Về kết cấu kép ở trung tâm của truyền thuyết hệ thần liễu hạnh qua khảo sát thần tích đệ tam tiên chúa được phụng thờ ở Nga Sơn và Nghĩa Hưng

15  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
VỀ KẾT CẤU KÉP Ở TRUNG TÂM CỦA  
TRUYỀN THUYẾT HỆ THẦN LIỄU HẠNH QUA  
KHẢO SÁT THẦN TÍCH ĐỆ TAM TIÊN CHÚA  
ĐƯỢC PHỤNG THỜ Ở NGA SƠN VÀ NGHĨA HƯNG  
Chu Xuân Giao*  
Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế vu Vân Cát vu Nga Sơn, ngũ bách dư niên  
quang thực lục.  
(Một vế trong câu đối dâng Phủ Tiên Hương vào năm 1853 của Tổng đốc  
Thanh Hóa Lê Hy Vĩnh; cũng được chép trong sách Cát thiên tam thế thực lục bản  
in khắc gỗ năm 1913).  
Sinh hóa suốt ba phen, trinh hiếu gương treo miền quận Bắc,  
Tinh thần năm trăm lẻ, anh linh bóng rọi chốn thành Nam.  
(Câu đối viết bằng chữ Nôm của Hội Đào Chi ở Huế khắc ở lăng mẫu Liễu  
Hạnh tại Phủ Giầy - vào năm 1938, khi hội hoàn tất việc xây dựng lăng. Tương  
truyền lăng mẫu có liên quan tới việc cầu tự của vua Bảo Đại triều Nguyễn).  
Lời mở: Đi về giữa hai miền Nga Sơn và Nghĩa Hưng  
Hai địa danh “Nga Sơn” (Thanh Hóa) và “Nghĩa Hưng” (Nam Định), trong  
các nghiên cứu mới gần đây, được chỉ ra là hai vùng đất cơ bản trong hệ thống  
truyền thuyết tam thế luân hồi (hay tam độ hóa sinh, tam thế giáng sinh) của Mẫu  
Liễu (Bà chúa Liễu Hạnh, chúa Liễu, công chúa Liễu Hạnh). Nghĩa Hưng 義興 là  
“phủ Nghĩa Hưng” thuộc trấn Sơn Nam (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay). Nga Sơn  
峩山 là “huyện Nga Sơn” thuộc phủ Hà Trung tỉnh Thanh Hóa.  
Nghĩa Hưng ở vùng Sông Đáy, gắn với hai lần giáng sinh đầu trong truyền  
thuyết. Lần thứ nhất là xuống làng Vỉ Nhuế ở huyện Đại An (nay quen gọi là Phủ  
Nấp ở huyện Ý Yên). Lần thứ hai là xuống làng Vân Cát ở huyện Thiên Bản (nay  
quen gọi là Phủ Giầy/Dầy ở huyện Vụ Bản). Về mặt hành chính thì hai huyện Đại  
An và Thiên Bản vốn đều nằm trong cùng một phủ Nghĩa Hưng.(1) Nghĩa Hưng là  
một địa danh quen thuộc, thường xuất hiện trong dòng thơ quốc âm hay trong văn  
chầu liên quan đến sự tích Mẫu Liễu giáng trần, khi là “miền Nghĩa Hưng” (trong  
sách Cát thiên tam thế thực lục), khi là “phủ Nghĩa Hưng” hay “Nghĩa Hưng -  
Thiên Bản” (trong sách Chư vị văn chầu). (2)  
*
Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.  
16  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Còn Nga Sơn ở vùng Sông Lèn (một trong ba nhánh chính ở phía bắc của  
Sông Mã trước khi đổ ra biển(3)), dù gắn với lần giáng sinh thứ ba của thánh mẫu,  
thì ngày nay là một cái tên chưa quen, thậm chí có thể còn là xa lạ ngay cả với tín  
đồ của tín ngưỡng tứ phủ. Một cái tên đã bị lãng quên.  
Nga Sơn là địa danh cấp huyện, vốn từng xuất hiện không ít lần trong cặp ba  
Vỉ Nhuế - Vân Cát - Nga Sơn trên hệ thống hoành phi câu đối do các văn nhân của  
thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX dâng tiến đền phủ thuộc miền Nghĩa Hưng. Chẳng  
hạn, như thấy trong một lời đề từ của bài viết này, là ở câu đối dâng năm 1853 cho  
Phủ Tiên Hương của ông quan Lê Hy Vĩnh - lúc đó đương là Tổng đốc Thanh Hóa  
[Chu Xuân Giao 2010: 110-111, 128-129]. Còn địa danh trực tiếp, nơi giáng sinh,  
là làng/xã Tây Mỗ hay Tây Mụ 西姥 thuộc tổng Phi Lai huyện Nga Sơn (có khi là  
huyện Tống Sơn, do thay đổi địa lý) phủ Hà Trung trước đây. Tây Mỗ nay là thôn  
Bùi Sơn xã Hà Thái huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. Làng Tây Mỗ xưa và thôn  
Bùi Sơn ngày nay cũng như những nơi lưu dấu chân tích của Mẫu Liễu, vừa là một  
nơi phong cảnh hữu tình, có đồng ruộng màu mỡ được bao quanh bởi đồi núi thoai  
thoải và sông hồ lớn, lại vừa tiện giao thông (rất gần quốc lộ 1A và tuyến đường  
sắt bắc nam, chỉ cách huyện lỵ Hà Trung khoảng bốn cây số).(4)  
Khởi phát từ gợi ý, rồi trở thành thôi thúc, của những tư liệu liên quan đan  
chéo nhau hiện còn thấy tại Nghĩa Hưng (ở cả Phủ Nấp với lần giáng sinh thứ nhất,  
và Phủ Giầy với lần giáng sinh thứ hai), chúng tôi bắt đầu đến Nga Sơn từ tháng 4  
năm 2011.(5) Thế rồi, kết quả điều tra điền dã tại làng Tây Mỗ vốn có ngôi Phủ Tây  
Mỗ (hay Phủ Mỗ) bề thế, và mở rộng ra cả vùng huyện Nga Sơn trước đây, lại đưa  
chúng tôi đi ngược ra Nghĩa Hưng. Qua tư liệu xác thực và nhiều cuộc phỏng vấn  
trực tiếp, lần đầu tiên, chúng tôi đã phát hiện ra mối liên đới đặc biệt giữa Phủ Tây  
Mỗ ở Nga Sơn với Phủ Giáp Ba ở Nghĩa Hưng.  
Phủ Giáp Ba thuộc xã Bảo Ngũ tổng Bảo Ngũ huyện Thiên Bản/Vụ Bản  
trước đây (nay thuộc xóm Phủ thôn Giáp Ba xã Quang Trung huyện Vụ Bản tỉnh  
Nam Định), vốn là một ngôi phủ lớn nằm ngay bên cạnh Phủ Giầy. Cuộc đời trần  
thế của thánh mẫu ở lần giáng sinh thứ ba, hay của Đệ tam tiên thánh Hoàng thị  
Quế Hoa công chúa (sau là Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung Quế Anh phu nhân), gắn  
kết hai nơi cách xa như vậy lại với nhau: Tây Mỗ (Thanh Hóa) là nơi giáng sinh  
vào gia đình họ Hoàng; còn Giáp Ba (Nam Định) vừa là quê của phu quân mang họ  
Mai, vừa là nơi thánh mẫu hóa (vào ngày 9 tháng 3 âm lịch, đến nay còn lăng mộ).  
Đặc biệt, tuy từ rất lâu giữa hai bên không còn có giao lưu hay thông tin về nhau  
nữa, nhưng hiện tại, họ Hoàng ở Tây Mỗ và họ Mai ở Giáp Ba đều đang đồng thời  
lưu được hai cuốn phả chữ Hán có nội dung gần như khớp nhau (trong họ Hoàng ở  
Tây Mỗ có lưu truyền câu chuyện về họ này vốn gốc Mạc). Có lẽ chúng vốn cùng  
có chung một nguồn đầu tiên [Tư liệu Hán Nôm của dòng họ 1, 2, 3]. Vượt qua  
17  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
được binh hỏa của chiến tranh, nhưng vào thời kỳ bài trừ mê tín dị đoan, hai ngôi  
phủ lớn là Tây Mỗ và Giáp Ba đều đã bị hạ giải hầu như toàn bộ (cùng thời gian,  
Phủ Nấp ở Vỉ Nhuế gắn với lần giáng sinh đầu tiên thì bị san phẳng rồi đào thành  
ao cá của hợp tác xã). Thực trân quý là, sau bao nhiêu dâu bể, ngọc phả chữ Hán  
ở Tây Mỗ và Giáp Ba vẫn còn được lưu giữ tương đối nguyên vẹn. Thêm nữa, tại  
khuôn viên Phủ Giáp Ba đang được trùng tu tôn tạo, may mắn còn giữ được 3 tấm  
bia nguyên vật của thời Nguyễn góp phần làm rõ thêm về cuộc đời trần thế đi và  
về giữa hai miền Nga Sơn và Nghĩa Hưng của thánh mẫu.  
Ở ngay bên cạnh với Giáp Ba và Phủ Giáp Ba, vốn cùng tổng Bảo Ngũ trước  
đây và cùng trong xã Quang Trung huyện Vụ Bản ngày nay, là xóm Bất Di với Phủ  
Bất Di. Phủ Bất Di (một cách viết khác là “Bất Gi”), còn gọi là Phủ Dinh, bị phá  
hoại bởi chiến tranh từ thập niên 1950,(6) nay đang được kiến thiết lại. Một số tư  
liệu hiện còn giữ được của Phủ Bất Di (các đạo sắc nguyên vật vốn gửi một thời  
gian dài ở chùa Trúc, tư liệu do hương lý khai năm 1938…) cho thấy, Bất Di cũng  
thờ vị thánh mẫu chung cho cả Phủ Tây Mỗ và Phủ Giáp Ba.  
Vậy là, trong tư cách nhà nghiên cứu lần theo những dấu tích của thánh mẫu,  
vốn như thấy trong hành trạng cuộc đời trần thế của bà, chúng tôi đã đi và về giữa  
hai miền đất Nghĩa Hưng và Nga Sơn.  
Nghĩa Hưng ở đây, bây giờ không  
chỉ là Phủ Nấp và Phủ Giầy  
(Tiên Hương, Vân Cát), mà là cả  
Phủ Giáp Ba và Phủ Bất Di. Nói  
đúng hơn, với lần giáng sinh thứ  
ba, Phủ Giáp Ba cùng Phủ Bất Di  
và từ đường dòng họ Mai chính là  
ở vào vị trí trung tâm. Rút cục, cả  
ba lần giáng sinh của thánh mẫu  
trong truyền thuyết, đều trước sau  
gắn bó với miền đất Nghĩa Hưng  
(xem Lược đồ 1).  
Còn với Nga Sơn, như sẽ trình  
bày tiếp theo, Phủ Tây Mỗ và  
dòng họ Hoàng ở vào vị trí trung  
tâm. Ngoài ra, còn có những điểm  
có quan hệ xa gần trong dòng họ  
Lược đồ 1 : Lược đồ về 3 nơi Mẫu Liễu giáng sinh  
theo truyền thuyết (1-Vỉ Nhuế, 2-Vân Cát, 3- Bảo Ngũ  
và Nga Sơn).(7)  
Hoàng hay quan hệ thờ tự khác, như gia đình họ Nguyễn Hoàng ở xóm Nga Châu  
(xã Hà Châu huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa), đền thánh mẫu ở Nga Châu,….  
18  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Với mỗi đền phủ ở hai miền Nghĩa Hưng và Nga Sơn trong cuộc đời trần  
thế lần thứ ba của thánh mẫu, cần thiết có những nghiên cứu chuyên biệt. Ở đây,  
với cách nhìn tổng quan, lại do giới hạn về khuôn khổ, trình bày và phân tích của  
chúng tôi đối với các tư liệu mới dừng ở mức khái lược hay giới thiệu bước đầu.  
1. Ngọc phả trên giấy cùng tìm thấy ở cả Nga Sơn và Nghĩa Hưng  
Ngôi đền cũ thờ thánh mẫu của làng Tây Mỗ, vốn được quen gọi là “đền Tây  
Mỗ” hay “Phủ Tây Mỗ” (hoặc “Phủ Mỗ”), đã bị hạ giải từ đầu thập niên 1960, hầu  
như không còn sót lại bất cứ di vật nào.  
Theo hồi cố của các lão niên, đền cũ là một tòa kiến trúc bề thế gồm ba cung  
nằm ở chân một ngọn núi nhỏ thuộc dãy núi Giăng Hạc thuộc phía tây của làng Tây  
Mỗ. Đền có tam quan uy nghi, nay trong dân vẫn còn truyền tụng câu ca: “Lên đền  
Tây Mỗ mà coi//Tam quan làm rõ thật là khéo tay”. Hai cung gồm Đệ nhị (cung  
Tứ phủ) và Đệ tam (cung Hội đồng) nằm ở phía trước, có treo nhiều mũ nón, đèn  
lồng, tàn lọng và kiệu gỗ. Cung Đệ nhất, tức cung cấm, nằm ở phía sau cùng, cách  
cung Đệ nhị khoảng 5m. Khoảng giữa hai cung này có trồng hoa, hai bên giải vũ  
có mái che. Trong cung cấm có tượng thánh mẫu bằng gỗ cỡ nhỏ (đại khái “bằng  
đứa con nít ba bốn tuổi”).(8)  
Mấy chục năm nền đền cũ bị bỏ hoang, đôi khi một nhóm các bà các cô trong  
xóm ngoài làng đến lập một ban thờ lộ thiên với bát hương thì chẳng lâu sau đó  
cũng bị chính quyền sở tại đề nghị dọn đi. Mãi đến cuối thập niên 1990, được sự  
đồng ý của phía chính quyền, nhân dân địa phương mới có điều kiện bắt đầu triển  
khai việc tái thiết ngôi phủ trên một phần diện tích nền cũ. Từ năm 2004, ông Bùi  
Văn Ba (sinh năm 1960) và gia đình tới làm nhà bên cạnh đền, trở thành ngưởi thủ  
từ chính thức hiện tại.  
Lần đầu tiên chúng tôi đến Phủ Tây Mỗ là vào hạ tuần tháng 4 năm 2011. Khi  
đó, chính điện của ngôi đền tái thiết được khánh thành vào năm 2003 (theo lời người  
thủ từ) còn là một tòa nhà gạch nhỏ gồm ba gian và hẹp lòng, có câu đầu ghi bằng  
chữ Hán là Cộng hòa xã hội Việt Nam ngũ thập thất tuế (Cộng hòa xã hội Việt Nam  
năm thứ 57). Tuy nhỏ, bài trí bên trong vẫn có gian tiền tế và gian hậu cung. Hậu  
cung gồm ba ban: ở giữa là Mẫu (thủ từ gọi là “Quỳnh Hoa công chúa”), bên phải  
là Phật Bà thiên thủ thiên nhãn, bên trái là Địa mẫu. Gian tiền tế có ban công đồng  
ở giữa, phải là ban chầu, trái là ban Đức Thánh Trần (xem Ảnh 1). Ngoài tòa chính  
điện, còn có một số hạng mục khác đang được triển khai (động sơn trang, các điểm  
thờ ngoài trời,…). Từ cuối năm 2011, nhận được công đức của các nơi, đặc biệt là  
của một số gia đình đệ tử ở Hà Nội, chính điện tiếp tục được trùng tu, mở rộng.  
Từ khi tòa chính điện của Phủ Tây Mỗ được tái thiết, nhân dân sở tại cũng đã  
khôi phục lại lễ rước kiệu từ Phủ về từ đường họ Hoàng trong thời gian giỗ thánh  
19  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
mẫu hàng năm (từ ngày 7 đến ngày  
10 tháng Ba âm lịch).  
Từ đường họ Hoàng còn được  
gọi là “nhà thờ Đệ tam thánh mẫu  
Hoàng tộc”, chỉ cách Phủ Tây Mỗ  
khoảng một cây số. Các vị cao  
niên trong dòng họ Hoàng cho  
biết, trước năm 1945, từ đường họ  
có quy mô tương đối lớn, thường  
xuyên đón tiếp khách thập phương  
Ảnh 1: Chính điện Phủ Tây Mỗ (tái thiết) ở thời điểm đến từ các tỉnh thành cả nước  
tháng 5 năm 2011.(9)  
(Huế, Nam Định, Hà Nội, Ninh  
Bình, Lạng Sơn,…), nhộn nhịp nhất là vào dịp tháng Ba âm lịch. Từ đường có  
dành ba gian nhà khách làm chỗ nghỉ chân cho họ. Có nhiều đoàn tín đồ quen đến  
làm lễ ở từ đường họ Hoàng trước rồi mới sang Phủ Tây Mỗ.  
Qua dâu bể đổi thay, ngày hôm nay, từ đường họ Hoàng mới được xây cất lại  
sau một thời gian dài bị hư hại. Không có bất cứ tư liệu liên quan gì còn được lưu  
giữ. Gia phả họ Hoàng bằng Quốc ngữ hiện thấy chỉ là văn bản được viết ra trong  
thời gian gần đây, mà trọng tâm là thế thứ những đời hiện tại [Tư liệu Quốc ngữ của  
dòng họ 1]. Ban thờ chính ở bên trong từ đường, gồm bốn lớp mang tính tích hợp,  
có thể do hiện nay còn thiếu không gian bài trí. Tính từ dưới lên gồm các lớp sau: 1.  
Hạ ban thờ ngũ hổ và bạch xà; 2. Công đồng và bản đền (hai bát hương); 3. Thánh  
mẫu và hai vị hầu cận (ba bát hương); 4. Tổ họ Hoàng (một bát hương). Ở lớp thứ  
3, là lớp thờ Đệ tam thánh mẫu và hai vị hầu cận, có một bức ảnh màu một pho  
tượng nữ được ép plastic rồi lồng trong khung kính, trên bức ảnh có choàng một  
tấm lụa đỏ. Đó là ảnh mới được làm gần đây (xem Ảnh 2 và Ảnh 3).  
Như vậy, ở chính làng Tây Mỗ, gồm Phủ Tây Mỗ và từ đường họ Hoàng, hiện  
không còn bất cứ di vật hay tư liệu mang tính nguyên gốc nào liên quan đến hành  
trạng của Đệ tam thánh mẫu. Còn lại chỉ là những truyền ngôn không rõ ràng (có  
chứa nhiều điểm mâu thuẫn hay không khớp nhau giữa lời kể của các hậu duệ hay  
dân làng), và một ít tư liệu ghi chép sưu tầm mang tính cá nhân trong thời gian rất  
gần đây [Tư liệu Quốc ngữ ở địa phương 1, 2, 3, 4, 5, 8, 9, 10, 11, 12].  
Tuy vậy, trong truyền ngôn, vẫn có được những thông tin mang tính gợi ý  
quan trọng, mà nhờ đó, chúng tôi lần tìm ra những manh mối ở các nơi khác vốn  
có quan hệ sâu sắc với Tây Mỗ. Cụ thể là hai thông tin sau. Thứ nhất, các vị cao  
niên trong dòng họ Hoàng ở Tây Mỗ có nhắc đến làng Giáp Ba ở Nam Định khi  
kể các sự tích liên quan đến thánh mẫu. Đặc biệt còn cho biết, người làng Giáp Ba  
đã xây lăng cho thánh mẫu, và ngày xưa, người từ khu vực Giáp Ba vẫn thường  
20  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Ảnh 2: Ban thờ chính bên trong từ đường (tái thiết) Ảnh 3: Ảnh thờ trên ban thờ chính trong  
của họ Hoàng ở Tây Mỗ (5/2011). từ đường họ Hoàng ở Tây Mỗ.  
xuyên đến thăm từ đường họ Hoàng. Tuy nhiên, do một thời gian rất dài đã mất  
hoàn toàn giao lưu, nên người ta chỉ nhớ được duy nhất cái tên Giáp Ba, mà không  
biết làng ấy nằm ở đâu, thuộc xã nào huyện nào trước đây.(10) Thứ hai, có một  
nhánh họ Hoàng đã từ Tây Mỗ đi khai hoang và ở lại bên làng Nga Châu, hoặc  
“một ông thuộc ngành ông cả xuống lấy vợ ở Nga Châu”. Nga Châu là một làng  
thuộc xã Hà Châu cùng trong huyện Hà Trung ngày nay, cách Tây Mỗ khoảng hơn  
ba cây số. Quan trọng hơn cả là, khi chuyển đến Nga Châu, nhánh đó đã mang cả  
theo một tấm bia đá. Nội dung bia đá như thế nào thì không rõ, nhưng chắc có liên  
quan gì đó đến thánh mẫu. Người ở Tây Mỗ đã nhiều lần sang Nga Châu đề nghị  
cho chuyển lại về từ đường họ Hoàng hoặc Phủ Tây Mỗ, nhưng họ chưa đồng ý.  
Nhờ có thông tin về bia đá nêu trên, và được dẫn đường bởi một người cháu  
trong họ Hoàng làng Tây Mỗ,(11) chúng tôi đã tìm được đến gia đình cụ Nguyễn  
Hoàng Thước (con trai là Nguyễn Hoàng Hồng)(12) ở làng Nga Châu. Tại đây,  
chúng tôi phát hiện một bia đá mang niên đại Nhâm Ngọ - Cảnh Hưng 23 (1762)  
hiện được bảo quản trong nhà bia dựng trước sân. Bia đá có tiêu đề Thùy huấn bi  
垂訓碑, trên có nhắc đến địa danh “Nga Sơn Tây Mỗ/Tây Mụ 峩山西姥”. Đặc biệt,  
ngoài tấm bia này, gia đình còn lưu giữ được một tư liệu Hán Nôm mang tiêu đề  
Hoàng tộc thừa sao Đệ tam tiên thánh sinh nhật mục lục phả 黄族承抄第三僊  
聖生日目籙譜 [Tư liệu Hán Nôm của dòng họ 1]. Đây là tư liệu duy nhất còn lại  
ở Nga Sơn cho chúng ta biết những nét khái lược về hành trạng của Đệ tam tiên  
thánh vốn là người họ Hoàng ở Tây Mỗ.  
Việc phát hiện Hoàng tộc thừa sao Đệ tam tiên thánh sinh nhật mục lục phả  
ở Nga Châu có ý nghĩa quan trọng. Trong cuốn phả này, có mấy chỗ nhắc đến thôn  
Giáp Ba xã Bảo Ngũ huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định như là nơi mà thánh mẫu đã  
tới cư trú một thời gian, rồi linh hóa. Chính nhờ vậy, từ Nga Châu ở Thanh Hóa,  
chúng tôi tiếp tục đến Giáp Ba ở Nam Định.  
21  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Sau một số lần trở đi trở lại Giáp Ba, chúng tôi được hậu duệ dòng họ Mai  
ở đây cho xem một số tư liệu Hán Nôm vốn được cất giữ cẩn mật bấy lâu nay, mà  
trọng tâm là tư liệu mang tiêu đề Đệ tam tiên chúa ngọc phả 第三僊主玉譜 [Tư liệu  
Hán Nôm của dòng họ 2, 3]. Thật tuyệt vời, Hoàng tộc thừa sao phả tìm thấy ở Nga  
Châu (Thanh Hóa) và Đệ tam tiên chúa ngọc phả tìm thấy ở Giáp Ba (Nam Định),  
dù ở hai nơi cách nhau rất xa, người lưu giữ không còn bất cứ liên hệ nào trong hiện  
tại, nhưng về cơ bản là có nội dung giống nhau. Đối với quá trình tìm hiểu về hành  
trạng trong cuộc đời trần thế của Đệ tam thánh mẫu, hiện nay, đây là hai tư liệu có  
giá trị hàng đầu. Tiếp theo, chúng tôi giới thiệu khái lược về hai tư liệu ấy.  
1.1. Ngọc phả tìm thấy ở Nga Sơn (họ Nguyễn Hoàng làng Nga Châu, một  
cuốn đóng chung hai tư liệu)  
Từ đây trở xuống có thể gọi tắt là Ngọc phả Nga Sơn, còn tên đầy đủ của tư  
liệu như đã viết ở trên là Hoàng tộc thừa sao Đệ tam tiên thánh sinh nhật mục lục  
phả. Bản gốc gồm 9 trang giấy dó viết chữ Hán bằng bút lông, khổ nhỏ, bìa ngoài  
màu đỏ, được đóng chỉ sơ sài, giấy đã nát nhiều nên một số chỗ bị mất chữ. Chữ  
viết chân phương dễ đọc (xem Ảnh 4 a - b).  
Qua khảo sát văn bản,  
có thể thấy quá trình  
hình thành và bảo  
quản của Ngọc phả  
Nga Sơn như sau.  
(1) Văn bản hiện thấy  
được một người có  
tên là Nguyễn Tất 阮  
畢 sao lại vào ngày 4  
tháng 2 âm lịch năm  
Khải Định 6 (1921)  
từ một nguyên bản có  
trước đó.  
(2) Nguyên bản mà  
Nguyễn Tất đã sao lại  
Ảnh 4 a-b: Trang đầu (a-bên phải) và trang cuối (b-bên trái) của  
Ngọc phả Nga Sơn  
vốn là bản do ông Hoàng Nho Năng 黄儒能 lưu giữ. Ở trang 1 của văn bản hiện  
thấy ghi dòng chú thích nhỏ như sau ở dưới dòng ghi tiêu đề: nguyên tiên nhân  
Hoàng Nho Năng lưu hậu chiếu (tạm dịch: nguyên là của ông Hoàng Nho Năng  
lưu lại để đối chiếu sau này).  
(3) Bản mà Hoàng Nho Năng lưu giữ là do người có tên là Nguyễn Tuấn  
Tham 阮俊参 hiệu là Khắc Trai 克齋 biên soạn. Nguyễn Tuấn Tham là người xã  
Tang Trữ 桑薴社 huyện Nam Chân 南真縣 (tỉnh Nam Định - CXG) khi biên soạn  
22  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
văn bản là Giám sinh. Đây chính là người đã có công khảo cứu về sự tích của Đệ  
tam thánh mẫu, biên soạn nên ngọc phả này. Đồng thời, có một bản ngọc phả được  
sao thêm ra và gửi cho bản quán của thánh mẫu ở Tây Mỗ để cùng thờ phụng.  
Hiện chưa biết rõ Nguyễn Tuấn Tham đã  
hoàn thành ngọc phả vào thời gian nào. Trong  
nguyên bản thì có một chỗ ghi “năm đó có ông  
Giám sinh là Nguyễn Tuấn Tham hiệu Khắc  
Trai khảo cứu sự tích và soạn thành một văn  
bản”,(13) lại một chỗ khác có ghi là “vào ngày  
hè năm Kỷ Mùi, tôi đi hóng mát, đến vùng  
Thiên Bản mà ngẫu nhiên nghe câu chuyện ở  
ngoài phố chợ từ những vị cao niên”.(14) Năm  
Kỷ Mùi có thể là năm 1799. Nếu đúng, thì  
chính là năm Đệ tam thánh mẫu linh hóa (được  
ghi trong ngọc phả Nga Sơn). Cho nên, có thể  
tạm phỏng đoán, Nguyễn Tuấn Tham soạn  
ngọc phả chỉ sau khi thánh mẫu linh hóa vài  
tháng tại Nam Định. Thánh mẫu linh hóa vào  
dịp tháng 3 âm lịch, còn Nguyễn Tuấn Tham  
biên soạn sự tích vào khoảng tháng 6 âm lịch  
cùng trong năm 1799.  
Ảnh 5: Trang có thông tin về Nguyễn  
Tuấn Tham (người viết bài này có gia  
bút bằng đường kẻ màu đỏ) và mở  
đầu phần Phụng tán Đệ tam tiên chúa  
Vào năm 2003, khi biên soạn tập tư liệu sử  
dụng ở địa phương mang tiêu đề Sự tích Thành  
hoàng Thánh mẫu có công làng Nga Châu thờ,  
Ban sưu tầm biên tập của làng Nga Châu đã  
văn tịnh dẫn trong ngọc phả Nga Sơn  
(đóng khung màu xanh).  
mượn được ngọc phả Nga Sơn đang được lưu giữ tại gia đình họ Nguyễn Hoàng  
và có lược dịch trong dung lượng khoảng một trang A4 [Tư liệu Quốc ngữ ở địa  
phương 6: 6-7]. Tuy vậy, cần nói rõ thêm, là cho đến thời điểm năm 2011-2012,  
người làng Tây Mỗ đều chưa biết đến sự tồn tại của nguyên bản ngọc phả cũng như  
bản lược dịch nói trên, họ chỉ lưu tâm đến sự tồn tại của tấm bia đá trong sân nhà  
họ Nguyễn Hoàng (sẽ đề cập tiếp ở dưới).  
Có thể tóm tắt hành trạng của Đệ tam thánh mẫu được ghi trong ngọc phả Nga  
Sơn là: sinh cuối năm Đinh Hợi (Cảnh Hưng 28, tính sang dương lịch là 1768),  
mất đầu năm Kỷ Mùi (Cảnh Thịnh 8, 1799), hưởng dương 33 tuổi. Cụ thể như sau:  
(1) Bà có tên tục là Thúc 蹴, nguyên người họ Hoàng ở xã Tây Mỗ huyện  
Nga Sơn (sau đổi thành Tống Sơn), sinh vào cuối năm Đinh Hợi niên hiệu Cảnh  
Hưng 28 (ghi chi tiết là sinh giờ Mão ngày 21 tháng 12 âm lịch, nếu tính sang  
dương lịch sẽ là ngày 9 tháng 2 năm 1768).  
23  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
(2) Từ lúc sinh đã có nhiều kỳ lạ, đặc biệt thời nhỏ có khả năng dự báo được  
mưa nắng rất tốt, và không bị mắc mưa nắng bao giờ. Người ở xung quanh biết bà  
không phải là người bình thường. Năm 16 tuổi (năm Nhâm Dần, tức năm 1782), bà  
được gả cho ông Mai Nho Bàng 枚儒旁 (họ Mai tên tự là Nho Bàng) ở xã Thạch  
Giản 石澗 tổng Thạch Giản cùng huyện.  
(3) Bà tuy về làm dâu nhà họ Mai nhưng chỉ là phu thê trên danh nghĩa, mà  
không chung chăn gối bao giờ.  
(4) Ông họ Mai sau có xây nhà ở xã Bảo Ngũ huyện Thiên Bản trấn Sơn Nam  
(tỉnh Nam Định ngày nay - CXG), nên ông bà tới đó sinh sống. Từ xã Bảo Ngũ, bà  
thường tới nơi thờ Đệ nhất tiên nữ ở Tiên Hương.  
(5) Đến năm 33 tuổi, tức năm Kỷ Mùi (1799), vào ngày ba tháng Ba âm lịch,  
sau khi khăn áo chỉnh tề, bà mật báo cho thị nữ biết mình là Hoàng Quế Hoa tiên  
nữ đệ tam ở thiên cung (nguyên văn là Thiên cung đệ tam tiên muội Hoàng Quế  
Hoa), đến ngày chín tháng Ba thì sẽ về trời.  
(6) Đúng như lời, tới ngày chín tháng Ba [nếu tính sang dương lịch thì là ngày  
13 tháng 4 năm 1799], bà chỉnh tề khăn áo rồi vào trong quan tài mà từ từ nằm  
xuống, bảo con đồng theo hầu đóng áo quan lại. Cứ thế mà hóa. Đạo sĩ các nơi  
nghe chuyện liền đổ tới vái lễ. Đúng ngày đó, gió nổi lên cuốn bụi, mưa đổ xuống  
rầm rầm, đường được quét sạch. Lại có mấy đàn én tới vây liệng quanh mộ.  
(7) Dân chúng trong vùng từ đó thờ bà với tên Đệ tam tiên nữ có tên hiệu  
là Hoàng Quế Hoa công chúa 黄桂花公主.Người ta kêu cầu gì với tiên nữ, đều  
được ứng nguyện.  
Tiếp theo, các điểm nội dung nêu trên trong ngọc phả Nga Sơn cần được đối  
chiếu với ngọc phả tìm thấy ở Nghĩa Hưng.  
1.2. Ngọc phả tìm thấy ở Nghĩa Hưng (họ Mai ở Giáp Ba, hai cuốn đóng riêng)  
Tạm gọi số tư liệu mới phát hiện ở gia đình họ Mai tại Giáp Ba là Ngọc phả  
Giáp Ba. Có một điểm khác biệt rõ nhất giữa ngọc phả Nga Sơn (đã trình bày ở  
trên) với ngọc phả Giáp Ba là: ngọc phả Nga Sơn thì ghép hai tư liệu (Hoàng tộc  
thừa sao Đệ tam tiên thánh sinh nhật mục lục phả, và Phụng tán Đệ tam tiên chúa  
văn tịnh dẫn) vào làm một, đóng chung trong một tập; còn ngọc phả Giáp Ba thì  
tách riêng hai tư liệu này ra, đóng riêng thành hai tập khác nhau (một tập là Đệ tam  
tiên chúa ngọc phả/Tam Giáp đệ tam vị tiên chúa ngọc phả, một tập là Phụng độc  
Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn) [Tư liệu Hán Nôm của dòng họ 2, 3; xem Ảnh 6a-b].  
Cả hai văn bản ở Giáp Ba đều không ghi năm tháng sao chép. Riêng Đệ tam  
tiên chúa ngọc phả hiện có một bản lược dịch viết tay bằng bút máy mực tím mang  
ngày tháng sao lục là “2/10/1961”.  
24  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Ảnh 6a-b: Trang bìa (a-bên phải) và trang đầu (b-bên trái) của  
Đệ tam tiên chúa ngọc phả.  
Qua kiểu chữ và tình trạng giấy dó của nguyên bản, và niên đại của bản lược  
dịch tiếng Việt kể trên, có thể phỏng đoán rằng, Đệ tam tiên chúa ngọc phả và  
Phụng độc Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn đang được bảo quản tại dòng họ Mai  
làng Giáp Ba là những văn bản đã được sao chép từ lâu. Về tình trạng văn bản, thì  
nhìn chung Đệ tam tiên chúa ngọc phả tốt hơn Phụng độc Đệ tam tiên chúa văn  
tịnh dẫn. Bản thân Phụng độc Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn hiện bị đóng quyển  
lộn một số trang.  
Một điểm khác nhau nữa giữa ngọc phả Nga Sơn và ngọc phả Giáp Ba là: ở  
ngọc phả Nga Sơn, tên người biên soạn ngọc phả (Nguyễn Tuấn Tham ở xã Tang  
Trữ huyện Nam Chân) xuất hiện ở cuối đoạn văn bản Hoàng tộc thừa sao Đệ tam  
tiên thánh sinh nhật mục lục phả và trước khi bắt đầu chuyển sang phần Phụng tán  
Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn; còn ở ngọc phả Giáp Ba, thì thông tin này lại nằm  
ở phần kết thúc của văn bản Phụng độc Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn (sau đó cuối  
văn bản này còn một đoạn chữ Nôm cũng nói về thánh mẫu; đoạn này không có  
đoạn tương ứng trong ngọc phả Nga Sơn) .  
Thông tin về Nguyễn Tuấn Tham trong Phụng độc Đệ tam tiên chúa văn  
tịnh dẫn ở Giáp Ba (xem Ảnh 7a-b) giống hệt như trong ngọc phả Nga Sơn (đều  
là một vị Giám sinh có hiệu là Khắc Trai và nguyên quán là xã Tang Trữ huyện  
Nam Chân tỉnh Nam Định). Nội dung của Phụng độc Đệ tam tiên chúa văn tịnh  
dẫn cũng giống gần hoàn toàn với phần Phụng tán Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn  
trong ngọc phả Nga Sơn.  
25  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Ảnh 7a-b: Trang mở đầu (a-bên phải) và trang ghi thông tin về Nguyễn  
Tuấn Tham (b-bên trái) trong Phụng độc Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn.  
Về hành trạng của thánh mẫu, thì về cơ bản, nội dung ngọc phả Giáp Ba  
giống như nội dung ngọc phả Nga Sơn. Tên tục của thánh mẫu cũng được ghi là  
Thúc 蹴; sinh năm Đinh Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28, hưởng dương 33 năm,  
hóa năm Kỷ Mùi. Tuy vậy, cũng có một số chỗ tương dị nho nhỏ như sau.  
(1) Hoàng tộc thừa sao Đệ tam tiên thánh sinh nhật mục lục phả (Nga Sơn)  
ghi nguyên quán của ông họ Mai kết duyên với bà Hoàng Thị Thúc là xã Thạch  
Giản tổng Thạch Giản cùng huyện Nga Sơn. Còn Đệ tam tiên chúa ngọc phả (Giáp  
Ba) thì ghi là người ở thôn Giáp Ba xã Bảo Ngũ cùng huyện Thiên Bản.  
(2) Về mối quan hệ giữa Tây Mỗ và Thạch Giản (ở Nga Sơn) với Bảo Ngũ (ở  
Nghĩa Hưng), thì Phụng tán Đệ tam tiên chúa văn tịnh dẫn (Nga Sơn) ghi rằng: do  
ông họ Mai nguyên quán ở Thạch Giản nhưng sau có làm nhà ở xã Bảo Ngũ, nên  
bà Hoàng Thị Thúc cũng ra đó ở, tức là di cư theo chiều từ Thạch Giản ra Giáp  
Ba. Còn Đệ tam tiên chúa ngọc phả (Giáp Ba) thì ghi rằng: ông họ Mai do công  
việc buôn bán nên thường cư ngụ tại Giáp Ba. Tuy vậy, Phụng độc Đệ tam tiên  
chúa văn tịnh dẫn (Giáp Ba) cũng ghi việc ông họ Mai có xây nhà ở Giáp Ba, mà  
nguyên quán của ông là Thạch Giản.  
Những điểm khác nhau trong tiểu tiết như vậy giữa ngọc phả Nga Sơn (Tây  
Mỗ) và ngọc phả Nghĩa Hưng (Giáp Ba) cho chúng ta suy đoán rằng, cả hai đều  
sao chép từ văn bản đã có trước đó (của hay vốn của Nguyễn Tuấn Tham soạn), và  
người sao chép đã tự ý thay đổi một số địa danh cho hợp với mong muốn lúc đó của  
26  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
mình. Tuy nhiên, thống nhất ở chỗ: cả hai đều ghi về việc chuyển cư của ông họ  
Mai từ Thạch Giản ra Giáp Ba. Bằng việc đối chiếu với các tư liệu khác, đặc biệt  
là tư liệu liên quan đến dòng họ Mai ở huyện Nga Sơn ngày nay (dòng họ đã sản  
sinh ra danh nhân Mai Anh Tuấn),(15) chúng tôi xác nhận được việc họ Mai ở Nga  
Sơn (Thanh Hóa) từng di cư ra Bảo Ngũ (Nam Định) với những lý do khác nhau.  
Giữa Nga Sơn và Bảo Ngũ vốn đã có quan hệ đích thực trong lịch sử.  
Một điểm cần nhắc để nhấn mạnh ở đây là, ngọc phả ở Nga Sơn cũng như  
ngọc phả ở Nghĩa Hưng, như đã trình bày ở trên, đều chỉ nhắc đến tên hiệu của  
thánh mẫu với những cụm từ sau: Đệ tam tiên chúa, Đệ tam thánh mẫu, Hoàng  
Quế Hoa công chúa, Quế Hoa công chúa. Trong cả hai ngọc phả này, chúng ta rõ  
ràng chưa thấy có sự xuất hiện của tên hiệu dạng như Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung  
Quế Anh phu nhân, hay Quảng Cung Quế Anh phu nhân. Quảng Cung Quế Anh  
phu nhân là tên hiệu xuất hiện trong các sắc phong của triều Nguyễn cho hai làng  
Giáp Ba và Bất Di sẽ trình bày ở phần tiếp theo (hiện còn thấy nguyên vật hay bản  
sao, có niên đại sớm nhất là Tự Đức 10 tức năm 1857). Điều này cho phép chúng  
ta đặt một giả thiết rằng, ngọc phả được soạn bởi vị Giám sinh Nguyễn Tuấn Tham  
là lớp thần tích được viết sớm và sát với câu chuyện thực về sự linh dị mà ông  
đã được nghe thấy lúc đương thời. Dù muộn đến đâu, dù đã được sao đi chép lại  
nhiều lần, văn bản ấy cũng vốn đã có trước năm 1857, nếu không muốn nói là ra  
đời ngay trong năm 1799 (năm mà Hoàng Quế Hoa công chúa về trời). Hoặc để  
“mềm mại” hơn, có thể xem nó đã được ra đời trong khoảng thời gian từ năm 1799  
đến năm 1857. Nó chưa hề bị ảnh hưởng ngược lại từ hệ thống sắc phong của triều  
Nguyễn cho các làng Giáp Ba và Bất Di, nên không sử dụng tên hiệu Quảng Cung  
Quế Anh phu nhân.  
2. Sắc phong và thần tích thời cận đại của Giáp Ba và Bất Di ở Nghĩa Hưng  
Vào hạ tuần tháng 4 năm 1938 (Bảo Đại 13), chức dịch của thôn Giáp Ba  
và làng Bất Di (ghi theo chính tả lúc đó là “Bất Gi”) cùng thuộc “tổng Bảo Ngũ  
huyện Vụ Bản phủ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định” có đồng thời thực hiện bản khai  
về thần tích thần sắc của làng mình [Tư liệu Viện Thông tin Khoa học Xã hội 1, 2].  
Cả hai đều là bản khai viết tay, phần trước là Quốc ngữ, phần sau là chữ Hán Nôm.  
Cả hai đều lược thuật thần tích về Đệ tam thánh mẫu (Giáp Ba) hay Đệ tam vị tiên  
chúa (Bất Di) bằng cả Quốc ngữ và văn tự Hán Nôm, đồng thời, sao chép những  
sắc phong còn lưu giữ được đến thời điểm đó. Mỗi bản khai đều có chữ ký và con  
dấu của chức dịch làng, gồm những vị như: chánh hương hội, lý trưởng, phó lý,  
chưởng bạ, thủ quỹ, thư ký, hộ lại, phó hộ lại, kỳ lão, kỳ hào, cựu lý trưởng, cựu  
phó lý,…. Đây là mảng tư liệu quan trọng, bởi vừa mang ý nghĩa là văn thư chính  
thức của đơn vị hành chính cấp cơ sở có phạm vi cao hơn dòng họ, vừa mang giá  
trị bổ khuyết về mặt nội dung cho các ngọc phả hiện thấy trong các dòng họ ở Nga  
Sơn và Nghĩa Hưng mà chúng tôi đã trình bày ở trên.  
27  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Đặc biệt, trong thời gian khảo sát điền dã gần đây tại khu vực Giáp Ba, mặc  
dù không thấy sự hiện diện của sắc phong nguyên vật cho Giáp Ba (có lẽ đã thất  
lạc), nhưng may mắn là chúng tôi đã được mục sở thị các sắc phong nguyên vật  
cho Bất Di trước đây - đó chính là nguyên bản (lưu giữ tại địa phương) của các  
bản sao trong bản khai năm 1938 (đã nộp lên chính quyền trung ương). Trong bối  
cảnh chung là sắc phong cho Phủ Tây Mỗ không còn, kể cả bản sao (hoặc vốn  
không có), mà sắc phong cho Phủ Giáp Ba chỉ còn bản sao, thì sắc phong nguyên  
vật cho Phủ Bất Di là những vật chứng tham chiếu trọng yếu. Đây là những vật  
chứng (gồm cả nguyên bản và bản sao) cho thấy Đệ tam thánh mẫu đã thực sự  
được vương triều công nhận.  
2.1. Sắc phong bản sao của Giáp Ba  
Theo bản khai của chức dịch năm 1938 [Tư liệu Viện Thông tin Khoa học Xã  
hội 1], Giáp Ba có thờ hai vị thần, là Đức Thành hoàng (nữ thần, họ Đào tên húy  
là Thị Nhạ) và Đức Đệ tam thánh mẫu (nữ thần, họ Hoàng tên húy là Thíu). Đến  
thời điểm đó, làng có lưu giữ được 4 đạo sắc phong cho thành hoàng (các niên hiệu  
Cảnh Hưng 44, Thành Thái 1, Duy Tân 3, Khải Định 9), và 5 đạo sắc phong cho  
Đệ tam thánh mẫu (các niên hiệu Tự Đức 10, Tự Đức 33, Đồng Khánh 2, Duy Tân  
3, Khải Định 9). Có thể tóm lược nội dung các các sắc phong cho Đệ tam thánh  
mẫu như sau.  
(1) Sắc thứ nhất: Ghi ngày 3 tháng 10 năm Tự Đức 10 (1857), sắc cho xã Bảo  
Ngũ huyện Thiên Bản(16) (không ghi đơn vị cấp thôn và cấp tỉnh, chỉ ghi xã) thờ  
vị thần là Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung Quế Anh phu nhân, hàng trung đẳng thần.  
Các mỹ tự của thần vốn là Linh quang huyền diệu tĩnh nhu đoan khiết, nay gia tặng  
hai chữ trai thục (để thành Linh quang huyền diệu tĩnh nhu đoan khiết trai thục).  
(2) Sắc thứ hai: Ghi ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức 33 (1880), sắc cho xã  
Bảo Ngũ huyện Vụ Bản(17) tỉnh Nam Định thờ vị thần là Đệ tam ngọc nữ Quảng  
Cung Quế Anh phu nhân, hàng trung đẳng thần. Các mỹ tự của thần là Linh quang  
huyền diệu tĩnh nhu đoan khiết trai thục.  
(3) Sắc thứ ba: Ghi ngày 1 tháng 7 năm Đồng Khánh 2 (1887), sắc cho xã  
Bảo Ngũ huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định thờ vị thần là Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung  
Quế Anh phu nhân, hàng trung đẳng thần. Các mỹ tự của thần vốn là Linh quang  
huyền diệu tĩnh nhu đoan khiết trai thục, nay gia tặng bốn chữ Dực bảo trung hưng.  
(4) Sắc thứ tư: Ghi ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân 3 (1909), sắc cho xã Bảo  
Ngũ huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định thờ vị thần là Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung Quế  
Anh phu nhân, hàng trung đẳng thần. Các mỹ tự của thần là Linh quang huyền diệu  
tĩnh nhu đoan khiết trai thục dực bảo trung hưng.  
28  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
(5) Sắc thứ năm: Ghi ngày 25 tháng 7  
năm Khải Định 9 (1924), sắc cho thôn  
Giáp Ba xã Bảo Ngũ huyện Vụ Bản tỉnh  
Nam Định thờ vị thần là Đệ tam ngọc nữ  
Quảng Cung Quế Anh phu nhân, hàng  
trung đẳng thần. Nay phong lên hàng  
thượng đẳng thần, và gia tặng hai chữ  
Trang huy vào mỹ tự.  
Như vậy, danh xưng chính thức trên sắc  
phong của vị thần được thờ tại Giáp Ba  
là Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung Quế Anh  
phu nhân 第叁玉女廣宫桂英夫人. Thần  
vốn ở hàng tôn thần, được lên hàng trung  
đẳng thần vào đầu thời Tự Đức (duy trì  
như vậy qua thời Đồng Khánh và Duy  
Tân), và được lên hàng thượng đẳng thần  
Ảnh 8 : Bản sao sắc phong mang niên đại  
vào thời Khải Định. Mỹ tự ở lần phong  
cuối cùng (1924) là Linh quang huyền  
1857 (Tự Đức 10) cho Giáp Ba.(18)  
diệu tĩnh nhu đoan khiết trai thục dực bảo trung hưng trang huy. Dựa vào nội dung  
của bản sao sắc thứ nhất, tạm phỏng đoán rằng, ở trước thời điểm năm Tự Đức 10  
(1857), có thể đã từng có sắc phong của triều Nguyễn thời Minh Mệnh (1820-1840)  
hay Thiệu Trị (1841-1847) cho Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung Quế Anh phu nhân ở  
Giáp Ba.  
2.2. Sắc phong cho Bất Di : Bản sao và nguyên vật  
Bản khai cùng năm 1938 của Bất Di cho biết làng thờ 3 vị thần, là: Đức Thiên  
khai hộ quốc có 9 đạo sắc phong, Đức Đương cảnh Thành hoàng anh linh hiển ứng  
lộ tướng quân có 6 đạo sắc phong, Đức Dực bảo trung hưng Quảng Cung Quế Anh  
phu nhân có 2 đạo sắc phong [Tư liệu Viện Thông tin Khoa học Xã hội 2]. Hai sắc  
phong cho Quế Anh phu nhân được sao trong bản khai này đều có niên đại muộn,  
là Duy Tân 5 và Khải Định 9.  
Chú ý là cả hai đạo sắc cho Quế Anh phu nhân hiện còn nguyên vật, đang  
được lưu giữ tại địa phương. Qua đối chiếu thì thấy nguyên văn trong nguyên vật  
đã được sao gần chính xác toàn bộ sang bản khai năm 1938 (chỉ chép nhầm một  
chữ ở mỹ tự của thần). Nội dung tóm tắt của các sắc phong như sau.  
(1) Sắc thứ nhất: Ghi ngày 8 tháng 6 nhuận năm Duy Tân 5 (1911), sắc cho  
xã Bất Di huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định thờ vị thần là Quảng Cung Quế Anh phu  
nhân 廣宫桂英夫人, lần đầu nhận sắc và được xếp vào hàng trung đẳng thần. Mỹ  
29  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Ảnh 9a-b: Sắc phong năm Duy Tân 5 (1911) cho Bất Di (a-bên phải: lời sắc; b-bên trái: dòng  
niên đại và dấu Sắc mệnh chi bảo).  
tự được ban của thần là Linh quang huyền diệu tĩnh nhu đoan khiết trai thục dực  
bảo trung hưng [nguyên bản là trai thục, bản sao chép nhầm thành trang thục].  
(2) Sắc thứ hai: Ghi ngày 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924), sắc cho xã Bất  
Di huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định thờ vị thần là Quảng Cung Quế Anh phu nhân,  
gia phong cho thần lên hàng thượng đẳng, và thêm hai chữ Trang huy vào mỹ tự.  
Qua nội dung sắc phong, chúng ta cũng biết rằng, việc thờ Quảng Cung Quế  
Anh phu nhân ở Bất Di muộn hơn so với ở Giáp Ba (mãi đến năm 1911 mới được  
ban sắc lần đầu tiên). Quả thực là như vậy. Trong bản khai năm 1938 của Bất Di, ở  
phần ghi sự tích của thánh mẫu bằng chữ Hán, chức dịch cũng cho biết rõ rằng, vào  
ngày 9 tháng 3 năm Giáp Tý niên hiệu Tự Đức 17 (1864), người xã Bất Di đã lên  
Phủ Giáp Ba khuyến thỉnh cả sự tích và duệ hiệu của thần ở Giáp Ba để về thờ tại  
Bất Di.(19) Tức là sau khoảng 7 năm tính từ khi Giáp Ba chính thức nhận được sắc  
phong của triều Tự Đức (năm Tự Đức 10, bên Giáp Ba đã nhận được sắc phong),  
thì người Bất Di mới tới Giáp Ba xin được phân linh về Bất Di. Ngày phân linh  
nhằm đúng vào ngày giỗ của thần.  
Về phẩm trật của thần, cũng như ở Giáp Ba, đến thời Khải Định thì Quảng  
Cung Quế Anh phu nhân thờ ở Bất Di mới được lên hàng thượng đẳng thần. Mỹ  
tự được tặng là Linh quang huyền diệu tĩnh nhu đoan khiết trai thục dực bảo trung  
hưng trang huy cũng giống như ở Giáp Ba. Một điểm khác nhau là về danh xưng  
của thần: nếu tên thần ở Giáp Ba ghi đầy đủ là Đệ tam ngọc nữ Quảng Cung Quế  
Anh phu nhân, thì ở Bất Di chỉ rút ngắn lại thành Quảng Cung Quế Anh phu nhân.  
30  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Đó chỉ là việc rút ngắn trên văn bản sắc phong thôi, còn trong thần tích của Bất Di  
(vốn khuyến thỉnh từ Giáp Ba về) thì vẫn ghi rõ là Đệ tam tiên chúa.  
2.3. Thần tích trong bản khai năm 1938 của Giáp Ba và Bất Di  
Như đã trình bày ở trên, sự tích và duệ hiệu vị thần được thờ ở Bất Di vốn có  
gốc từ Giáp Ba, người ở Bất Di đã sang Giáp Ba khuyến thỉnh về từ năm Tự Đức  
17 (1864). Ở thời điểm đó, về sự tích của thần, không rõ là người Bất Di đã được  
nhận hay được sao chép tư liệu nào từ Giáp Ba. Phải chăng là Đệ tam tiên chúa  
ngọc phả đã nhắc đến ở trên, hay là một văn bản tương tự như vậy. Hiện nay, chúng  
ta thấy hai bản thần tích ở dạng tóm tắt viết bằng Quốc ngữ và văn tự Hán Nôm  
trong hai bản khai năm 1938 của hai làng này. Đọc đối sánh, thấy có mấy điểm thú  
vị như sau giữa hai bản khai.  
Một là, bản tóm tắt của Giáp Ba thì được ghi bằng Quốc ngữ ở trên rồi lại  
bằng chữ Nôm ở dưới với nội dung giống hệt nhau (không có bản chữ Hán), còn  
bản của Bất Di thì chỉ bằng chữ Hán (không có chữ Nôm, và phần Quốc ngữ thì chỉ  
ghi một chú dẫn là xem bản chữ Hán đính kèm). Tại sao Giáp Ba lại chỉ sử dụng  
chữ Quốc ngữ và chữ Nôm mà không dùng chữ Hán, còn Bất Di lại chỉ sử dụng  
chữ Hán mà không có chữ Nôm, thì có liên quan đến điểm thứ hai tiếp theo.  
Hai là, bản tóm tắt của Giáp Ba ghi là Đệ tam thánh mẫu hay Quảng Cung  
ngọc nữ Quế Anh phu nhân, còn bản của Bất Di thì ghi Đệ tam tiên chúa hay Đệ  
tam Quế Hoa tiên chúa (loại bỏ chỗ ghi là Dực bảo trung hưng Quảng Cung Quế  
Anh phu nhân thượng đẳng thần chung cho đầu trang chép cả thần tích và sắc  
phong mang tính phân cách để xếp riêng vị thần này với các vị thần khác cùng  
được thờ tại Bất Di, chứ vốn không có tên hiệu như vậy trong sắc phong).  
Kết hợp hai điểm một và hai ở trên, chúng ta có thể phỏng đoán rằng, năm  
1864, người Bất Di sang Giáp Ba đã được nhận bản sao hay được phép sao ngọc  
phả chữ Hán do Nguyễn Tuấn Tham soạn. Bởi vậy, bản tóm tắt thần tích của Bất Di  
ghi bằng Hán văn, và nhắc đến cái tên hiệu Quế Hoa tiên chúa như thấy trong hai  
bản ngọc phả (trong ngọc phả Nga Sơn là Hoàng Quế Hoa nương hay Hoàng Quế  
Hoa công chúa để nhấn mạnh đến yếu tố họ Hoàng, trong ngọc phả Nghĩa Hưng  
thì là Quế Hoa công chúa). Có lẽ Quế Hoa công chúa là gắn với lớp thần tích sớm  
do Nguyễn Tuấn Tham soạn (lớp thần tích ghi lại hành trạng trong đời thực của  
thần), còn Quế Anh phu nhân là gắn với lớp thần tích muộn (vốn là lớp thần tích  
sớm nhưng đã có chịu ảnh hưởng ngược lại từ sắc phong của triều Nguyễn). Như  
vậy, chúng ta có thể mường tượng đến một quá trình vận động từ Hoàng Quế Hoa  
công chúa 黄桂花公主 sang Quảng Cung Quế Anh phu nhân 廣宫桂英夫人. Đó  
là quá trình từ một con người cá nhân của một dòng họ có cuộc đời đích thực đến  
một vị thần được quốc gia công nhận.  
31  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Bất Di nhận từ Giáp Ba vào năm 1864 một bản ngọc phả hay thần tích bằng  
Hán văn vốn do Nguyễn Tuấn Tham soạn, rồi đến năm 1938, cứ thể phỏng theo mà  
tóm tắt lại bằng Hán văn. Còn Giáp Ba thì không sử dụng bản ngọc phả Hán văn  
mình đang có, mà lại phối hợp cả nội dung của ngọc phả ấy với sắc phong đã được  
nhận từ triều đình mà viết ra một bản tóm tắt bằng Quốc ngữ/Nôm.  
Ba là, tên tục của thần được ghi trong bản khai của Giáp Ba là Thíu với mặt  
chữ Hán là 鷲. Với cách viết của chính tả hiện nay, mặt chữ này có thể được viết  
là Thứu (chữ Thứu trong Linh Thứu sơn 靈鷲山 - một địa danh nổi tiếng ở Ấn Độ  
gắn với Đức Phật Thích Ca). Như vậy, mặt chữ Hán trong bản khai năm 1938 của  
Giáp Ba có khác một chút với mặt chữ trong ngọc phả Nga Sơn và ngọc phả Nghĩa  
Hưng (như đã viết ở trên, là chữ 蹴, đọc là Thúc). Bản khai năm 1938 của Bất Di  
thì không ghi tên tục của thần.  
Ảnh 10: Tóm tắt thần tích trong bản khai của Giáp Ảnh 11: Tóm tắt thần tích trong bản khai  
Ba năm 1938 (trang đầu).(20)  
của Bất Di năm 1938 (trang đầu).(21)  
Bản tóm tắt thần tích của thánh mẫu thấy trong hai bản khai năm 1938 này  
về cơ bản giống như trong ngọc phả Nga Sơn và ngọc phả Nghĩa Hưng: năm sinh  
(Đinh Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 28), năm mất (Kỷ Mùi), hưởng dương 33 tuổi (hóa  
ngày 9 tháng 3), kết duyên cùng ông họ Mai, các linh dị lúc sinh tiền và khi hóa.  
Tất cả các tư liệu đã giới thiệu ở trên đây là mảng tư liệu có vai trò hàng  
đầu trong việc nghiên cứu về lần giáng sinh thứ ba của thánh mẫu kết nối cả hai  
miền Nga Sơn và Nghĩa Hưng (gồm ngọc phả hay thần tích sớm, thần tích muộn  
trong bản khai năm 1938, sắc phong nguyên vật, sắc phong bản sao). Dù được bảo  
quản ở các nơi cách xa nhau, dưới các hình thức công và tư khác nhau, nhưng về  
cơ bản là khớp nhau về hành trạng của thánh mẫu. Tiếp theo, chúng ta sẽ đến với  
32  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
một mảng tư liệu nguyên vật quan trọng khác hiện đang được bảo quản ở các địa  
phương, đó là bi ký.   
3. Bi ký nguyên vật hiện còn ở Nga Sơn và Nghĩa Hưng  
So với mảng tư liệu giấy dạng viết tay (chưa được in ấn) thường ở tình trạng  
sao đi chép lại qua nhiều người nhiều lần, thì bi ký nguyên vật có một giá trị vượt  
trội ở chỗ giúp người đời sau dễ dàng hơn trong việc xác định niên đại của văn bản  
hay thông điệp mà nó truyền tải. Ngoài giá trị truyền đạt và lưu giữ thông tin bằng  
văn tự được khắc ở trên, mỗi tấm bia còn là một tác phẩm nghệ thuật phản ánh  
trình độ kỹ thuật chế tác đá hay các vật liệu thay thế, cũng như bày tỏ xu hướng  
thẩm mỹ của các thời đại. Ngay cả khi một bia đá được dựng ở đời sau mà khắc  
một bài văn có trước đó cả vài thế kỷ, hay một bia đá vốn đã lập vài thế kỷ trước  
mà được người đời sau khắc lại do đã quá mờ, thì cũng có giá trị tham khảo đặc  
biệt. Trong lĩnh vực nghiên cứu tín ngưỡng tứ phủ nói chung và tín ngưỡng Mẫu  
Liễu nói riêng, chúng ta cần chú trọng khai thác để sử dụng mảng bi ký nguyên vật  
này - hiện vẫn chưa có được nhiều thành quả nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống.  
Liên quan đến lần giáng sinh thứ ba của thánh mẫu, hiện chúng tôi phát hiện  
được 4 tấm bia nguyên vật hiện đang được lưu giữ tại Nga Sơn và Nghĩa Hưng. Một  
tấm mang niên đại thời Lê (Cảnh Hưng) hiện nằm ở vườn của gia đình ông Nguyễn  
Hoàng Thược (con trai là Nguyễn Hoàng Hồng) đã trình bày ở trên, tạm gọi là bi ký  
Nga Châu. Ba tấm còn lại mang niên đại thời Nguyễn (Tự Đức, Thành Thái) hiện  
nằm trong khuôn viên của Phủ Giáp Ba, tạm gọi nhóm này là bi ký Giáp Ba.  
Từ niên đại của bi ký Nga Châu (Cảnh Hưng 23 tức năm 1762) sớm hơn cả  
năm sinh của thánh mẫu (Cảnh Hưng 28) tới mấy năm, có thể thấy đây là bi ký  
không có liên quan đến truyền thuyết sinh hóa của thánh mẫu. Tuy vậy, sự tồn tại  
của tấm bia này cũng có giá trị ít nhiều trong liên hệ với dòng họ Hoàng mà thánh  
mẫu đã “mượn cửa” thác sinh, nên chúng tôi vẫn giới thiệu đôi nét ở dưới. Còn ba  
tấm bi ký Giáp Ba, thì một trong số đó có lược ghi sự tích của thánh mẫu, tuy hiện  
trạng của bia không được tốt.  
3.1. Bi ký Nga Châu (1762, có thấy địa danh Tây Mỗ/Tây Mụ)  
Bia hiện được bảo quản trong nhà bia có mái che ở vườn trước sân của gia  
đình. Bản thân bia trở thành một đối tượng được thờ, gia đình có đặt hai bát hương  
ở mặt trước, vào mùng một và rằm hàng tháng hay khi có việc cần kêu cầu thì dâng  
hương hoa (xem Ảnh 12).  
Bia mang tiêu đề Thùy huấn bi 垂訓碑 (tạm hiểu là Bia ghi lời răn truyền  
cho mai sau), có kích thước nhỏ (kích thước trong lòng 54cm × 36,5cm, dày là  
13,5cm). Mặt trước có khắc 18 dòng chữ Hán, nhưng tình trạng rất xấu, một số  
dòng và nhiều chữ đã mờ hẳn không đọc được. Mặt sau chỉ có một dòng khắc niên  
33  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
Ảnh 12: Bia đá trong vườn gia đình họ  
Ảnh 13: Lòng bia ở mặt trước (tác giả  
Nguyễn Hoàng ở Nga Châu (6/2011).  
có gia bút ở 3 chỗ).  
đại: Cảnh Hưng nhị thập tam niên tuế thứ Nhâm Ngọ ngũ nguyệt - - - (- - - tháng 5  
năm Nhâm Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng 23).  
Do lòng bia mặt trước mòn chữ, đặc biệt câu đầu tiên mòn gần toàn bộ, nên  
hiện nay chúng tôi chưa biết chính xác đây là bia cho đền phủ hay di tích nào. Ghép  
những đoạn còn đọc được, thì tạm phỏng đoán rằng, đây là bia ghi số ruộng đất của  
ai đó gửi hậu cho dòng họ Hoàng ở Tây Mỗ thuộc Nga Sơn, hoặc là liệt kê các thửa  
ruộng đã nhận hậu của dòng họ này, và lời nguyền không được tự ý bán đứt hay di  
dời số tài sản đó. Có thể đọc rất rõ các chữ như Nga Sơn Tây Mụ 峩山西姥, Tây Mụ  
xã 西姥社, Hoàng thị tộc 黄氏族, Hoàng Tiên 黄仙. Bia này hiện chưa có thác bản  
tại kho của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng như các cơ quan quản lý văn  
hóa huyện Hà Trung hay tỉnh Thanh Hóa, cũng không được văn nhân địa phương  
chép vào một số tập sách liên quan đến Thanh Hóa (như Ái Châu bi ký hay Thanh  
Hoa danh thắng lục), bởi vậy, khó hy vọng có thể đọc được bản đầy đủ của nó.  
Bi ký Nga Sơn rõ ràng là không có quan hệ trực tiếp tới câu chuyện về thánh  
mẫu vốn là người con gái họ Hoàng. Tuy nhiên, nó có thể cho chúng ta phỏng đoán  
về dòng họ Hoàng ở Tây Mỗ ngay trước thời điểm người con gái này được sinh ra:  
phải chăng đó vốn là một gia tộc có tài sản và thế lực ở địa phương? Và như vậy,  
theo phong tục hôn nhân trước đây, gia đình họ Mai mà người con gái họ Hoàng  
về làm dâu cũng là đủ môn đăng hộ đối.  
Về lai lịch của tấm bia này cũng như của bản ngọc phả Nga Sơn đã trình bày  
ở trên, hiện chúng tôi chưa nắm được rõ, bởi có những vấn đề thuộc về quan hệ  
trong lịch sử và đương đại giữa dòng họ Hoàng ở Tây Mỗ (xã Hà Thái) với dòng  
họ Nguyễn Hoàng ở Nga Châu (xã Hà Châu) cần phải tiếp tục tìm hiểu.  
34  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (135) . 2017  
3.2. Bi ký Giáp Ba (1871-1892, có ghi về Đệ tam tiên chúa)  
Phủ Giáp Ba (của làng Giáp Ba) nằm ngay cạnh Phủ Tổ (của gia đình họ Mai  
làng Giáp Ba(22)), cả hai đều thờ Đệ tam thánh mẫu, vốn đã bị hư hại và cùng được  
trùng tu từ đầu thập niên 1990 (xem Ảnh 14). Ba tấm bia mang văn tự Hán Nôm  
hiện còn ở khu vực Phủ Giáp Ba và Phủ Tổ ngày nay đều là bia của Phủ Giáp Ba  
trước đây (xem Ảnh 15). Cả ba mang niên đại thời Nguyễn trong khoảng từ năm  
Tự Đức 24 (1871) đến năm Thành Thái 4 (1892), như vậy đều muộn hơn năm Tự  
Đức 10 (1857), tức là muộn hơn niên đại ghi trên bản sao sắc phong thứ nhất cho  
làng Giáp Ba như đã giới thiệu ở trên. Có nghĩa là, đây là nhóm bi ký được khắc và  
dựng tại Phủ Giáp Ba sau khi Đệ tam tiên chúa đã chính thức được triều Nguyễn  
công nhận bằng sắc phong. Đồng thời, cũng có nghĩa là bia ra đời sau thời điểm  
huyện Thiên Bản đổi tên thành huyện Vụ Bản (đổi tên năm Tự Đức 15 = 1862).(23)  
Ảnh 14: Quang cảnh của tam quan Phủ Giáp Ba (trái) và Phủ Tổ (phải) hiện nay.(24)  
Cả ba đều là bia khổ trung bình (cao trên dưới 120cm và rộng trên dưới  
70cm). Trong đó, có hai tấm mang niên đại Tự Đức được gắn lên bức tường rào  
ngăn cách giữa Phủ Giáp Ba với Phủ Tổ (tạm gọi là “Bia 1” và “Bia 2”), mặt trước  
hướng về Phủ Giáp Ba, mặt sau hướng về Phủ Tổ. Tấm còn lại (tạm gọi là “Bia 3”)  
mang niên đại Thành Thái, vẫn tạm nằm ở trên bãi đất trống trước cổng Phủ Giáp  
Ba, là bia do người dân ở trong làng mới đem trả lại cho Phủ Giáp Ba gần đây.  
Dưới đây, chúng tôi lần lượt giới thiệu ba tấm bia theo trình tự thời gian.  
(1) Bia thứ nhất (1871): Bia gắn trên tường ngăn giữa Phủ Giáp Ba và Phủ Tổ,  
đánh số là “Bia 1”. Bia cao 118cm, rộng 63cm (kích thước lòng bia là 84cm × 52cm),  
hai mặt viết chữ Hán Nôm. Mặt trước quay về phía Phủ Giáp Ba, mang tiêu đề  
Tập Phúc Hội bi ký 集福會碑記 (Bài ký của Hội Tập Phúc) ở trên trán bia (xem  
Ảnh 16). Trong lòng bia có 18 dòng văn tự nhưng bị mòn tương đối nhiều. Mặt sau  
quay về phía Phủ Tổ ghi niên đại dựng bia là Tự Đức nhị thập tứ niên tam nguyệt  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 36 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 24800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Về kết cấu kép ở trung tâm của truyền thuyết hệ thần liễu hạnh qua khảo sát thần tích đệ tam tiên chúa được phụng thờ ở Nga Sơn và Nghĩa Hưng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfve_ket_cau_kep_o_trung_tam_cua_truyen_thuyet_he_than_lieu_ha.pdf