Minh, 2011G, tr.333). Điểm đặc sắc của Hồ Chí  
Minh khi xác định chủ thể tự học ở đây chính là tất cả mọi người, không chỉ  
đối với những người đang trực tiếp giảng dạy, học tập, không chỉ đối với thế  
hệ trẻ mà là tất cả mọi tầng lớp, giới tính, tuổi tác, chức vụ,... đều phải ra sức  
tự học tập, tự đào tạo. Tư tưởng này cũng trùng hợp với quan điểm ngày nay  
là : Xây dựng xã hội học tập, học tập cho mọi người và học suốt đời.  
Theo Hồ Chí Minh, tự học là yêu cầu, là nhiệm vụ của tất cả mọi người,  
không loại trừ một đối tượng nào. Bởi lẽ, thế giới luôn luôn vận động và ngày  
càng đổi mới, tri thức nhân loại ngày càng phong phú, khoa học kỹ thuật ngày  
càng phát triển,... Tất cả tiến bộ rất nhanh, những ai không muốn mình bị đào  
thải, bị đẩy ra khỏi guồng quay ấy thì phải học hỏi không ngừng. Hồ Chí Minh  
nhấn mạnh: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ,  
càng thấy càng phải học thêm” (Hồ Chí Minh, 2011C, tr.61).  
4. Về nội dung tự học  
Để có thể phát triển một cách toàn diện, có được một vốn tri thức phong  
phú, Hồ Chí Minh yêu cầu phải tự học tất cả các lĩnh vực, cả chuyên môn  
nghiệp vụ lẫn lý luận, đạo đức. Người nhấn mạnh: “Trong việc giáo dục, học  
tập, chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ cách mạng xã hội chủ  
nghĩa, văn hóa, kinh tế, lao động và sản xuất. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội  
thì nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật” (Hồ  
Chí Minh, 2011H, tr.90).  
8
Giáo dục, học tập lý luận Mác - Lênin theo Hồ Chí Minh không phải giáo  
điều theo từng câu chữ mà là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi  
người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa  
Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”  
(Hồ Chí Minh, 2011F, tr.611).  
Đạo đức cách mạng là một nội dung tự giáo dục được Hồ Chí Minh đặc  
biệt quan tâm. Đó là thứ đạo đức trong hành động, chứ không thể tách rời giữa  
đức với tài một cách siêu hình. Hồ Chí Minh yêu cầu việc tự tu dưỡng, tự học  
tập đạo đức cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục như trong  
công tác hàng ngày, bởi lẽ “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống.  
Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng  
như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh,  
2011F, tr.612).  
Trong nội dung học tập toàn diện, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc đến  
sự kết hợp chặt chẽ giữa “học làm tính, học chính trị, học lịch sử, học khoa  
học thường thức” (Hồ Chí Minh, 2011B, tr.469). Người cho rằng : “Nếu  
không học tập văn hoá, không có trình độ văn hoá thì không học tập được kỹ  
thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế  
nước nhà; nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hoá, kỹ thuật  
mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi” (Hồ Chí Minh, 2011E,  
tr.384)  
Việc học tập các kinh nghiệm thực tế cũng được Hồ Chí Minh hết sức  
chú trọng. Theo Người, kinh nghiệm là những tri thức rất quý, cần được khai  
thác,“đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm  
thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Những kinh nghiệm đó đem trao  
đổi, gom góp lại tức là những bài học quý, không phải cứ chờ đồng chí cấp  
trên đến nói chuyện thì mới là bài, là học” (Hồ Chí Minh, 2011C, tr.360).  
9
Có thể nói, hơn ai hết, Hồ Chí Minh là một minh chứng điển hình, cụ thể  
về tự học tất cả các lĩnh vực: tự học ngoại ngữ, tự học viết thơ, viết văn, viết báo,  
tự học cách tổ chức cuộc sống theo khoa học, tự học lý luận, tự học chính trị,  
quân sự, tự học triết học, tự học ngoại giao, tự học quan hệ quần chúng,… Kết  
quả là lĩnh vực nào Hồ Chí Minh cũng thông thạo, và Người trở thành Anh hùng  
giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất.  
5. Về nguyên tắc, phương pháp tự học  
5.1. Lao động để tạo điều kiện cho việc tự học  
Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của quá trình tự học: Học để phục  
vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Muốn hoạt động cách mạng  
thì phải không ngừng học và tự học. Điều kiện của tự học chính là lao động.  
Đối với Hồ Chí Minh, muốn tự học hiệu quả thì cần phải có phương pháp  
tự học hợp lý, phải biết lao động sản xuất để tạo điều kiện cho việc tự học.  
Không phải ai cũng có điều kiện tự học thuận lợi, nhất là đối với người hoạt  
động cách mạng. Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi nhiều hy sinh, thử thách to lớn,  
cũng đòi hỏi người cách mạng phải có kiến thức, có trí tuệ, có phương pháp đúng  
đắn. Muốn vậy, người cách mạng phải không ngừng tự học, tự trau dồi, tự làm  
giàu tri thức của mình bằng vốn tri thức phong phú của nhân loại. Nói chuyện  
với giáo viên, học sinh Trường Thanh niên xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh bộc  
bạch: “Trước đây lúc tuổi thanh niên, Bác hoạt động ở Pháp, cũng vừa lao động,  
vừa học tập, nhưng lúc đó lao động là lao động nô lệ cho đế quốc. Bác phải làm  
thế để tự kiếm sống, nhưng vẫn dành thì giờ để học tập, ngày lao động, đêm học  
tập, chứ Bác không được đến trường học đâu. Vì vậy, Bác khuyên các cháu lao  
động tốt để trở thành người lao động xã hội chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011H,  
tr.437).  
Bản thân Hồ Chí Minh luôn coi lao động là điều kiện cho việc tự học.  
Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy Người đã  
10  
đi rất nhiều nơi, làm rất nhiều việc, nhiều nghề, và ở đâu Người cũng vừa làm,  
vừa tự học.  
5.2. Có kế hoạch tự học hợp lý, kiên trì, bền bỉ, sáng tạo  
Tự học là quá trình lâu dài, tự học suốt đời, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ,  
nỗ lực của người học. Để tự học thành công phải có kế hoạch, đồng thời phải  
kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.  
Đối với Hồ Chí Minh, muốn tự học thành công phải có kế hoạch, phải  
sắp xếp thời gian học tập khoa học, phải bền bỉ kiên trì thực hiện kế hoạch đến  
cùng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sắp xếp  
thời gian và bài học... phải cho khéo, phải có mạch lạc với nhau, mà không  
xung đột với nhau” (Hồ Chí Minh, 2011B, tr.312). Người yêu cầu: học phải  
có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, “phải tự nguyện, tự  
giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng  
phải hoàn thành cho được” (Hồ Chí Minh, 2011F, tr.98).  
Với một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, Hồ Chí Minh phải vừa kiếm sống,  
vừa hoạt động cách mạng, vừa tự học nhưng Người luôn đặt kế hoạch học tập  
và tìm mọi cách thực hiện đúng kế hoạch đặt ra.  
Thành công lớn trong việc tự học của Hồ Chí Minh là nhờ tích lũy cho  
mình được vốn sống, kinh nghiệm phong phú trong thực tiễn đấu tranh, thực  
tiễn đời sống của nhân dân lao động thế giới. Sự thành công của Hồ Chí Minh  
trong việc tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đề ra các  
chiến lược, sách lược đấu tranh cách mạng đúng đắn ở một nước thuộc địa  
nửa phong kiến, là kết quả của cả một quá trình tự học bền bỉ, gian khổ trong  
suốt quá trình đấu tranh cách mạng kiên cường. Người đã tổng kết những kinh  
nghiệm quý báu về tự học suốt đời và đã để lại cho chúng ta những bài học vô  
giá.  
5.3. Tự học mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi phương tiện, mọi hình thức  
11  
Anhxtanh - nhà khoa học lớn của thế kỷ XX đã từng khẳng định: "Ai  
không còn tò mò người đó sẽ chết", V.I.Lênin sau này cũng nói: "Học, học  
nữa, học mãi".  
Nhận thức được tầm quan trọng của tri thức đối với sự phát triển của  
mỗi con người, mỗi dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn chúng ta trong  
mọi hoạt động cách mạng đều có thể và đều cần phải học tập, “còn sống thì  
còn phải học”. Và chính Người là một tấm gương lớn về tinh thần học tập  
thường xuyên mọi lúc mọi nơi trong suốt quá trình sống và hoạt động cách  
mạng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù sống trong lao tù, nơi con người chỉ  
mong được tồn tại thì Người vẫn bằng nghị lực của mình tự học tập để nâng  
cao tri thức, vun đắp ý chí cách mạng để cứu nước cứu dân.  
Theo Hồ Chí Minh, tự học là một dòng chảy liên tục, phát triển  
không ngừng, người học không được để cho nó gián đoạn, không ngắt  
quãng, dù công việc cuộc sống có bộn bề đến đâu. Sau này dù bận trăm  
công nghìn việc ở cương vị đứng đầu nhà nước ta, Người vẫn thường xuyên  
tự học, tự bồi dưỡng, bổ sung tri thức cho bản thân, là một tấm gương sáng  
về tiếp thu và sáng tạo tri thức.  
Trả lời cho câu hỏi: Học ở đâu?, Người đã nói: “học ở trường, học ở  
sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân...” (Hồ chí Minh, 2011C, tr.36), tức là  
ở bất kỳ nơi đâu mọi người cũng có thể tự học. Không phải chỉ học ở trường  
lớp mà con người phải học trong lao động, trong công tác thực tiễn, không chỉ  
học ở thầy giáo mà còn học ở những người khác với thái độ kiên trì, bền bỉ  
tiếp thu mọi nguồn tri thức có thể để hoạt động một cách hiệu quả.  
Tri thức có ở rất nhiều nguồn khác nhau nhưng theo Hồ Chí Minh, trước  
hết người học phải biết “học ở sách vở”. Mặt khác, cuộc sống luôn là một kho  
tàng tri thức vô tận. vì thế, Người đã dạy: “Ngoài cách học ở trường, ở lớp,  
học trên sách, báo…,có một cách học rất tốt ai cũng có thể tham gia hằng  
12  
ngày. Đó là cách học tập ngay trong sản xuất, học tập những người, những tổ,  
những đơn vị tiên tiến” (Hồ Chí Minh, 2011G, tr.528). Và chính Người đã  
luôn coi cuộc sống là trường học lớn của mình. Từ khi còn là một thiếu niên,  
Nguyễn Tất Thành đã chú ý quan sát những sự việc ở ngoài đời và trong đầu  
luôn có nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc muốn được hiểu tường tận đến ngọn  
nguồn. Sau này, trên hành trình tìm đường cứu nước, từ Sài Gòn qua Pháp,  
qua châu Phi rồi sang Mỹ, sang Anh…, Nguyễn Tất Thành đã học được rất  
nhiều điều trong cuộc sống và rút ra được những kết luận quan trọng đầu tiên  
về bạn và thù, về cuộc sống của nhân dân ở các nước thuộc địa, về bản chất  
của chủ nghĩa đế quốc, v,v..  
Thứ nữa là học ở bạn bè, ở đồng nghiệp, “học lẫn nhau”. Ông cha ta đã  
đúc kết “học thầy không tày học bạn”. Hồ Chí Minh cho rằng một người phải  
biết học ở nhiều người, hơn nữa phải làm cho món ăn tinh thần phong phú,  
không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi, cũng như vào vườn hoa  
cần cho mọi người được thấy nhiều hoa đẹp. Người lấy đó để nhắc nhở cán bộ  
đảng viên không được tự cao, tự đại, cho mình là tài giỏi hơn mọi người, trái  
lại phải học hỏi điều hay, điều tốt ở mọi người.  
Hồ Chí Minh không những triệt để tận dụng những tổ chức, hoạt động có  
sẵn trong xã hội như thư viện, câu lạc bộ, sách báo, các buổi nói chuyện, hội  
thảo, viện bảo tàng…, mà còn tự tạo ra những hình thức học tập mới, sinh động  
và bổ ích, như tranh thủ sự giúp đỡ chỉ bảo của người khác, học trong khi đi giao  
thiệp, trong vận động quần chúng mà Người gọi là học trong nhân dân. Người  
kết luận: “không học nhân dân là một thiếu sót lớn” (Hồ Chí Minh, 2011C,  
tr.361).  
5.4. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn  
Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản  
trong hoạt động nhận thức và thực tiễn theo quan điểm của Triết học Mác -  
13  
Lênin, cũng là phương châm sống và hoạt động của Hồ Chí Minh. Ở đâu, việc  
gì, lời nói và việc làm của Người luôn thống nhất và gắn kết với nhau chặt  
chẽ.  
Chúng ta đều biết lý luận được khái quát từ thực tiễn, trên nền tảng thực  
tiễn, không có thực tiễn cách mạng thì không có lý luận cách mạng; ngược lại,  
không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Hồ Chí Minh  
đã chỉ rõ: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù  
quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” (Hồ Chí  
Minh, 2011F, tr.95). Ở Người, nói đi đôi với làm, nói với làm là một. Trong  
tất cả các công việc, Hồ Chí Minh luôn lấy lý luận để soi rọi vào thực tiễn, và  
từ thực tiễn khái quát thành lý luận. Lý luận được Hồ Chí Minh diễn đạt rất  
trong sáng, giản dị, cô đọng, hàm súc, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm và rất gần gũi  
với thực tiễn. Ngôn từ của Người đạt tới sự gặp gỡ, gần gũi giữa người nói với  
người nghe, người viết và người đọc, giữa lãnh tụ và quần chúng. Hồ Chí  
Minh không viết nhiều, không hay nói dài mà lại làm nên sự nghiệp lớn lao là  
vì, Người nói ít mà mọi người hiểu nhiều, nói ít mà mọi người nghe nhiều, tin  
nhiều, chỉ một lời vắn tắt dễ hiểu đã đi vào trái tim, khối óc cuả quần chúng,  
biến thành sức mạnh phi thường. Phương pháp Hồ Chí Minh là đi vào thực  
tiễn, qua hoạt động thực tiễn đúc kết thành kinh nghiệm, từ đó nâng lên thành  
lý luận.  
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa học và hành được  
Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh. Người chỉ rõ: “Lý luận như cái kim chỉ nam,  
nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì  
lúng túng như nhắm mắt mà đi” (Hồ Chí Minh, 2011B, tr.273-274). Lý luận phải  
đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên  
(hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn,  
hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Người nhấn mạnh: ”Lý luận cốt để  
14  
áp dụng vào công việc thực tế... Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như  
một mắt sáng, một mắt mờ” (Hồ Chí Minh, 2011B, tr.274).  
Có thể khẳng định trong tư tưởng tự học Hồ Chí Minh, học đi đôi với  
hành, lý luận gắn với thực tiễn, học tập kết hợp với lao động sản xuất là một  
phương châm căn bản, vừa là nguyên tắc, vừa là phương pháp tự học, đó cũng  
chính là phương châm của nền giáo dục Việt Nam.  
Tóm lại, sức sống của di sản Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở những tác  
phẩm, bài viết, tư tưởng, phong cách mà hơn hết là ở tấm gương mẫu mực của  
Người. Cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về tự học, tự  
nghiên cứu. Có thể thấy tấm gương tự học Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trên  
ba khía cạnh cơ bản là: Tấm gương về ý chí tự học, tấm gương về phương  
pháp tự học và tấm gương về tự học suốt đời.  
Ngày nay, khi loài người đang tiến tới nền kinh tế tri thức, tự học là một  
yêu cầu cấp thiết không chỉ đối với mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc, mà còn  
là đòi hỏi tất yếu của thời đại. Học để biết, học để làm, học để cùng chung  
sống, học để tự khẳng định mình là mục tiêu được UNESCO đặt ra cho các  
nền giáo dục thế kỷ XXI. Theo đó, học gắn liền với tự học trở thành con  
đường cơ bản và tất yếu để mỗi người làm giàu tri thức và kỹ năng của chính  
mình. Những từ “tự học”, “tự giáo dục”, “tự nghiên cứu” giờ đây đã trở thành  
nguyên lý cơ bản của tư tưởng giáo dục hiện đại, đặc biệt ở những nước phát  
triển. Nước Nga đề cao nguyên lý tự mình, coi trọng kinh nghiệm và vốn sống  
của người học sinh. Ở Mỹ giương cao khẩu hiệu: Mục đích cuối cùng phải đạt  
được của giáo dục là học sinh biết tự học. Và giáo dục hiện đại đã thay đổi  
định nghĩa dạy học cũ bằng các mệnh đề “dạy học là dạy tự học”, “học là tự  
học”. Điều này rất tương đồng với nhiều quan điểm mà Hồ Chí Minh đã đưa  
ra cách đây mấy chục năm; những quan điểm về tự học của Người có giá trị  
cả về lý luận và thực tiễn, rất cần được chúng ta suy ngẫm và vận dụng.  
15  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ văn Tảo, 2001, Từ  
điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.  
2.Hồ Chí Minh , 2011A, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG - ST, Hà Nội.  
3. Hồ Chí Minh , 2011B, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG - ST, Hà Nội.  
4. Hồ Chí Minh , 2011C, Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG - ST, Hà Nội.  
5. Hồ Chí Minh , 2011D, Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG - ST, Hà Nội.  
6. Hồ Chí Minh , 2011E, Toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG - ST, Hà Nội.  
7. Hồ Chí Minh , 2011F, Toàn tập, Tập 11, Nxb CTQG – ST, Hà Nội.  
8. Hồ Chí Minh , 2011G, Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG - ST, Hà Nội.  
9. Hồ Chí Minh , 2011H, Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG – ST, Hà Nội.  
16  
pdf 16 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 13160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hồ Chí Minh với vấn đề tự học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfho_chi_minh_voi_van_de_tu_hoc.pdf