Cộng đồng với việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể

ꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ ꢇꢈꢆ ꢇꢂꢆ ꢉꢊꢅꢁꢋꢆꢌꢍꢅꢁꢆꢎꢏꢅꢁꢆꢐꢑꢒꢆꢐꢒꢓꢔꢆꢕꢖꢗꢆꢘꢏꢅꢙꢙꢙ  
6
CỘNG ĐỒNG VỚI VIỆC  
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢀꢅꢆ ꢇꢅꢆ ꢂꢅꢆꢈꢉꢀꢁꢊ  
TÓM TẮT  
Từ nhận thức cộng đồng là chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ sở hữu di sản văn hóa, có quyền tự ý thức về bản  
sắc văn hóa của mình, bài viết tiếp cận vai trò của cộng đồng với việc bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể, được  
thể hiện tại bảo tàng và ngay chính trong cộng đồng.  
Từ khóa: di sản văn hóa phi vật thể; cộng đồng chủ thể; cộng đồng khách thể.  
ABSTRACT  
From the awareness of key role of local community in cultural creatity, heritage owners, and have the right  
to their cultural identities, the paper approaches the role of community in safeguarding cultural heritage  
through museums and at communities.  
Key words: Intagible cultural heritage; local community; outside community.  
ại Hội nghị quốc tế về lĩnh vực Chính sách văn rất cần đến sự hợp tác và tham gia của cộng đồng,  
hoá (1982), khái niệm bản sắc văn hoá được để việc giới thiệu những sưu tập hiện vật, các giá trị  
Tđưa vào các chính sách văn hoá toàn cầu, nêu  
di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được đa dạng,  
sống động hơn. Từ đó, quá trình tái hiện bản sắc của  
các cộng đồng thông qua các hiện vật, các không  
gian tồn tại của di sản và thông qua sự thể hiện,  
trình diễn và giới thiệu của chính cộng đồng -  
những hiện vật sống sẽ mang đến cho khách tham  
quan cái nhìn chân xác về bản sắc văn hoá của cộng  
đồng, thúc đẩy quá trình giao lưu văn hoá giữa các  
cộng đồng. Nhờ đó, di sản văn hoá của cộng đồng  
chủ thể không những được bảo tồn bền vững, mà  
còn có cơ hội được giới thiệu và quảng bá rộng rãi,  
mang lại lợi ích tinh thần và vật chất cho cộng đồng.  
1. Khái niệm cộng đồng  
rõ: “sự bình đẳng và chân giá trị của tất cả các nền  
văn hoá phải được ghi nhận, cũng như quyền lợi của  
mỗi cá nhân và cộng đồng trong quá trình khẳng  
định và giữ gìn bản sắc văn hoá phải được tất cả  
chúng ta tôn trọng”. Hơn ai hết, cộng đồng là người  
hiểu rõ nhất về bản sắc văn hoá của họ và có quyền  
trước hết trong việc lựa chọn đối tượng văn hoá mà  
họ muốn bảo tồn. Việc bảo tồn di sản văn hoá có sự  
tham gia của cộng đồng, dựa vào cộng đồng và vì  
cộng đồng cũng là phương pháp hiệu quả để lưu  
giữ và phát huy các di sản văn hoá vật thể và phi vật  
thể mà cộng đồng nắm giữ. Cộng đồng - những  
người nắm giữ tri thức, ký ức và lịch sử cần có sự hỗ  
trợ của các tổ chức, các thiết chế văn hoá để biến  
những truyền thống văn hoá của họ thành đối  
tượng trưng bày, giới thiệu ra thế giới bên ngoài.  
Ngược lại, các tổ chức và các thiết chế văn hoá cũng  
Cộng đồng* đã xuất hiện và tồn tại trong suốt  
quá trình phát triển của loài người. Cộng đồng có  
thể được hiểu là một nhóm xã hội của các cá thể  
sống chung trong một môi trường và có cùng một  
mối quan tâm: niềm tin, nhu cầu, nguy cơ, các mối  
ưu tiên... ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống  
nhất của các thành viên trong nhóm. Theo từ điển  
* Cục Di sản văn hóa  
ꢚꢛꢆꢜꢆ !"#ꢆ$ꢆ%&ꢜ'ꢆ$ꢆ()ꢆ*ꢂ+ꢅꢆꢔꢇꢂꢅꢁ  
của Vancouver Community Network (VCN), cộng và những người cùng cư trú ở một khu vực địa lý, có  
đồng được hiểu theo các dạng thức, như: 1. “Một những đặc tính chung về văn hóa, xã hội, cùng thừa  
nhóm người sống trong một khu vực địa lý nhất nhận một di sản văn hóa là tài sản của họ và một di  
định”; 2. “Một nhóm người có chung những đặc sản văn hóa phi vật thể nhất định là bản sắc văn  
điểm sắc tộc, tôn giáo”; 3. “Một nhóm người có hóa của họ.  
7
chung sự sở hữu”; 4. “Một nhóm người/quốc gia có  
Có nhiều loại và nhiều dạng thức cộng đồng  
lợi ích chung”; 5. “Một nhóm người có chung một người đã và đang tồn tại trong xã hội. Những loại và  
thành phần trong ngành nghề”; 6. “Một nhóm dạng thức cộng đồng đó không chỉ khác nhau về  
người có chung những thoả ước, thoả thuận”; 7. bản sắc, hình thức tổ chức, nguyên tắc vận hành mà  
“Một nhóm các sinh vật sống ở cùng một nơi và còn đóng những vai trò khác nhau trong đời sống  
tương tác với nhau” (sinh thái)1.  
con người. Hơn nữa, những loại hình và dạng thức  
Theo quan điểm của Keith W. Sproule và Ary S. khác nhau, vô cùng phong phú đó của cộng đồng  
Suhand (1998): “Cộng đồng là một nhóm người, lại không chỉ tồn tại bên cạnh nhau mà còn lồng  
thường sinh sống trên cùng một khu vực địa lý, tự ghép, đan xen, tích hợp vào trong nhau, với những  
xác định mình thuộc về cùng một nhóm. Những mối tương tác đa chiều và phức tạp. Nhưng cho dù  
người trong cùng một cộng đồng thường có quan khác nhau đến đâu thì những loại hình và dạng  
hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc thức cộng đồng đó đều có một điểm chung: sức cố  
cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị”2. kết và bản sắc của cộng đồng, hay nói cách khác,  
Schmink (1999) lại đưa ra định nghĩa: “Cộng sức sống của các cộng đồng đó đều dựa trên cường  
đồng là tập hợp một nhóm người chung địa bàn cư độ của ý thức cộng đồng, trên cơ sở của bốn yếu  
trú và có quyền sử dụng các tài nguyên thiên nhiên tố: 1. Tư cách thành viên (Membership); 2. ảnh  
ở địa phương”3.  
hưởng (Influence); 3. Sự hội nhập và đáp ứng các  
Tại Hội nghị quốc tế về di sản văn hoá phi vật yêu cầu (Integration and Fulfillment of needs); 4. Sự  
thể năm 2002, UNESCO đã thống nhất định nghĩa gắn bó, chia sẻ tình cảm (Shared emotional con-  
về cộng đồng như sau: “Cộng đồng là những người nection)4. Đó là những yếu tố cơ bản để tiếp cận  
tự ý thức về sự gắn bó lẫn nhau, điều này được thể cộng đồng và nghiên cứu phát huy vai trò cộng  
hiện ở ý thức về bản sắc chung hoặc các hành vi đồng trong mối quan hệ với di sản văn hoá nói  
chung, hoặc các hoạt động chung và lãnh thổ chung và di sản văn hoá phi vật thể nói riêng.  
chung”, bao gồm:  
2. Cộng đồng với việc bảo vệ di sản văn hóa  
- Cộng đồng văn hoá: là một cộng đồng mà  
Trong lĩnh vực di sản văn hoá, bảo vệ được hiểu  
thông qua văn hoá của mình, qua cách tiếp cận văn là hành động có ý thức nhằm lưu giữ những di sản  
hoá hoặc qua sự biến thể từ văn hoá chung mà văn hoá vật thể và phi vật thể. Từ lâu, việc bảo vệ di  
được phân biệt với các cộng đồng khác;  
sản đã trở thành một hoạt động không thể thiếu  
- Cộng đồng bản địa: là một cộng đồng mà các của xã hội văn minh. Bảo vệ di sản với tư cách là một  
thành viên thuộc cộng đồng này cho rằng, họ có bộ môn khoa học, hoạt động với mục đích giữ gìn,  
nguồn gốc từ một khu vực lãnh thổ nhất định;  
- Cộng đồng địa phương: là một cộng đồng để làm sống lại trong thời kỳ đương đại và tiếp tục  
sống ở một địa phương nhất định. chuyển giao cho thế hệ mai sau. Hiến chương Burra  
bảo lưu các tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ,  
Tiếp cận từ góc độ di sản văn hoá, cộng đồng ở (1999) chỉ rõ: "Mục đích của bảo tồn là duy trì giá trị  
đây được hiểu là tập hợp những người có mối quan văn hoá của một địa điểm; bảo tồn là một phần  
hệ gắn bó mang tính lịch sử, có chung nhận thức không thể tách rời của việc quản lý tốt các địa điểm  
về bản sắc văn hoá và cùng tham gia vào việc sáng có giá trị văn hoá… (Điều 2)5; Công ước về bảo vệ di  
tạo, lưu giữ, bảo tồn di sản của cộng đồng.  
sản văn hóa phi vật thể (2003) của UNESCO lại yêu  
Trên cơ sở các nghiên cứu trên, có thể đưa ra cầu: “Trong khuôn khổ các hoạt động bảo vệ di sản  
một định nghĩa khái quát về cộng đồng như sau: văn hóa phi vật thể, mỗi quốc gia thành viên cần  
Cộng đồng là một tập hợp những chủ thể văn hóa phải nỗ lực để đảm bảo khả năng tham gia tối đa  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ ꢇꢈꢆ ꢇꢂꢆ ꢉꢊꢅꢁꢋꢆꢌꢍꢅꢁꢆꢎꢏꢅꢁꢆꢐꢑꢒꢆꢐꢒꢓꢔꢆꢕꢖꢗꢆꢘꢏꢅꢙꢙꢙ  
của các cộng đồng, nhóm người và trong một số động của bảo tàng và hơn thế nữa, tạo sự gắn kết  
trường hợp là các cá nhân đã sáng tạo, duy trì và xã hội nhờ việc tôn vinh những di sản văn hóa đã  
chuyển giao loại hình di sản này và cần phải tích cực được chính cộng đồng - chủ thể văn hoá công  
lôi kéo họ tham gia vào công tác quản lý” (Điều 15)6. nhận. Từ đó, không chỉ giúp xác định, nhận diện di  
Nhận thức được di sản văn hoá là đối tượng duy sản và cộng đồng nắm giữ di sản, mà còn thiết lập  
nhất và không thể thay thế, nên các cộng đồng dân được hệ thống tri thức liên quan đến di sản văn hóa  
tộc ở các quốc gia trên thế giới đều có trách nhiệm phục vụ chính cộng đồng.  
8
bảo vệ và lưu giữ cho tương lai. Ngược lại, trong  
Bảo tàng và cộng đồng có mối quan hệ phụ  
công cuộc bảo vệ này, di sản văn hóa phải được gắn thuộc lẫn nhau. Một mặt, các cộng đồng cần biết  
với con người và cộng đồng cư dân địa phương (với đến lịch sử và bản sắc của họ, có nhu cầu bảo vệ và  
tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu phát huy chúng trong các bảo tàng; mặt khác, bảo  
tài sản văn hóa), coi việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tàng lại cần đến công chúng để giới thiệu sự đa  
văn hóa lành mạnh của đông đảo công chúng dạng của các cộng đồng, để khẳng định và giới  
trong xã hội là mục tiêu hoạt động. Có hai hình thức thiệu bản sắc văn hoá của cộng đồng cũng như sự  
mà qua đó, vai trò cộng đồng với việc bảo vệ di sản hiện diện của họ. Không gian bảo tàng là địa điểm  
văn hoá có thể được thể hiện, đó là cộng đồng bảo quan trọng và có ưu thế đối với việc lưu giữ và  
vệ di sản văn hóa thông qua bảo tàng và bảo vệ di quảng bá giá trị các di sản văn hóa, nhưng nó sẽ  
sản văn hoá ngay tại cộng đồng.  
không còn ý nghĩa nếu không có sự liên kết với các  
2.1. Cộng đồng bảo vệ di sản văn hóa tại cộng đồng trong việc giới thiệu các di sản đó. Bảo  
bảo tàng  
tàng đại diện cho nguyện vọng của người dân,  
Sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động không chỉ trong việc bảo tồn những hiện vật có ý  
của bảo tàng là một yếu tố quan trọng để kết nối nghĩa đặc biệt với cộng đồng của họ, mà còn  
khoảng cách giữa di sản văn hoá, chủ thể di sản văn trong việc bảo vệ và trưng bày những yếu tố mang  
hoá, cơ sở bảo tàng và khách thể văn hoá. Bảo tàng giá trị bản sắc hầu như chưa được biết đến, hay  
phải tạo được chỗ đứng trong cộng đồng, nghĩa là chưa được giới thiệu đầy đủ và có nguy cơ biến  
hợp tác với cộng đồng địa phương trên cơ sở các mất. Đó là những truyền thống văn hoá sống của  
lĩnh vực hoạt động của bảo tàng. Cộng đồng mà cộng đồng, cùng với cộng đồng, bảo tàng cũng  
bảo tàng đang phục vụ đồng thời cũng chính là giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển  
cộng đồng bản địa - các chủ thể văn hoá, những và duy trì. Từ góc độ bảo tàng học, đây được coi là  
người sẽ đóng góp rất nhiều vào sự phát triển của phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát  
bảo tàng. Bảo tàng được biết đến với vai trò là nơi triển bảo tàng, còn dưới góc độ di sản văn hoá,  
giữ gìn di sản văn hoá, và cộng đồng có vai trò đây là phương pháp bảo tàng hoá di sản văn hoá  
tham gia vào các hoạt động của bảo tàng như đóng trong cộng đồng.  
góp các sưu tập hiện vật hay các di sản văn hoá và  
Trên thế giới, phương pháp tiếp cận dựa vào  
giới thiệu các di sản văn hoá đó một cách sống cộng đồng đã được nhiều bảo tàng áp dụng, cho dù  
động nhất. Chính vì thế, bảo tàng cần sử dụng cộng còn khá mới mẻ và liên tục đổi mới, nhưng đã đạt  
đồng và di sản văn hoá của cộng đồng như các sưu được một số thành công nhất định. Thành quả đáng  
tập hiện vật để khuyến khích cộng đồng tìm hiểu kể nhất là các bảo tàng và cộng đồng đều đúc kết  
về lịch sử và bản sắc văn hoá của chính họ cũng như được những kinh nghiệm và kiến thức bản địa trong  
của các cộng đồng khác. Cộng đồng cần được nhìn việc cùng chia sẻ mục tiêu bảo tồn di sản văn hoá.  
nhận như đối tác liên quan chính với bảo tàng, Có thể kể đến kinh nghiệm của một số bảo tàng sau:  
thậm chí, có quyền quyết định trong việc diễn giải  
những sưu tập hiện vật đang được trưng bày, chứ  
Bảo tàng cộng đồng Anacostia ở Washington (Mỹ):  
Đây là bảo tàng được xây dựng với mục tiêu  
không chỉ đơn thuần là đối tượng nghiên cứu thụ tiếp cận một cộng đồng người Mỹ gốc Phi ở Wash-  
động. Như thế, bảo tàng sẽ đạt được mục tiêu là tạo ington D.C., để khuyến khích họ đến thăm Viện  
dựng niềm tin ở công chúng, xã hội hoá các hoạt Bảo tàng Smithsonian. Smithsonian đã mua lại  
ꢚꢛꢆꢜꢆ !"#ꢆ$ꢆ%&ꢜ'ꢆ$ꢆ()ꢆ*ꢂ+ꢅꢆꢔꢇꢂꢅꢁ  
9
,ꢍꢒꢆ ꢉ-.ꢅꢁꢆ(/0ꢆ (ꢗꢅꢁꢆ1ꢒ2ꢅꢝꢆ,4ꢆꢀꢍꢒ#ꢆ$ꢆ%&ꢜ!ꢆ$ꢆꢞꢅꢇꢋꢆꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ ꢇꢟꢔ  
Nhà hát Carver trong khu phố Anacostia để biến Chuyện về người da đen trong Phong trào Tây  
nó thành một dạng bảo tàng và tìm cách hỗ trợ phương, Chuyện về người khám phá và định cư ở  
cộng đồng, cư dân địa phương Anacostia có thể phía Tây nước Mỹ… thông qua những ký ức của  
cùng tham gia dự án. Ở đây, cộng đồng làm việc chính cộng đồng7. Ngoài ra, theo đề xuất của cộng  
cùng các nhân viên dự án để xây dựng kế hoạch đồng Anacostia, Bảo tàng cũng tiến hành triển lãm  
cho các chương trình triển lãm, dựng phim tư liệu Các câu chuyện lịch sử của khu phố Anacostia, giới  
về cộng đồng, trong đó, cộng đồng được lựa chọn thiệu lịch sử hình thành khu Anacostia với những  
những đối tượng mà họ coi là bản sắc văn hoá của người Mỹ gốc Phi đầu tiên đến sinh sống ở đây, kể  
họ để trưng bày, trình chiếu, giới thiệu. Trong quá lại các cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng và dân  
trình hoạt động, với sự tham gia ngày càng nhiều sự cho người Mỹ gốc Phi tại Washington D.C., thậm  
của cộng đồng người Mỹ gốc Phi vào các hoạt chí là câu chuyện về vai trò của những nữ hộ sinh  
động của Bảo tàng, cùng với những đề xuất trực trong cộng đồng Anacostia8.  
tiếp đối với những di sản văn hoá mà họ muốn  
Như vậy, dựa vào cộng đồng, hoạt động trên  
bảo vệ và phát huy trong bảo tàng. Bảo tàng cộng nguyên tắc vì cộng đồng, Bảo tàng cộng đồng Ana-  
đồng Anacostia đã thực sự trở thành trung tâm costia đã vượt qua được những thách thức để thay  
lịch sử và văn hoá của người Mỹ gốc Phi tại Ana- đổi nhận thức, mở rộng quan điểm, tạo ra tầm nhìn  
costia, cụ thể như sau:  
mới và làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của cộng  
Bảo tàng đã tổ chức các cuộc triển lãm phản đồng về việc duy trì bản sắc của chính họ. Từ đó,  
ánh đời sống của cộng đồng Anacostia nói riêng tạo dựng mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa các  
trong lịch sử người Mỹ gốc Phi ở Washington, D.C. thành viên trong cộng đồng thông qua môi trường  
nói chung, với nhiều chủ đề, như: nhập cư, chế độ văn hoá của chính họ cũng như quan hệ giữa Bảo  
nô lệ, các quyền dân sự, âm nhạc và ẩm thực… tàng và cộng đồng, để bảo vệ và phát huy bền  
Cộng đồng Anacostia đã trực tiếp tham gia bằng vững bản sắc văn hoá của cộng đồng dân cư trong  
cách kể các câu chuyện trong triển lãm, như: khu vực Anacostia9.  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ ꢇꢈꢆ ꢇꢂꢆ ꢉꢊꢅꢁꢋꢆꢌꢍꢅꢁꢆꢎꢏꢅꢁꢆꢐꢑꢒꢆꢐꢒꢓꢔꢆꢕꢖꢗꢆꢘꢏꢅꢙꢙꢙ  
Có thể đánh giá, Bảo tàng cộng đồng Anacos- di sản của họ mang lại. Từ đó, thắt chặt mối quan  
tia đã làm rất tốt nhiệm vụ tôn vinh những giá trị hệ hợp tác giữa Bảo tàng và cộng đồng cũng như  
văn hóa sống của khu vực. Bảo tàng đã thành công phát triển ý thức về quyền quyết định tới hướng  
trong việc lôi kéo các công dân trong khu vực tham phát triển của Bảo tàng.  
10  
gia vào cuộc đối thoại văn hóa có gắn kết với cuộc  
Thành công của các bảo tàng nêu trên trong  
sống đương đại, nên đã thu hút được sự quan tâm việc gắn kết với cộng đồng địa phương để hỗ trợ  
của đông đảo công chúng. Trải qua nhiều thập niên việc giới thiệu di sản, cũng chính là thành công của  
hoạt động, bảo tàng đã gìn giữ và giới thiệu được cộng đồng đối với việc trực tiếp tham gia vào các  
nền văn hóa của địa phương, phát triển mối quan hoạt động bảo tàng và làm phong phú thêm nội  
hệ với cộng đồng và đẩy mạnh vai trò của cộng dung trưng bày của bảo tàng. Điều đó đã mang lại  
đồng với tư cách vừa là người giới thiệu, vừa là cơ hội cho bảo tàng và cộng đồng địa phương  
khách tham quan.  
trong việc:  
- Thu hút ngày càng nhiều khách tham quan;  
Bảo tàng Di sản Nias (Indonesia):  
Bảo tàng được thành lập với chức năng như  
một trung tâm văn hoá và quản lý công tác bảo  
- Tăng cơ hội học hỏi và phát triển;  
- Nâng cao năng lực quản lý và duy trì các bộ  
tồn các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của sưu tập của họ;  
Nias, Indonesia. Tại đây, các cán bộ Bảo tàng đã  
- Đa dạng hóa các hình thức trưng bày, giới  
phối hợp với nhiều cộng đồng trên khắp đảo thiệu các dạng đối tượng hiện vật và các bộ sưu tập.  
Nias, để hỗ trợ việc cải tạo những ngôi nhà truyền  
Mô hình hoạt động này tại các bảo tàng làm  
thống “Omo Niha”. Đây là kiến trúc truyền thống, tăng thêm sự tương tác giữa cộng đồng chủ thể  
hiện thân cho những đặc điểm cơ bản nhất trong văn hóa với cán bộ bảo tàng và khách tham quan,  
văn hoá truyền thống của Nias vì nó gắn liền với để cộng đồng tự giới thiệu những câu chuyện liên  
nhiều lĩnh vực của đời sống người dân nơi đây: tổ quan đến di sản văn hóa của họ từ quá khứ đến  
chức xã hội và kết cấu chính quyền (“Omo Niha” hiện tại và có thể cả tương lai. Vì thế, mô hình này  
của tộc trưởng là nơi ban hành pháp luật và duy cũng thúc đẩy sự gia tăng số lượng du khách, tác  
trì các phong tục tập quán), nghệ thuật và thẩm động đến sự tăng trưởng kinh tế và trực tiếp mang  
mỹ (kiến trúc đá cự thạch), niềm tin và giá trị tôn lại lợi ích cho cộng đồng.  
giáo (người Nias treo ảnh tổ tiên trong nhà để  
Từ những kinh nghiệm thực tiễn của các hoạt  
nhớ tới sự hiện diện và sức mạnh tinh thần của tổ động bảo tàng quốc tế nêu trên, có thể rút ra bài  
tiên). Vì thế, “Omo Niha” có ý nghĩa thiêng liêng, học cho các bảo tàng của Việt Nam như sau:  
là khởi nguồn cho niềm tự hào và là bản sắc văn  
- Với vai trò là dịch vụ dành cho công chúng,  
hoá của người Nias. Cùng với việc cải tạo nhà bảo tàng cần tôn trọng cộng đồng và các vấn đề  
truyền thống cho người dân, Bảo tàng còn tổ văn hoá có liên quan, nhằm phục vụ cũng như hỗ  
chức trưng bày nhiều loại hình và phong cách trợ cộng đồng một cách tốt nhất trong việc bảo vệ  
nhà truyền thống của họ với sự giúp đỡ và tham và phát huy di sản của họ;  
gia trực tiếp của những người thợ thủ công Nias.  
- Bảo tàng có thể bảo vệ hiện vật trong các bộ  
Ngoài ra, Bảo tàng còn hỗ trợ người dân Nias sưu tập của mình bằng việc trưng bày, bảo quản,  
phục hồi các nghề thủ công và nghệ thuật, nghi lưu giữ và chuyển giao cho các thế hệ mai sau. Còn  
lễ truyền thống và khuyến khích họ trình diễn tại một nền văn hóa đang sống chỉ có thể được bảo  
bảo tàng để khơi dậy niềm tự hào cũng như trình tồn và chuyển giao thông qua những tập quán xã  
diễn tại cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức của hội liên tục phát triển, được thể hiện ra bởi hoạt  
cộng đồng về bản sắc văn hoá mà họ đang nắm động của các thế hệ chủ thể văn hóa nối tiếp nhau.  
giữ. Nhờ đó, Bảo tàng và cộng đồng đã thành Do đó, dù bảo tàng thuộc loại hình nào cũng đều  
công trong việc bảo tồn và giới thiệu di sản văn cần đối thoại và xây dựng mối quan hệ đối tác  
hóa ra ngoài Bảo tàng và cộng đồng cũng được mạnh mẽ với những người nắm giữ di sản, để chia  
du khách biết đến, được hưởng lợi ích kinh tế do sẻ quyền và nghĩa vụ trong việc xác định và cùng  
ꢚꢛꢆꢜꢆ !"#ꢆ$ꢆ%&ꢜ'ꢆ$ꢆ()ꢆ*ꢂ+ꢅꢆꢔꢇꢂꢅꢁ  
nhau giới thiệu những giá trị truyền thống thông khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ cũng có  
qua các hoạt động bảo tàng;  
tác động không nhỏ đến sự tồn vong của di sản văn  
- Cần có sự kết hợp giữa nguyên tắc đạo đức hóa phi vật thể. Và, chính họ là nhân tố quyết định  
trong công tác quản lý bảo tàng và sự đồng thuận loại hình di sản văn hóa phi vật thể nào cần được  
của cộng đồng. Hoạt động của bảo tàng cần được bảo tồn, phương cách bảo tồn, sử dụng và khai thác  
gắn liền với cộng đồng địa phương để tạo điều chúng, nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa  
kiện cho người dân bảo tồn và quảng bá bản sắc của cá nhân và cộng đồng. Một di sản văn hoá phi  
văn hoá của cộng đồng. Bên cạnh đó, thông qua vật thể muốn duy trì được sức sống phải có ý nghĩa  
các triển lãm, trưng bày tại bảo tàng, cộng đồng với cộng đồng và liên tục được cộng đồng đó tái  
luôn được khuyến khích và truyền cảm hứng để tạo, lưu truyền từ đời này qua đời khác. Nói cách  
tìm hiểu thêm về truyền thống văn hoá của chính khác, di sản văn hoá phi vật thể do cộng đồng sáng  
mình, khơi dậy niềm tự hào về bản sắc và di sản tạo ra, tồn tại trong không gian sinh tồn/đời sống  
mà cộng đồng nắm giữ. Từ đó, một cách tự nhiên sinh hoạt hằng ngày của họ và chỉ được hiển  
nhất, cộng đồng tự hình thành ý thức trong việc hiện/bộc lộ ra thông qua thực hành của những con  
bảo vệ, trao truyền và phát huy các di sản văn hoá người cụ thể. Vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể sẽ bị  
11  
của cộng đồng mình.  
2.2. Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể trong thể văn hóa quan tâm hoặc không còn thực sự hữu  
cộng đồng dụng cho họ.  
Trong Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật Được xem như là một điểm tựa của di sản văn  
mai một, thậm chí biến mất nếu không được chủ  
thể (2003), UNESCO đã khẳng định vai trò quan hoá phi vật thể, cộng đồng là chủ sở hữu, là người  
trọng của cộng đồng trong việc bảo tồn di sản văn thực hành và là chủ thể văn hoá của di sản. Tuy  
hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói nhiên, những người ngoài cộng đồng - chủ thể văn  
riêng: không có văn hóa nếu không có người dân hoá, có thể là khách tham quan - người hưởng thụ  
và cộng đồng. Đồng thời, UNESCO cũng đánh giá di sản văn hóa phi vật thể, các nhà nghiên cứu hay  
cao sự tham gia tích cực và những tri thức sâu sắc quản lý di sản văn hóa phi vật thể… cũng có thể  
về di sản của người dân trong việc thực hành, góp phần bảo tồn di sản với vai trò hỗ trợ cộng  
truyền dạy và bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, coi đồng trong việc nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hoá  
đó là nguồn lực quan trọng nhất, có tính quyết định các thông tin liên quan tới di sản văn hoá phi vật  
trong sự nghiệp bảo tồn di sản.  
thể; phổ biến kiến thức và bảo vệ di sản thông qua  
Di sản văn hoá phi vật thể là những di sản sống các kênh giáo dục…  
mà trong đó, con người đóng vai trò chủ chốt trong  
Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản phi vật thể  
việc sáng tạo và truyền giữ. Sở dĩ di sản văn hoá phi một cách bền vững, cần có sự gắn kết, đồng  
vật thể có giá trị đặc biệt vì nó chính là kho tàng tri thuận tương đối của cả cộng đồng chủ thể và  
thức, kỹ năng được truyền từ đời này qua đời khác. cộng đồng khách thể của di sản văn hoá. Tuy  
Dù mong manh, nhưng di sản văn hoá phi vật thể nhiên, không phải lúc nào cũng cần bảo tồn hoặc  
là nhân tố quan trọng để bảo tồn sự đa dạng văn khôi phục các di sản bằng mọi giá. Cũng như các  
hoá trong quá trình toàn cầu hoá tăng nhanh. Do thực thể khác, di sản văn hoá phi vật thể phát  
đó, hiểu được di sản văn hoá phi vật thể của nhiều triển theo một vòng đời riêng và nếu có một di  
cộng đồng khác nhau sẽ giúp cho quá trình đối sản nào đó mất đi, thì đó cũng có thể coi là lẽ tự  
thoại giữa các nền văn hoá và thúc đẩy sự tôn trọng nhiên, bởi nó đã được chuyển hoá sang một dạng  
các phương cách sống khác nhau.  
biểu hiện mới. Cũng có khi, vì một số hình thức  
Di sản văn hóa phi vật thể tồn tại phụ thuộc rất của di sản văn hoá phi vật thể không còn phù hợp  
nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể hoặc không còn nhiều ý nghĩa với bản thân cộng  
sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản. Trong những đồng. Đó cũng là lý do mà Công ước 2003 cho  
trường hợp cá biệt, chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ rằng, chỉ những di sản nào được cộng đồng thừa  
sở hữu di sản là một cộng đồng cư dân, thì ý chí, nhận là của họ và mang lại cho họ ý thức về bản  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ ꢇꢈꢆ ꢇꢂꢆ ꢉꢊꢅꢁꢋꢆꢌꢍꢅꢁꢆꢎꢏꢅꢁꢆꢐꢑꢒꢆꢐꢒꢓꢔꢆꢕꢖꢗꢆꢘꢏꢅꢙꢙꢙ  
sắc và sự kế tục thì mới cần bảo tồn. Do đó, việc  
1. Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú được  
xây dựng hoặc áp dụng bất kỳ biện pháp bảo tồn hưởng các chính sách đãi ngộ sau đây:  
nào cũng phải được sự đồng ý tham gia của bản  
a) Được hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện thuận  
thân cộng đồng nơi nó tồn tại. Trong một số lợi về không gian, mặt bằng để tổ chức các hoạt  
trường hợp, sự can thiệp của công chúng vào việc động truyền dạy, sáng tạo, trình diễn, trưng bày,  
bảo tồn di sản của cộng đồng thậm chí không giới thiệu sản phẩm;  
12  
được khuyến khích, bởi có thể làm biến dạng giá  
trị của di sản đó đối với cộng đồng.  
b) Được giảm hoặc miễn thuế đối với hoạt động  
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể  
Tính đến tháng 6 năm 2015, Việt Nam đã có 08 theo quy định của pháp luật về thuế;  
di sản văn hóa và thiên nhiên, 10 di sản văn hóa phi  
c) Được hưởng trợ cấp sinh hoạt hằng tháng  
vật thể được UNESCO ghi danh. Nhận thức được vai và ưu đãi khác nếu có thu nhập thấp, hoàn cảnh  
trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn và phát khó khăn”12.  
huy giá trị các di sản thế giới (quy định tại Công ước  
Việc UNESCO ghi danh các di sản văn hóa phi  
về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (Điều vật thể của Việt Nam đã khơi dậy niềm tự hào và  
5); Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể khuyến khích mạnh mẽ cộng đồng có di sản, các  
(Điều 2, khoản b Điều 11 và Điều 15) và các văn bản cấp chính quyền địa phương và toàn xã hội thể  
hướng dẫn, chương trình, mục tiêu chiến lược của hiện vai trò trong việc bảo vệ di sản văn hóa của  
UNESCO), những năm qua, Việt Nam đã ban hành dân tộc, cụ thể như sau:  
nhiều chính sách hướng tới cộng đồng, cụ thể là:  
- Trường hợp di sản hát Ca trù: Trước khi lập hồ  
“1. Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ sơ trình UNESCO, di sản ở trong tình trạng bị mai  
đối với nghệ nhân có tài năng xuất sắc, nắm giữ và một trầm trọng sau một thời gian dài không được  
có công bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa thực hành, bởi nhiều lý do. Sau khi được UNESCO  
phi vật thể thông qua các biện pháp sau đây:  
ghi danh trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể  
a) Tặng, truy tặng Huân chương, danh hiệu cần bảo vệ khẩn cấp, số lượng câu lạc bộ và người  
vinh dự nhà nước và thực hiện các hình thức tôn tham gia thực hành đã tăng lên rất nhiều. Ở tỉnh  
vinh khác;  
Bắc Giang, tại thời điểm kiểm kê để lập hồ sơ trình  
b) Tạo điều kiện và hỗ trợ kinh phí cho hoạt UNESCO, không còn câu lạc bộ/giáo phường Ca trù  
động sáng tạo, trình diễn, trưng bày, giới thiệu sản nào tồn tại, chỉ còn lại 01 di tích liên quan tới Ca trù  
phẩm của nghệ nhân;  
(đã bị hư hại nặng), thì nay, được chính quyền  
c) Trợ cấp sinh hoạt hằng tháng và ưu đãi khác khuyến khích, tạo điều kiện, cộng đồng địa phương  
đối với nghệ nhân đã được phong tặng danh hiệu đã từng bước phục hồi các câu lạc bộ, mời nghệ  
vinh dự nhà nước có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó nhân giỏi nơi khác về truyền dạy. Bắc Giang đã  
khăn” (khoản 8 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số thành lập được 5 - 6 câu lạc bộ hát Ca trù, được tổ  
điều của Luật di sản văn hóa)10.  
chức, hoạt động thường xuyên.  
“Điều 5. Tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa phi vật  
Thực tế hiện nay, các cộng đồng, nhóm người  
thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể và cá nhân nắm giữ di sản Ca trù đang tích cực  
quốc gia: bảo vệ di sản, không chỉ thông qua việc tham gia  
1. Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng vào các hoạt động bảo vệ di sản của do Nhà nước  
đồng, địa phương; tổ chức, mà còn chủ động thực hiện các hoạt  
2. Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo động bảo vệ và phát huy giá trị di sản một cách tự  
của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ;  
3. Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài;  
phát, như tự nguyện thành lập nhiều câu lạc bộ  
Ca trù theo hình thức gia đình, thày trò, bạn bè…  
4. Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề (ở Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang…), mở rộng cơ  
cử và cam kết bảo vệ”11.  
hội thực hành cho các thành viên trong câu lạc  
“Điều 10. Chính sách đãi ngộ đối với Nghệ nhân bộ, tích cực khuyến khích và thu hút sự tham gia  
nhân dân, Nghệ nhân ưu tú: câu lạc bộ của thế hệ trẻ… Đến nay, cả nước có  
ꢚꢛꢆꢜꢆ !"#ꢆ$ꢆ%&ꢜ'ꢆ$ꢆ()ꢆ*ꢂ+ꢅꢆꢔꢇꢂꢅꢁ  
trên 60 câu lạc bộ Ca trù đang hoạt động, với sự ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể  
tham gia, tổ chức, vận hành tự túc của cộng đồng. đại diện của nhân loại, tỉnh Bắc Ninh chỉ có khoảng  
mấy chục câu lạc bộ còn sinh hoạt Quan họ; tỉnh Bắc  
Giang chỉ còn duy nhất một di tích cổ gắn với Quan  
họ cùng một số“qúa hiếm hoi”nghệ nhân Quan họ.  
Sau khi được vinh danh, tới nay, ở Bắc Ninh, có hơn  
300 câu lạc bộ do người dân yêu thích Quan họ tự  
thành lập, để thực hành và truyền dạy cho nhau.  
Tỉnh Bắc Giang nay cũng đã có 5 - 6 câu lạc bộ Dân  
ca Quan họ được thành lập và sinh hoạt đều đặn -  
khi bắt đầu thành lập, các câu lạc bộ này đã mời  
nghệ nhân ở địa phương khác về luyện tập và  
truyền dạy. Một số nơi (do thiếu nghệ nhân truyền  
dạy trực tiếp) đã tổ chức học và luyện tập qua băng,  
đĩa hình do các nhà nghiên cứu hay chính quyền địa  
phương cung cấp. Tại các làng ở 2 tỉnh Bắc Ninh và  
Bắc Giang, nơi có câu lạc bộ  
Cộng đồng cũng tự sưu tầm các bài bản cổ và tìm  
được 02 làn điệu ở mục bài bản thờ tổ nghề tại  
tỉnh Hải Dương. Một số câu lạc bộ, như: Câu lạc  
bộ Ca trù Hà Nội, Giáo phường Ca trù Thăng  
Long… đã tìm được hướng đi cho mình: các  
thành viên tự nguyện đóng góp kinh phí cho hoạt  
động của câu lạc bộ, duy trì sinh hoạt định kỳ, tổ  
chức trình diễn có thu lệ phí vé, để tự trang trải và  
đang dần ổn định hoạt động, được mời tham gia  
nhiều cuộc lưu diễn ở trong và ngoài nước… thu  
hút được các bạn trẻ và đã trở thành địa chỉ quen  
thuộc của du khách tới Hà Nội.  
13  
- Trường hợp di sản Dân ca Quan họ Bắc Ninh:  
Trước khi Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO  
Quan họ, các nghệ nhân sưu  
tầm, truyền dạy bài bản cho  
lớp kế cận và thường xuyên  
tổ chức các buổi sinh hoạt  
Quan họ, giao lưu biểu diễn  
với các địa phương khác.  
Lớp trẻ tham gia học hát  
Quan họ, đến khoảng 14, 15  
tuổi đã có thể hát đúng trên  
dưới 50 bài và đến 19, 20  
tuổi, đã trở thành những  
liền anh, liền chị Quan họ  
"biết ca đủ lối, đủ câu", bổ  
sung vào đội ngũ những  
người ca hát Quan họ thế hệ  
này sang thế hệ khác. Cộng  
đồng các làng Quan họ đều  
ý thức được vai trò của họ  
với việc bảo vệ di sản văn  
hóa Quan họ, nên ngoài  
việc tham gia vào các câu  
lạc bộ tại địa phương và  
giao lưu biểu diễn, nghệ  
nhân và những người yêu  
Quan họ còn tham gia vào  
các hoạt động kiểm kê để  
nhận diện di sản, cung cấp  
thông tin, giúp các nhà  
nghiên cứu tư liệu hóa di  
,ꢍꢒꢆ ꢉ-.ꢅꢁꢆ(/0ꢆ (ꢗꢅꢁꢆ1ꢒ2ꢅꢝꢆ,4ꢆꢀꢍꢒ#ꢆ$ꢆ%&ꢜ!ꢆ$ꢆꢞꢅꢇꢋꢆꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ ꢇꢟꢔ  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ ꢇꢈꢆ ꢇꢂꢆ ꢉꢊꢅꢁꢋꢆꢌꢍꢅꢁꢆꢎꢏꢅꢁꢆꢐꢑꢒꢆꢐꢒꢓꢔꢆꢕꢖꢗꢆꢘꢏꢅꢙꢙꢙ  
sản, tham gia truyền dạy, trình diễn, liên hoan do Với sự hỗ trợ của cơ quan quản lý văn hóa, các nghệ  
cộng đồng hoặc chính quyền tổ chức.  
nhân đã tổ chức các lớp truyền dạy về nghệ thuật  
- Trường hợp di sản Nhã nhạc - Âm nhạc cung biểu diễn cồng chiêng, kỹ thuật chỉnh chiêng. Các  
đình Việt Nam: Trên thực tế, Nhã nhạc không bị mai câu lạc bộ hay đội cồng chiêng vừa thực hành, vừa  
một mà còn có khuynh hướng phát triển rộng rãi truyền nghề trực tiếp cho những người yêu thích  
hơn ở Huế, vì nhu cầu phục vụ trong các lễ hội, cồng chiêng và thế hệ kế cận. Nhờ đó, số lượng  
tang ma, trai đàn ở Huế ngày càng cao. Các nghệ người thực hành cồng chiêng còn khá đông và văn  
nhân vẫn tiếp tục truyền nghề cho thế hệ trẻ và hóa cồng chiêng vẫn được thể hiện rõ nét trong đời  
những người có năng khiếu âm nhạc, có nhu cầu sống của đồng bào Tây Nguyên, bởi nó được gắn  
học nghề để phục vụ các buổi tế lễ trong dân gian. bó với những lễ nghi, sinh hoạt của cộng đồng.  
14  
Trong quá trình bảo vệ và phát huy những giá trị  
- Trường hợp di sản hội Gióng ở đền Phù Đổng  
của Nhã nhạc, ngoài các nghệ sỹ và những người và đền Sóc: Cộng đồng các làng Phù Lỗ, Thanh  
làm công tác nghiên cứu, các nghệ nhân đã cùng Nhàn, Xuân Lai (huyện Sóc Sơn), Phù Đổng (huyện  
tham gia vào việc gìn giữ, bảo tồn loại hình này, Gia Lâm), Đông Bộ Đầu (huyện Thường Tín), Xuân  
như: nghệ nhân Lữ Hữu Thi, Hồ Đăng Châu, Trần Tảo (huyện Từ Liêm), Cán Khê, Sơn Du, Đống Đồ  
Thảo, Nguyễn Đình Vân, Lê Viết Chính, Nguyễn Tấn (huyện Đông Anh), Hội Xá (quận Long Biên)… tham  
Hồng, Phạm Bá Diện… Các nghệ nhân, nhạc công gia thực hành, bảo tồn các lễ hội của làng xã với các  
có kinh nghiệm đã nhiệt tình trong việc truyền dạy nghi lễ, phong tục, trò diễn truyền thống liên quan  
các ngón nghề cho các nhạc công trẻ, đóng góp tới hội Gióng. Cộng đồng các làng tự thành lập các  
những tri thức, thông tin với tư cách là những nhân câu lạc bộ thờ tự thánh Gióng, trên cơ sở Ban khánh  
chứng lịch sử cho các đơn vị chuyên môn, nhằm tiết của các làng hiện nay để sinh hoạt và có sự  
lưu trữ, phân tích, phục vụ công tác bảo tồn. Đặc đồng thuận, thống nhất trong tổ chức và quản lý di  
biệt, họ đã tự lập ra Câu lạc bộ Âm nhạc Cung đình sản. Tuy đây là một lễ hội lớn, với sự tham gia thực  
Phú Xuân, với sự bảo trợ của chính quyền địa hành cùng lúc của hàng trăm người, song năm nào  
phương, làm nơi gặp gỡ định kỳ, trao đổi chuyên hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc cũng được  
môn, biểu diễn và giao lưu của các nghệ nhân, nhân dân các địa phương, làng xã trên hai địa bàn  
nhạc công và những người yêu thích, quan tâm tổ chức hết sức quy mô, thu hút hàng nghìn khách  
đến Nhã nhạc và âm nhạc truyền thống Huế. Hội tham quan. Cộng đồng chủ thể di sản hội Gióng đã  
đồng Nguyễn Phước tộc ở Huế cũng cử đại diện luôn thể hiện quyết tâm tiếp tục bảo vệ di sản đền  
tham gia Hội đồng Khoa học Nghệ thuật của Trung Gióng và hội Gióng (cả yếu tố vật thể và phi vật thể)  
tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế khi đánh giá, góp ý thông qua việc tự nguyện đóng góp để tu bổ hạ  
kiến cho các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan tầng cơ sở, duy trì và tự lo liệu toàn bộ việc tổ chức,  
đến Nhã nhạc, động viên và kêu gọi các thành viên thực hành lễ hội.  
có xuất thân từ hoàng tộc (trước đây) cung cấp,  
hiến tặng các hiện vật, tư liệu và thông tin liên  
Kết luận  
UNESCO đã khuyến nghị, động viên tích cực  
quan đến Nhã nhạc và lễ nghi cung đình cho các tới hoạt động bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể  
nhà nghiên cứu chuyên môn. ở cấp độ quốc gia với sự tham gia tích cực của các  
- Trường hợp di sản Không gian văn hóa cồng cộng đồng cư dân ở địa phương và Việt Nam đã  
chiêng Tây Nguyên: Cộng đồng các tộc người bản thực hiện nghiêm túc nguyên tắc quan trọng của  
địa có di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vẫn Công ước 2003 - nguyên tắc đồng thuận và tham  
thường xuyên thực hành di sản của mình trong các gia của cộng đồng:  
lễ hội, nghi lễ, sự kiện văn hóa nghệ thuật của địa  
- Thứ nhất, cộng đồng được tôn vinh với tư  
phương cũng như khu vực. Hiện nay, hầu hết các cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ sở hữu di  
buôn làng đều có câu lạc bộ, đội cồng chiêng, sản văn hóa;  
thường xuyên tham gia biểu diễn giao lưu với các  
- Thứ hai, cộng đồng có quyền tự ý thức về bản  
địa phương, các tỉnh khác hoặc liên hoan định kỳ. sắc văn hóa của mình;  
ꢚꢛꢆꢜꢆ !"#ꢆ$ꢆ%&ꢜ'ꢆ$ꢆ()ꢆ*ꢂ+ꢅꢆꢔꢇꢂꢅꢁ  
2- Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng,  
Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, H.  
- Thứ ba, cộng đồng có vai trò quan trọng trong  
việc nhận diện, xác định loại hình, đưa ra các quyết  
định và trực tiếp tham gia bảo tồn di sản văn hoá  
phi vật thể;  
3- Klaus.P.Hasen,“Văn hóa và Văn hóa học”, Thông báo Khoa  
học của Viện Văn hóa - Nghệ thuật (số 19).  
15  
4- Mc Millan, D.M. Chavis, “Sense of Community: A Defini-  
tion and Theory”, American Journal of Community Psychology,  
no.14 (1), 1986, tr. 5.  
Từ đó, có thể khẳng định, cộng đồng có vai trò  
to lớn trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị  
di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật  
thể nói riêng. Để phát huy tối đa nguồn lực xã hội  
quan trọng đó, chúng ta cần quán triệt quan điểm  
cơ bản là: tự nguyện, đồng thuận, tự do, bình  
đẳng và cùng có lợi. Vì dù tồn tại dưới bất cứ hình  
thức nào, gắn kết với nhau bằng yếu tố nào, cộng  
đồng cũng cần phát huy vai trò của mình vì mục  
tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, để  
công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thành  
sự nghiệp xuất phát từ cộng đồng và trở lại phục  
vụ cộng đồng./.  
5- Hiến chương Burra (1999), ICOMOS Australia.  
6- Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể (2003) của  
UNESCO.  
7- Mission and History, Anacostia Community Museum, Re-  
trieved 22 April, 2012, p. 3.  
8- Bass, Holly (March - April 2006), Camille Akeju, New Di-  
rector Seeks to Rejuvenate Anacostia Museum, Crisis: 37 - 39, Re-  
trieved 22 April, 2012, p. 37 - 39.  
9- Smithsonian Institution Archives, Anacostia Story Opens  
at Anacostia Museum, Torch, March 1977. p. 3. Retrieved 22  
April, 2012.  
ꢀꢋꢆꢋꢆꢋꢆ  
10- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá  
năm 2009.  
Chú thích:  
*- Theo Tiêu chuần quốc gia (TCVN 10382:2014) - Di sản văn  
hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa chung,  
cộng đồng là: “Một tập hợp những chủ thể văn hóa và những  
người cùng cư trú ở một khu vực địa lý, có những đặc tính  
chung về văn hóa, xã hội, cùng thừa nhận một di sản văn hóa  
phi vật thể nhất định là bản sắc văn hóa của mình”.  
1- cec.vcn.bc.ca/cmp  
11, 12- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm  
2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của  
Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật  
di sản văn hóa.  
(Ngày nhận bài: 15/12/2015; Ngày phản biện đánh giá:  
20/12/2015; Ngày duyệt đăng bài: 03/01/2016).  
ꢠ8ꢂꢊꢅꢆꢇꢡꢆꢁꢒꢊꢗꢆ ꢂꢃ2ꢅ;ꢆ$ꢆꢞꢅꢇꢋꢆꢌꢊꢗꢆ8ꢂ)  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 19040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cộng đồng với việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_dong_voi_viec_bao_ton_di_san_van_hoa_phi_vat_the.pdf