Căn cước Lịch sử của thánh mẫu: Phát hiện và luận giải đạo sắc phong cổ nhất mang niên đại 1683 cho liễu hạnh công chúa hiện còn nguyên tại phủ giầy ở Nam Định

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
24  
CĂN CƯỚC LỊCH SỬ CỦA THÁNH MẪU:  
PHÁT HIỆN VÀ LUẬN GIẢI ĐẠO SẮC PHONG CỔ NHẤT  
MANG NIÊN ĐẠI 1683 CHO LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA  
HIỆN CÒN NGUYÊN TẠI PHỦ GIẦY Ở NAM ĐỊNH  
Chu Xuân Giao*  
Tính từ bài viết mở đường vào năm 1914 của Đào Thái Hành cho đến nay, sau hơn  
một thế kỷ nghiên cứu, nghiêm túc nhìn lại thì chúng ta có thể thấy rằng, dù hệ thần Liễu  
Hạnh và tín ngưỡng hệ thần Liễu Hạnh có sức hấp dẫn rất lớn đối với học giới cả trong  
nước và quốc tế, nhưng lại có rất ít nghiên cứu thực hiện công việc khảo chứng kỹ lưỡng  
và hệ thống các nguồn tư liệu mang tính căn cước. Phần nhiều chỉ là các luận giải mang  
tính áng chừng, người sau đại khái sao chép lại người trước. Bởi vậy, ngay với hai câu hỏi  
cơ bản đầu tiên mà hiện nay chúng ta vẫn chưa có được lời giải thỏa đáng, đó là: 1. Danh  
xưng Liễu Hạnh (và các danh xưng liên quan) thực sự đã xuất hiện từ bao giờ? 2. Liễu  
Hạnh và hệ thần Liễu Hạnh đã chính thức được vương triều quân chủ nào công nhận đầu  
tiên thông qua việc ban tặng sắc phong? Bài viết này, trên cơ sở nghiên cứu điền dã dân  
tộc học kết hợp khảo chứng tư liệu thành văn với quan điểm coi trọng “chân thực riêng  
lẻ” và “ghi chép dày” trong nhiều năm qua về hệ thần Liễu Hạnh, muốn cung cấp những  
căn cứ gốc gác ngõ hầu góp phần giải đáp cho hai câu hỏi nêu trên. Chúng tôi chọn mảng  
sắc phong, và đặc biệt chú ý đến sắc phong dạng nguyên gốc còn lưu giữ được. Ở đây,  
do dung lượng bị giới hạn, nên mới chỉ tập trung vào sắc phong cho riêng Liễu Hạnh, mà  
cũng mới chỉ là một sắc phong sớm nhất cho riêng thánh địa Phủ Giầy ở Nam Định mà thôi.  
Lời mở: Sự thiếu vắng những nghiên cứu khảo chứng kỹ lưỡng và hệ  
thống về căn cước lịch sử của hệ thần Liễu Hạnh  
Nghiên cứu hiện đại về tín ngưỡng Mẫu Liễu (Bà chúa Liễu Hạnh, Thánh  
mẫu Liễu Hạnh, Liễu Hạnh công chúa) cả trên phương diện truyền thuyết và thực  
hành, như đã chỉ ra ở phần tổng quan lịch sử nghiên cứu trong một bài viết trước  
của chúng tôi [Chu Xuân Giao 2010b], có thể bắt đầu tính từ khảo luận bằng tiếng  
Pháp của Đào Thái Hành ở đầu thế kỷ XX. Ở thời điểm đó, vị Thư ký Hội đồng  
Nhiếp chính họ Đào(1) giới thiệu rằng, Liễu Hạnh là một trong “Tứ Bất Tử trên đất  
Việt Nam” (quatre Immortels qu’ait produit la terre annamite), và được thờ phụng  
ở nhiều đền thuộc Bắc Kỳ cũng như khu vực kinh đô Huế và phụ cận với tên gọi là  
“Thánh Mẫu”. Chữ “Thánh Mẫu” được viết nguyên bằng Quốc ngữ, và mở ngoặc  
dịch sang tiếng Pháp là “la Sainte Mère” (còn “Thánh mẫu Liễu Hạnh” thì được  
*
Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
25  
dịch thành “La Déesse Liễu - Hạnh”). Đào Thái Hành cũng nói rõ là mình biên  
soạn truyền thuyết về Thánh mẫu là dựa theo các tài liệu bằng chữ Hán Nôm như  
Hoàng Việt địa dư, Đại Nam nhất thống chí, Dã sử trong thư viện hoàng gia, đặc  
biệt là tác phẩm Vân Cát thần nữ tân truyện của Thị Điểm(2) và Thanh Hóa kỷ thắng  
của Vương Duy Trinh.(3) Về cơ bản, bản kể của Đào Thái Hành ở thời điểm năm  
1914 (tức năm Duy Tân 8) là theo sát bản kể tương truyền của Đoàn Thị Điểm, mà  
bản này đã được in khắc gỗ vào năm 1811 (Gia Long 10). Như vậy, tính từ bản in  
khắc gỗ của Vân Cát thần nữ truyện (các sự kiện được kể chỉ dừng ở thời nhà Lê  
trung hưng mà thôi) đến khảo luận của Đào Thái Hành là hơn một thế kỷ. Có một  
điểm độc đáo là ở phần cuối bài, Đào Thái Hành có đưa thêm thông tin cập nhật về  
một số lần gần nhất triều đình nhà Nguyễn ban sắc phong cho Thánh mẫu, đó là:  
Thiệu Trị (1845), Tự Đức (1853), Đồng Khánh (1887), Thành Thái (1903) [Đào  
Thái Hành 1914: 167, 181; 1997: 181, 197]. Có thể lúc đó Đào Thái Hành đã trực  
tiếp xem được các sắc phong triều Nguyễn (chính bản hoặc bản sao), mà đạo gần  
nhất là năm 1903 - chỉ cách thời điểm viết bài khoảng mười năm. Sau năm 1903,  
và sau năm 1914 (là năm Đào Thái Hành xuất bản nghiên cứu nói trên), triều đình  
nhà Nguyễn còn nhiều lần ban tặng sắc phong cho Thánh mẫu (trải qua các triều  
Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại). Về nội dung cơ bản của nhóm sắc phong thời  
Nguyễn này, Đào Thái Hành đã đưa ra một khái quát rằng: Liễu Hạnh được nhà  
Nguyễn phong là Thượng đẳng thần; còn hai vị tùy tòng là Quỳnh cung Duy Tiên  
phu nhân và Quảng cung Quế Anh phu nhân thì là Trung đẳng thần. Để chỉ bộ ba  
nữ thần này, đến gần đây, chúng tôi đã đề xuất thuật ngữ “hệ thần Liễu Hạnh” [Chu  
Xuân Giao 2017a]. Nội dung cơ bản thấy trong trình bày của Đào Thái Hành nói  
trên, theo đối chiếu của chúng tôi với nhóm sắc phong thời Nguyễn cho hệ thần  
Liễu Hạnh còn thấy được nguyên bản ở nhiều nơi mà trung tâm là vùng Phủ Giầy,  
thì là sát thực. Dù có mấy điểm độc đáo (về niên đại phát biểu, nội dung và cách  
thức tổng thuật), nhưng có thể nói rằng, tác phẩm của Đào Thái Hành vào năm  
1914 đó mới chỉ là một nghiên cứu tương đối sơ sài, các nguồn tư liệu mang tính  
căn cước (thần tích, sắc phong/thần sắc, minh văn, di vật đặc biệt) cho hệ thần Liễu  
Hạnh chưa hề được khảo chứng.  
Kể từ bài viết của Đào Thái Hành cho đến nay, sau hơn một thế kỷ nghiên  
cứu (1914-2018), nghiêm túc nhìn lại thì thấy rằng, cho dù hệ thần Liễu Hạnh có  
sức hấp dẫn rất lớn đối với học giới cả trong nước và quốc tế (Trung Quốc, Đài  
Loan, Pháp, Mỹ, Nga…), nhưng mới có rất ít những nghiên cứu thực hiện việc  
khảo chứng kỹ lưỡng và hệ thống các nguồn tư liệu mang tính căn cước. Ngay cả  
các nhà sử học (như Durand, Tạ Chí Đại Trường, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Hải  
Kế…) cũng chưa từng một lần thực hiện công việc đó một cách nghiêm túc, mà về  
cơ bản vẫn là sự nối nhau qua thời gian của những trần thuật không khác mấy về  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
26  
chất so với Đào Thái Hành của hơn một trăm năm trước. Hiện nay, rõ ràng phần  
nhiều chỉ là các luận giải mang tính áng chừng, người sau đại khái phỏng lại người  
đi trước. Chúng ta đang còn rất ít những nghiên cứu chuyên sâu đặt trọng tâm là  
khảo chứng thuần túy văn bản học như của nhóm Trần Ích Nguyên (Đài Loan).  
Các tập hồ sơ sao lục và dịch thuật bền bỉ tư liệu tại chỗ trong mấy chục năm qua  
của Dương Văn Vượng ở Nam Định (một số được thực hiện trong khuôn khổ công  
việc của các cơ quan, như bảo tàng tỉnh hay thư viện tỉnh) thì chưa được biên tập  
và xuất bản chính thức, chỉ lưu hành trong phạm vi hẹp như một dạng tài liệu tham  
khảo thứ cấp, và cũng chưa từng nhận được các phản biện. Bởi vậy, ngay với hai  
câu hỏi cơ bản đầu tiên tưởng chừng như đơn giản sau đây, mà hiện nay chúng ta  
vẫn chưa có được lời giải thỏa đáng, đó là: 1. Danh xưng Liễu Hạnh (và các danh  
xưng liên quan) thực sự đã xuất hiện từ bao giờ? 2. Liễu Hạnh và hệ thần Liễu  
Hạnh đã chính thức được vương triều quân chủ nào công nhận đầu tiên thông qua  
việc ban tặng sắc phong?  
Bài viết này, trên cơ sở nghiên cứu điền dã dân tộc học kết hợp khảo chứng tư  
liệu thành văn (Quốc ngữ, Hán Nôm, phương Tây) với quan điểm coi trọng “chân  
thực riêng lẻ” và “ghi chép dày”, như đã trình bày ở một bài viết trước đây [Chu  
Xuân Giao - Phan Lan Hương 2008], trong nhiều năm qua về hệ thần Liễu Hạnh,  
mà một số kết quả nghiên cứu đã được công bố, chúng tôi muốn cung cấp những  
căn cứ gốc gác ngõ hầu góp phần giải đáp cho hai câu hỏi đã nêu trên. Chúng tôi  
chọn mảng sắc phong, và đặc biệt chú ý đến các sắc phong dạng nguyên gốc, tức  
là các sắc phong thực sự là chính bản mà được lưu giữ đến ngày hôm nay. Ở đây,  
do dung lượng bị giới hạn, nên mới chỉ hạn vào sắc phong cho riêng Liễu Hạnh,  
mà cũng mới chỉ là các sắc phong sớm cho riêng Phủ Giầy ở Nam Định mà thôi.  
Phủ Giầy hay Phủ Giày (còn được viết là Phủ Dầy/Dày) được dùng ở bài viết  
này là để chỉ chung cho cả hai xã (hay hai làng) là Vân Cát 雲葛社 và Tiên Hương  
仙鄉社 thuộc tổng Đồng Đội 同隊總, huyện Vụ Bản 務本縣, tỉnh Nam Định 南  
定省 thời Nguyễn, nay là các thôn thuộc vào xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh  
Nam Định. Xã Vân Cát (có Phủ Giầy Vân Cát, hay Phủ Vân) và xã Tiên Hương  
(có Phủ Giầy Tiên Hương, hay Phủ Tiên Hương) đã có một quá trình tách và nhập  
mang tính hành chính trong lịch sử, nói như Trần Quốc Vượng thì “Vân Cát - Tiên  
Hương là một, hồi sau tách đôi và rồi đã và đang lần kết đôi” [Trần Quốc Vượng  
1996]. Từng có thời kỳ dài giữa Vân Cát với Tiên Hương, cũng tức là giữa Phủ  
Vân Cát với Phủ Tiên Hương, có sự tranh giành thế lực thông qua đua tranh danh  
phận, bên nào cũng tìm cách nhận làng mình là nơi mà Thánh mẫu đã được sinh ra,  
nên phủ thờ của làng mình phải là Phủ Chính – tức nơi chính thức thờ ngài, là nơi  
mà con nhang đệ tử các nơi đến tham bái Phủ Giầy thì phải trình diện trước nhất  
[Tuấn Cầu 1976 : 22-23; Chu Xuân Giao - Phan Lan Hương 2013]. Cuộc đua tranh  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
27  
lâu dài này có thể đã gây một ảnh hưởng nào đó tới bản thân các tư liệu mang tính  
gốc gác hiện còn đang được lưu giữ tại địa phương, nhưng ở đây, chúng tôi tạm gác  
lại vấn đề “đâu là Phủ Chính thực sự” vốn nan giải này, mà chọn cách gọi chung là  
Phủ Giầy. Nếu trong các tư liệu nguyên bản sẽ trình bày ở tiếp theo đây, giả như có  
các ghi chú về sở thuộc của các tư liệu (chủ sở hữu, địa phương nhận sự ban tặng,  
ví dụ như ghi là xã Vân Cát, hay xã Tiên Hương), thì chúng tôi tạm không truy cứu  
đến cùng, mà chỉ tạm định là thuộc Phủ Giầy.  
1. Xung quanh thông tin về sắc phong mang niên đại sớm nhất là Dương  
Hòa 8 (năm 1642) trong các bản kể truyền thuyết, và ý nghĩa của những bản  
kể muộn  
Trong một số bản kể truyền thuyết (thần tích) hệ thần Liễu Hạnh, có xuất hiện  
câu chuyện về sắc phong cho Thánh mẫu Liễu Hạnh mang niên đại sớm nhất, là  
vào năm Dương Hòa thứ 8 (năm 1642) thời Lê mạt.(4) Từ đây trở xuống gọi tắt là  
sắc phong Dương Hòa 8 hoặc sắc phong 1642.  
Suốt một thời gian dài, chúng tôi chỉ xem sắc phong 1642 chỉ thuộc về lĩnh  
vực truyền thuyết mà không có thực, bởi các bản kể thần tích có đề cập đến nó  
đều xuất hiện muộn (cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1940), còn các bản kể  
sớm thì lại không đề cập gì dù có ít nhiều nhắc đến niên hiệu Dương Hòa. Tâm lý  
chung của chúng ta là thường đặt niềm tin vào những bản kể thần tích có niên đại  
xuất hiện sớm. Nhưng dăm bảy năm nay, qua các cứ liệu sẽ trình bày tiếp theo đây,  
lại có điều kiện đối chiếu mảng tư liệu Hán Nôm với mảng tư liệu Quốc ngữ và tư  
liệu phương Tây thời kỳ sớm [Chu Xuân Giao 2015, 2017b], đồng thời cũng đã  
hiểu rõ hơn bối cảnh lịch sử tạm gọi là “thế chân vạc” của ba vương triều cùng tồn  
tại vào khoảng thời gian 1600-1680 qua các nghiên cứu về vương triều Mạc thời  
kỳ Cao Bằng [Chu Xuân Giao 2013b, 2016a, 2016b, 2017c], chúng tôi đi đến nhận  
định sơ bộ rằng, có khả năng cao là đã thực sự có sắc phong của nhà Lê mạt cho  
Thánh mẫu Liễu Hạnh từ năm 1642. Sở dĩ các bản kể có nói về sắc phong 1642  
xuất hiện muộn vì là, có thể mãi đến thời điểm cuối thập niên 1920 - đầu thập niên  
1940, người kể chuyện mới thực sự tiếp cận được với sắc phong nguyên bản ở Phủ  
Giầy (hoặc những bản sao đáng tin cậy từ đó). Cũng có nghĩa là, rất có thể, những  
người thực hiện các bản kể sớm (Đoàn Thị Điểm, Kiều Oánh Mậu, Trần Điền Chi,  
Đào Thái Hành...) đều chưa từng tiếp cận với các sắc phong đời Lê mạt. Đến năm  
1944, khi viết một tác phẩm quan trọng về Liễu Hạnh trong khuôn khổ công việc  
của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO), dù tham bác rất nhiều tư liệu, nhưng tựa  
như bản thân Nguyễn Văn Huyên cũng chưa từng khảo cứu sắc phong cho Liễu  
Hạnh. Điều này sẽ được diễn giải như ở dưới đây.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
28  
1.1. Phát hiện ra bộ tam năm thứ 8 thời Lê mạt thể hiện ý chí tiêu diệt nhà  
Mạc với ý nghĩa như là một chỉ dấu của sắc phong đích thực  
Đến thời điểm đầu thập niên 1640, triều đình Lê Trịnh đã từ Thanh Hóa trở  
lại Thăng Long được mấy chục năm với tư cách là người cai quản kinh đô và vùng  
Đàng Ngoài. Còn vùng Đàng Trên (Cao Bằng) thì vẫn do nhà Mạc, và vùng Đàng  
Trong (Quảng Nam) thì là do các chúa Nguyễn cai quản. Về cơ bản, Đại Việt lúc  
đó có ba vương triều cùng tồn tại theo thế chân vạc Lê Trịnh - Mạc - Nguyễn; trong  
đó, thế lực Đàng Ngoài và Đàng Trong đều tôn thờ vua Lê nên sử dụng niên hiệu  
của vua Lê để tính lịch, riêng Đàng Trên thì không theo mà lập niên hiệu riêng (trừ  
một khoảng thời gian từ 1625 đến 1638, vì thời gian đó Mạc Kính Khoan giả theo  
về triều phục vua Lê mà từ bỏ niên hiệu Long Thái của mình, chịu nhận tước vị  
Thái úy Thông quốc công do phía Lê Trịnh phong) [Chu Xuân Giao 2013b: 252].  
Theo nghiên cứu của chúng tôi, thì ở thời điểm các năm 1620s - 1640s, tức là đại  
khái gần như trùng với thời kỳ niên hiệu Dương Hòa của nhà Lê (niên hiệu Dương  
Hòa kéo dài khoảng 9 năm, từ 1635 đến 1643), do nhà Mạc ở Cao Bằng có mấy lần  
thay ngôi và đặt niên hiệu mới (Mạc Kính Khoan lên ngôi năm 1618, đặt niên hiệu  
là Long Thái; Mạc Kính Khoan qua đời năm 1638, con ông là Mạc Kính Hoàn/  
Mạc Kính Diệu lên ngôi và đặt niên hiệu là Thuận Đức 1638-1661), nên giữa Lê  
Trịnh và Mạc đã có nhiều lần tấn công nhau, gây binh hỏa chiến tranh [Chu Xuân  
Giao 2013b : 252, 256-260]. Về danh vị, thì ở thời kỳ đó, phía Lê Trịnh là các niên  
hiệu Vĩnh Tộ (1619-1629) - Đức Long (1629-1635) - Dương Hòa (1635-1643),  
phía Mạc thì là các niên hiệu Càn Thống (1598-1625) - Long Thái (1618-1638) -  
Thuận Đức (1638-1661), cả hai đều mới chỉ được nhà Minh cùng phong là An Nam  
đô thống sứ. Tức là, về danh vị được sách phong bởi thiên triều, thì Lê và Mạc ở  
mấy chục năm đó là ngang nhau, mà chưa bên nào được phong là An Nam quốc  
vương. Phải mãi đến năm 1647, tức là sang niên hiệu Phúc Thái (1643-1649), khi  
nhà Lê cử nhóm Nguyễn Nhân Chính cất công đi đường biển sang Phúc Kiến cầu  
phong (lúc ấy, nhà Minh đã phải rút chạy về phương Nam, đóng đô ở Phúc Kiến),  
thì nhà Minh mới đồng ý phong cho vua Lê làm An Nam quốc vương [Chu Xuân  
Giao 2013b : 383]. Mạc thì vẫn chỉ là An Nam đô thống sứ - một tước vị thấp hơn.  
Đến lúc ấy, cán cân trong cuộc chạy đua tước vị An Nam quốc vương mới nghiêng  
về nhà Lê. Với vị thế đó, nhà Lê đã được chính thống hóa, trở thành đại diện chính  
thức cho Đại Việt, mặc dù thế chân vạc thì vẫn còn kéo dài.  
Khi hiểu được bối cảnh lịch sử này, thì chúng ta sẽ hiểu rõ thêm được về tính  
mục đích trong việc ban sắc phong cho bách thần ở khu vực Đàng Ngoài của nhà  
Lê ở các niên hiệu Vĩnh Tộ - Đức Long - Dương Hòa, rồi Phúc Thái (1643-1649)  
và Cảnh Trị (1663-1671). Thú vị là, theo khảo cứu của chúng tôi, ngay trong nội  
dung các sắc phong cho bách thần của nhà Lê thời kỳ này, cũng thấy rất rõ ý chí  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
29  
phải tiễu trừ bằng được “bọn nghịch tặc Mạc” (Mạc nghiệt, nghịch đảng, nghiệt  
đảng). Cơ quan chuyên trách của triều đình Lê Trịnh đã cho viết luôn một nội  
dung có thể diễn giải như sau vào lời sắc: một lý do quan trọng mà triều đình ban  
tặng sắc phong, hay gia phong mỹ tự cho các thần, là bởi các thần đã và đang giúp  
triều đình dẹp yên giặc Mạc. Chúng tôi đã phát hiện ra là: hễ cứ các sắc phong  
ban vào năm thứ 8 của các niên hiệu thời kỳ đầu của nhà Lê mạt thì nội dung diệt  
Mạc thường xuất hiện. Đó là các sắc phong mang niên đại Vĩnh Tộ 8 (năm 1626),  
Dương Hòa 8 (năm 1642), và Cảnh Trị 8 (năm1670). Tạm gọi là bộ ba “năm  
thứ 8”. Hễ cứ ở “năm thứ 8” như vậy trong khoảng nửa thế kỷ (1626-1670) thì sắc  
phong nhà Lê thường lộ rõ ý chí cần tiêu diệt nhà Mạc. Các chữ “Mạc” và “Mạc  
nghiệt”, hay các chữ mang nghĩa tương đương (là “nghiệt đảng”, “nghịch đảng”)  
được viết thẳng vào sắc.  
Ở một dịp khác, chúng ta sẽ diễn giải rõ hơn về phát hiện này bằng tư liệu từ  
nhiều nơi khác nhau, nhưng ngay ở Phủ Giầy, chúng tôi cũng thấy ý chí diệt Mạc  
trong các sắc phong của nhà Lê vào các năm Dương Hòa 8 và Cảnh Trị 8 (vùng  
Phủ Giầy chưa xác nhận được sắc phong sớm hơn là Vĩnh Tộ 8, sớm nhất chỉ là tới  
Dương Hòa 8 mà thôi). Điều cần nhấn mạnh của chúng tôi ở đây, thực ra là cần phải  
suy nghĩ theo chiều ngược lại, là: khi thấy ý chí diệt Mạc lộ rõ trong các sắc phong  
mang niên đại Dương Hòa 8 và Cảnh Trị 8 ở Phủ Giầy, thì chúng ta cần xem đó là  
một chứng cớ quan trọng để thấy chúng là sắc phong thật sự. Có nghĩa là, đã thực  
sự có các sắc phong mang niên đại Dương Hòa 8 và Cảnh Trị 8 cho Phủ Giầy.  
Đến thời điểm hiện tại, các sắc phong đó còn lưu được bản nguyên gốc  
(nguyên vật) hay không ? Ở trong một số ghi chép được thực hiện vào thời đầu thế  
kỷ XX, chúng tôi đã tìm thấy bản kê khai các sắc phong niên đại Dương Hòa 8  
và Cảnh Trị 8 (cùng nhiều sắc phong ở thời sau) cho Phủ Giầy. Thậm chí, có thấy  
cả bản sao trọn vẹn nội dung của các sắc phong ấy. Cần nhấn mạnh rằng, người  
thực hiện các bản kê khai, hay các bản sao, ở đầu thế kỷ XX, luôn xem sắc phong  
Dương Hòa 8 là sắc phong cổ nhất cho Thánh mẫu Liễu Hạnh, nên thường đưa nó  
lên hàng đầu tiên. Nhưng về nguyên vật của sắc phong Dương Hòa 8, thì hiện nay  
đã không còn thấy ở Phủ Giầy. Có thể nó đã còn tồn tại đến đầu thế kỷ XX, nhưng  
sau đó thì thất lạc hoặc hư hại hoàn toàn. Hiện nay, trong lưu trữ của các đền phủ  
và dòng họ ở Phủ Giầy, chúng tôi chưa xác nhận được một tấm ảnh nào chụp sắc  
phong Dương Hòa 8, cũng không tìm thấy những mẩu tàn khuyết nào đó có thể  
xem là thuộc về nguyên vật của sắc phong đó còn sót lại. Về lý thuyết, sắc phong  
Dương Hòa 8 đã thất lạc hay hư hại là phải sau những đợt kê khai và sao chép sắc  
phong ở Phủ Giầy được thực hiện vào đầu thế kỷ XX. Chỉ có một bản sao của sắc  
phong Dương Hòa 8 thì còn thấy được ở kho sách của Thư viện Viện Nghiên cứu  
Hán Nôm (xem tiếp ở các mục dưới).  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
30  
1.2. Các bản kể truyền thuyết có niên đại sớm, và tình trạng “tam sao thất bản”  
Một điểm thú vị nữa cần nhấn mạnh là, như đã nói ở trên, thông tin về sắc  
phong Dương Hòa 8 lại chỉ xuất hiện trong các bản kể truyền thuyết hệ thần Liễu  
Hạnh ở thời kỳ muộn (đầu thế kỷ XX), mà không thấy ở các bản kể thời kỳ sớm  
hơn (thế kỷ XIX hay XVIII). Cần thiết phải có một tổng thuật như thấy ở dưới đây,  
để thấy rằng, sự xuất hiện của thông tin về sắc phong Dương Hòa 8 chỉ có trong  
các bản kể thần tích có niên đại muộn là một sự kiện có ý nghĩa. Cụ thể là hai ý  
nghĩa sau: 1. Về giá trị căn cước lịch sử cho hệ thần Liễu Hạnh thì sắc phong vượt  
trội so với thần tích. Thần tích thì lưu động, nên nếu xuôi theo chiều diễn tiến của  
thời gian thì có khi chúng ta có cảm giác bị rơi vào trạng thái “hỗn loạn”, “tam sao  
thất bản”. Còn sắc phong, nếu thực sự là bản gốc thì hẳn chỉ có một bản duy nhất,  
và về nguyên tắc là không thể làm giả; 2. Do sắc phong nguyên bản thường rất khó  
tiếp cận trên thực tế vì được cất giữ rất cẩn mật, bởi vậy, các thông tin về sắc phong  
xuất hiện trong mảng thần tích thì cần được xem xét kỹ lưỡng mà không thể tin  
dùng ngay được. Như sẽ thấy trong tổng thuật tiếp theo đây, riêng về hệ thần Liễu  
Hạnh, không phải thần tích cứ càng có niên đại sớm thì càng có thông tin đúng về  
sắc phong. Có khi bản kể muộn mới có được thông tin sát thực.  
Thường được đề cập đầu tiên trong mảng ghi truyền thuyết về hệ thần Liễu  
Hạnh là thiên “Vân Cát thần nữ truyện” nằm trong cuốn Truyền kỳ tân phả đã  
được in khắc gỗ năm 1811 đầu thời Nguyễn (bìa sách ghi: in năm Tân Mùi, là  
năm thứ 10 niên hiệu Gia Long). Trước nay, “Vân Cát thần nữ truyện” (từ đây trở  
xuống viết tắt là VCTN-T) thường được học giới thống nhất xem là tác phẩm của  
nữ văn sĩ sống ở thời Lê mạt là Đoàn Thị Điểm (1705-1748), mà thời gian bà viết  
và hoàn thành là vào khoảng các thập niên 1730-1740. Tuy nhiên, cũng có một số  
học giả đặt nghi vấn, mà cho rằng chưa chắc Đoàn Thị Điểm là tác giả đích thực  
của VCTN-T nói riêng và cả cuốn nói chung, đó là các vị Ngô Văn Triện (1940),  
Hoàng Xuân Hãn (1952), Trần Văn Giáp (1990)... [Chu Xuân Giao 2010: 134-  
135]. Còn về bản thân bản in khắc gỗ của Truyền kỳ tân phả, thì Hoàng Xuân Hãn  
từng đưa ra giả thiết rằng, có thể nó từng đã được khắc in vào thời Lê (tức là trước  
niên hiệu Quang Trung 1788-1792, cũng tức là trước thời Nguyễn). Căn cứ mà  
Hoàng Xuân Hãn đưa ra là lối viết húy đời Lê cho chữ tân ở bìa sách của bản in  
năm 1811 (tân là tên húy của vua Lê Kính Tông 1599-1619(5)). Kết hợp với một số  
căn cứ khác về tự dạng của một số chỗ trong bản in năm 1811, ông cho rằng, có  
thể 3 truyện đầu của Truyền kỳ tân phả (trong đó có VCTN-T) đã được khắc vào  
thời Lê, rồi sau người ta phụ thêm 3 truyện sau và in nối bản vào năm 1811 [Hoàng  
Xuân Hãn 1952: 42, 289]. Những giả thiết trên cần được tiếp tục thảo luận, còn  
ở đây, chúng tôi chỉ tính một điểm chắn chắn nhất là: chúng ta đang thực sự có  
trong tay văn bản VCTN-T với bản in khắc gỗ vào năm 1811 đầu thời Nguyễn.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
31  
Tạm chưa quan tâm đến tác giả đích thực, cũng như vấn đề có hay không có bản  
in thời Lê. Để tiện dụng cho từ nay về sau, chúng tôi quy ước gọi bản in khắc gỗ  
năm 1811 này là VCTN-T bản kể 1811 hay gọn nữa là VCTN-T 1811 (giả sử như  
sau này tìm được các bản VCTN -T in sớm hơn, hoặc in muộn hơn, thì cũng theo  
cách này, mà gọi là VCTN-T bản kể...). Vật thể vật lý thực sự của VCTN-T bản kể  
1811 là 2 bản sách in khắc gỗ trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm với ký  
hiệu A.48 (182 trang), và VHv.2959(6) [Đoàn Thị Điểm a1, a2]. Trong VCTN-T bản  
kể 1811, đáng chú ý là không xuất hiện thông tin về sắc phong cho hệ thần Liễu  
Hạnh ở thời Dương Hòa, mà chỉ ghi những câu chuyện liên quan tới thời Cảnh  
Trị - tức là chuyện muộn hơn khoảng mấy chục năm. Đại khái, câu chuyện được  
ban sắc của thời Cảnh Trị được kể như sau: Thượng đế cho phép Liễu Hạnh công  
chúa xuống trần ngao du tùy thích. Tiên chúa liền đem theo hai nàng Quế 桂 và Thị  
柿 mà giáng xuống vùng Phố Cát ở Thanh Hoa 清華舗葛. Ở đó, tiên chúa thường  
hiển linh, ban phúc giáng họa. Nhân dân cả một vùng đều sợ hãi, cùng nhau lập đền  
để phụng thờ. Khoảng niên hiệu Cảnh Trị 景治 [1663-1671], triều đình nghe tin  
đồn đã sai quân và thuật sĩ đến phá đền. Mấy tháng sau, bệnh dịch hoành hoành,  
người và vật chết rất nhiều. Tiên chúa đã phán bảo qua miệng một người nhập  
đồng về việc triều đình phải xây lại miếu thờ thì mới thôi tác ai tác quái. Triều đình  
[tức là vẫn triều đình thời Cảnh Trị] thấy việc linh dị, lập tức cho làm lại đền mới  
trong vùng Phố Cát, sắc phong là Mã Hoàng công chúa 勅封禡黄公主. Nhân dân  
cả vùng cầu đảo điều gì đều linh ứng ngay. Sau này, quân nhà vua đi dẹp giặc, tiên  
chúa ngầm giúp có công nên được gia tặng mỹ hiệu Chế thắng Hòa diệu đại vương  
制勝和妙大王, được ghi vào tự điển [Đoàn Thị Điểm b: 858; Đoàn Thị Điểm c1:  
203-204; Đoàn Thị Điểm c2: 206-207; Đào Thái Hành 1914: 181(7); Đoàn Thị Điểm  
1962: 99; Đoàn Thị Điểm 1993: 61; Đoàn Thị Điểm 2010: 128-129].  
Các bản kể khác có thể xem là phái sinh từ VCTN-T 1811, như Thiên Bản Vân  
Hương Lê triều Thánh mẫu ngọc phả [Trần Điền Chi 1911a, b, c], Vân Cát thần  
nữ cổ lục [Khuyết danh - Cổ lục a, b, c], Thiên Tiên truyện khảo [Nhàn Vân Đình  
1935]..., thì đều chỉ nhắc đến thời Cảnh Trị với nội dung tương tự như đã trình bày  
ở trên. Trong đó, cần chú ý rằng, riêng Thiên Bản Vân Hương Lê triều Thánh mẫu  
ngọc phả là sách in khắc gỗ năm 1911 [Trần Điền Chi 1911a], tức là bản in muộn  
lại sau 100 năm so với VCTN-T 1811.  
Các bản kể ở dạng bản thảo viết tay vào khoảng các năm 1890-1900 của  
các soạn giả người Nam Định là Nguyễn Ôn Ngọc và Khiếu Năng Tĩnh [Nguyễn  
Ôn Ngọc 1997; Khiếu Năng Tĩnh 2000, 2015] thì cũng chỉ nói chung chung, mà  
không đề cập chi tiết tới sắc phong. Khiếu Năng Tĩnh (1835-1915) là người nhiệt  
thành với tín ngưỡng thờ Mẫu, đã thực hiện các khảo sát thực địa ở vùng Phủ Giầy,  
nhưng hiện chưa rõ là lúc sinh thời ông có từng xem trực tiếp sắc phong được lưu  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
32  
giữ tại địa phương hay không. Còn trong tác phẩm Tân biên Nam Định tỉnh địa dư  
chí lược (được xem là hoàn thành khoảng năm 1900), Khiếu Năng Tĩnh ghi một  
cách chung chung là: “Thời Lê có sắc phong Liễu Hạnh công chúa, rồi Tề gia trị  
quốc, Diệu hóa anh linh, Phổ tế chân tiên Mã Vàng công chúa” [Khiếu Năng Tĩnh  
2015: 193].  
Trong các ghi chép cũng ở thời điểm khoảng năm 1900 của vị đại quan triều  
Nguyễn từng giữ chức Tổng đốc Nam Định là Cao Xuân Dục (khi ấy đã chuyển  
vào Huế giữ trọng trách ở Quốc Sử Quán), đặc biệt là trên tấm bia đá ngày nay còn  
thấy ở trước Phủ Vân Cát, cũng chỉ thấy một thông tin rất ngắn gọn rằng, “vua Lê  
trước đã phong cho là Mã Vàng công chúa Hòa diệu đại vương 禡鐄公主和妙大  
王. Đời sau tôn sùng phong cho tiếp, quốc triều ta xếp vào hàng thượng đẳng” [Cao  
Xuân Dục 1996: 19, 23], và “các triều đại đều phong cho thần là thượng đẳng thần”  
[Cao Xuân Dục 2010: 106]. Có lẽ trong thời gian làm Tổng đốc Nam Định, Cao  
Xuân Dục cũng chưa từng có dịp xem kỹ lưỡng các sắc phong triều Lê cho Phủ  
Giầy, nên thông tin về sắc phong của ông chỉ ở mức giản lược như vậy.  
Trong bản kể mang tính mở đường trên diễn đàn học thuật hiện đại của Đào  
Thái Hành vào năm 1914 đã nhắc ở trên, lần sắc phong đầu tiên cũng được thuật lại  
là vào thời Cảnh Trị, và tước hiệu của Thánh mẫu là Mã Cái đại vương (mã chữ  
Hán đi kèm theo phiên âm Mã Cái đại vương trong bài của Đào Thái Hành lại là  
禡蓋公主, tức là Mã Cái công chúa). Rồi sau này, bà còn được gia phong là Chế  
thắng Hòa diệu đại vương (mã chữ Hán kèm theo là 勝和妙大王, tức là thiếu chữ  
Chế ở đầu) [Đào Thái Hành 1914: 181]. Tức là Đào Thái Hành vẫn theo truyền  
thống VCTN-T 1811. Về niên hiệu Cảnh Trị, Đào Thái Hành còn chua thêm chữ  
Hán là 景治, rồi mở ngoặc ghi năm theo dương lịch là 1662 (trang 180)(8). Năm  
1662 này, có lẽ Đào Thái Hành muốn lấy năm đầu tiên của niên hiệu Cảnh Trị để  
tính sang; nhưng trên thực tế, năm đầu Cảnh Trị thường được tính là năm 1663 (năm  
Quý Mão) [Vụ Bảo tồn Bảo tàng 1984: 48; Lê Thành Lân 2016: 42-43]. Nơi hiển  
linh của Thánh mẫu trong bản kể của Đào Thái Hành mới chỉ dừng ở Phố Cát như  
truyền thống của VCTN-T 1811, mà chưa xuất hiện địa danh Sùng Sơn/Sòng Sơn.  
Địa danh Sùng Sơn tựa như xuất hiện ngày càng nhiều trong bản kể từ cuối  
thập niên 1910 và đầu thập niên 1920, trong các bản kể của Kiều Oánh Mậu, rồi  
của Phan Kế Bính và nhiều người khác. Sự xuất hiện của Sùng Sơn là sự tiến triển  
hơn một bước so với truyền thống của VCTN-T 1811. Bởi như đã nói ở trên, trong  
truyền thống VCTN-T 1811, cũng tức là đến khoảng năm 1811, thì Sùng Sơn chưa  
xuất hiện trong các bản kể thần tích hệ thần Liễu Hạnh.  
Trong Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính, Sùng Sơn chỉ được  
nhắc đến một lần ở câu cuối cùng của bản kể: “vua sai sửa sang lại đền miếu, phong  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
33  
làm Mã Vàng công chúa. Sau lại có công giúp nước phá giặc Mán, được phong là  
Chế thắng bảo hòa diệu đại vương, lập đền trên núi Sùng Sơn, đến giờ vẫn còn anh  
linh” [Phan Kế Bính 1922 (1912): 117; Phan Kế Bính 1930: 117]. Sùng Sơn ở đây  
chưa được xác định địa chỉ cụ thể (nằm ở xã nào huyện nào phủ nào), cũng chưa  
thấy mối quan hệ giữa Sùng Sơn với Nội đạo tràng.  
Còn trong cuốn Tiên phả dịch lục bản in khắc gỗ năm 1910 của Kiều Oánh  
Mậu - là một tác phẩm nổi tiếng, được biên soạn công phu rồi đưa đi in nhanh  
chóng ngay sau hoàn thành bản thảo - vai trò của Sùng Sơn được khắc họa rõ nét  
qua các vần thơ lục bát viết bằng chữ Nôm: có chỉ dẫn địa chỉ (xã Cổ Đam huyện  
Tống Sơn), có miêu tả cuộc đại chiến vào thời Lê Thần Tông với các pháp sư Nội  
đạo tràng. Sùng Sơn, ở thời điểm năm 1910, đã được xem là sánh ngang cùng  
với làng Tiên Hương (Vân Cát) và Phố Cát (Thạch Thành), để trở thành ba trung  
tâm thờ phụng Mẫu Liễu ở cấp quốc gia (nguyên thơ của họ Kiều: “Đường đường  
liệt miếu ân gia//Làng Vân, phố Cát lại là Sùng Sơn”). Cuộc chiến với quân đội  
triều đình và các thuật sĩ ở đây được miêu tả khá dài, chứ không chỉ trong một vài  
câu như trong VCTN-T 1811 và các tác phẩm phái sinh khác. Kết cục của cuộc đại  
chiến ấy là Đức Phật Thế Tôn đã ra tay cứu giúp Liễu Hạnh, sau đó Liễu Hạnh  
quy Phật ở Tuyết Sơn (khu chùa Hương Tích - Hà Nội ngày nay) và quy pháp ở  
chùa Từ Minh (thuộc địa phận Hà Trung - Thanh Hóa ngày nay). Tiếp đó, từ khi  
đã quy Phật, tinh thần “yêu nước” của tiên chúa (“tiên chúa ái quốc”) đã được hun  
đúc để “ngày thường đinh ninh” (hàng ngày hàng giờ không quên nghĩ đến việc  
yêu nước).(9) Với lòng yêu nước, ngài giúp quân đội triều đình khi đánh dẹp Chiêm  
Thành.(10) Nhờ có công lao này, Mẫu Liễu được triều đình sắc phong “Chế thắng”,  
rồi sau đó lại gia tặng thêm mỹ tự “Hòa diệu đại vương”. [Kiều Oánh Mậu 1992:  
49-58; 2010: 504-514]. Chúng ta có thể hiểu rằng, trong bản kể của Kiều Oánh  
Mậu, đó là lần phong tặng vào triều vua Lê Thần Tông. Chỉ chung chung như vậy,  
mà không biết cụ thể vào niên hiệu nào của Lê Thần Tông.  
Tên niên hiệu “Dương Hòa” không xuất hiện trong phần thơ Nôm do Kiều  
Oánh Mậu viết, cũng tức là bản kể của ông. Tuy nhiên, cùng trong sách Tiên phả  
dịch lục của Kiều Oánh Mậu, ngoài phần thơ chữ Nôm và các phần khác, còn có  
thêm một phần quan trọng là in nguyên lại cuốn sách hiếm Tiên từ phả ký 仙祠譜  
記 bằng Hán văn [Khuyết danh - Phả ký c]. Theo giới thiệu của Kiều Oánh Mậu,  
bản Tiên từ phả ký đó là do người bạn là ông Trần Bình Hoành (là hậu duệ dòng họ  
Trần Lê, lúc ấy đang giữ chức Huấn đạo huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang) sao giúp  
cho từ chính bản lưu ở Phủ Giầy. Kiều Oánh Mậu đã cho in kèm toàn bộ nội dung  
cuốn đó vào trong Tiên phả dịch lục, cho nên chúng ta có thể xem đó là Tiên từ phả  
ký bản in khắc gỗ năm 1910. Trong Tiên từ phả ký năm 1910 này, thì lại xuất hiện  
niên hiệu Dương Hòa. Cụ thể là thuật rằng, vào niên hiệu Dương Hòa, triều đình  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
34  
cho quân đội và thuật sĩ đến phá đền ở Phố Cát, rồi sau đó lại phải làm lại đền mới  
và sắc phong cho Liễu Hạnh là Mạ Vàng công chúa. Chúng ta biết rằng, nếu theo  
truyền thống của VCTN-T 1811 thì sự kiện triều đình phong Mạ Vàng công chúa  
là vào niên hiệu Cảnh Trị (tức là muộn hơn Dương Hòa tới mấy chục năm). Tuy  
nhiên, một điều thú vị là, khi kiểm tra lại Tiên từ phả ký hiện đang lưu giữ tại Phủ  
Giầy, dù là bản viết tay bút lông trên giấy dó (mà chưa phải bản in khắc gỗ) nhưng  
có thể xem đó là bản gốc [Khuyết danh - Phả ký a, b] của bản in năm 1910, thì  
chúng tôi phát hiện ra rằng, ở chính chỗ ghi “Dương Hòa” trong bản in năm 1910  
thì trong bản gốc chỉ là “Cảnh Trị”. Ở bản dịch Tiên từ phả ký của nhóm Bùi Hạnh  
Cẩn - Lê Trân cũng ghi là “Cảnh Trị” [Khuyết danh - Phả ký d: 80]. Như vậy, có  
thể đã có sửa chữa gì đó khi từ bản gốc ở Phủ Giầy đến bản sao của Kiều Oánh  
Mậu, cụ thể ở đây là sửa niên hiệu “Cảnh Trị” thành “Dương Hòa” để đẩy thời  
gian sớm lên mấy chục năm. Chưa rõ đó là sửa chữa (chắc là có ý thức) của Kiều  
Oánh Mậu hay của Trần Bình Hoành. Nhưng rõ ràng, thực chất là Tiên từ phả ký  
không nhắc đến niên hiệu Dương Hòa trong sự kiện Liễu Hạnh đại chiến với Nội  
đạo tràng rồi được sắc phong.  
Cũng cần nói thêm rằng, Tiên từ phả ký bản gốc ở Phủ Giầy thì đoạn cuối  
cùng là như sau: “Thời Lê Dương Hòa thứ 8 (Thần Tông) vâng chiếu chỉ xây dựng  
đền ngói. Thời Lê Chính Hòa (Hy Tông) thứ 2, cấp cho dân làng 10 sái phu (người  
quét rửa đền) trải qua các triều đại đều được phong tặng Bậc thần thứ nhất” [Khuyết  
danh - Phả ký a, b; Khuyết danh - Phả ký d: 81]. Theo đoạn này thì vào năm Dương  
Hòa 8 triều đình đã ban chiếu chỉ cho nhân dân địa phương vùng Phủ Giầy ngày  
nay dựng đền ngói để thờ phụng Liễu Hạnh. Tuy nhiên, chúng tôi đọc đối chiếu thì  
thấy, ở Tiên từ phả ký bản Kiều Oánh Mậu thì lại là “năm Lê Cảnh Trị 8” [Khuyết  
danh - Phả ký c], tức là năm 1670, muộn lại mấy chục năm ! Có nghĩa, bản kể của  
Kiều Oánh Mậu có xuất nhập với tư liệu lưu ở Phủ Giầy ở nhiều chỗ khác nhau.  
Đặc biệt, sự không rõ ràng giữa “Dương Hòa 8” và “Cảnh Trị 8” trong bản kể của  
ông, cho ta suy nghĩ rằng, khi soạn Tiên phả dịch lục, Kiều Oánh Mậu chủ yếu làm  
việc với các bản kể truyền thuyết, mà chưa hề tiếp xúc với sắc phong chính bản hay  
các tài liệu mang tính gốc gác.  
Muộn lại một chút, cùng trên tạp chí của Hội Trí Tri, chúng ta thấy có bản kể  
của nhóm Đỗ Đình Nghiêm ở đầu thập niên 1920, rồi bản kể của Trần Hàm Tấn ở  
cuối thập niên 1930. Bản kể của nhóm Đỗ Đình Nghiêm thì về cơ bản cũng là theo  
truyền thống của VCTN-T 1811 [Đỗ Đình Nghiêm - Phạm Văn Thư - Ngô Vi Liễn  
1924: 79-80]. Tới bản kể của Trần Hàm Tấn, thì thú vị là ông đã kể thêm đoạn Thánh  
mẫu bị các vị thánh trong Nội đạo tràng sống thời Lê Thần Tông đánh bại ở khu  
vực Sùng Sơn rồi quy y Phật. Trong đời vua này, Thánh mẫu đã được phong làm Mã  
Vàng công chúa và Chế thắng Hòa diệu đại vương [Trần Hàm Tấn 1938: 287-288].  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
35  
Cùng trong thập niên 1930, chúng ta còn thấy các tác phẩm của Thiện Đình  
trên tạp chí Nam phong [Thiện Đình 1930a, 1930b]. Bản kể của Thiện Đình về cơ  
bản cũng theo truyền thống VCTN-T 1811, nhưng ở đoạn kết thì lại đột ngột thuật  
chuyện ở Phố Cát gắn với cả hai niên hiệu Dương Hòa và Cảnh Trị (trong nguyên  
văn là “khoảng năm niên hiệu Dương Hòa” và “triều vua Huyền Tông”(11)). Niên  
hiệu Dương Hòa thì Liễu Hạnh tác oai tác quái ở vùng Phố Cát – nơi bà giáng  
xuống rồi được dân lập đền thờ. Khách bộ hành đi qua vùng Phố Cát thường bị  
bà quở phạt. Rồi tiếp đó, đến thời Cảnh Trị thì triều đình mới cử đạo sĩ pháp sư  
tới tiễu trừ. Đó cũng là cuộc đại chiến, nhưng là ở Phố Cát, mà không phải là đại  
chiến Sùng Sơn như một số bản kể khác. Kết thúc đại chiến Phố Cát, thì đền thờ  
Liễu Hạnh ở đó được xây lại, triều đình thì phong bà là Mã Vàng công chúa, lại gia  
phong là Chế thắng Hòa diệu đại vương [Thiện Đình 1930b: 484].  
Một điểm cần chú ý là Lê Thần Tông (tức Lê Duy Kỳ) thấy trong một số bản  
kể ở trên là một vị vua đặc biệt của thời Lê mạt, đã hai lần lên ngôi, lại ở ngôi khá lâu  
mỗi lần, có một khoảng gián cách giữa hai lần là 7 năm. Lần thứ nhất, ở ngôi từ năm  
1619 đến năm 1643, với các niên hiệu Vĩnh Tộ - Đức Long - Dương Hòa; lần thứ  
hai, ở ngôi từ năm 1649 đến năm 1662, với các niên hiệu Khánh Đức - Thịnh Đức -  
Vĩnh Thọ - Vạn Khánh. Bởi vậy, nếu chỉ nói là Thánh mẫu được phong vào thời Lê  
Thần Tông thì là cả một khoảng thời gian rất dài, có bao gồm cả niên hiệu Dương  
Hòa và nhiều niên hiệu khác, nên không xác định được thời gian một cách cụ thể.  
Một điểm nữa cần chú ý là, đến thời điểm cuối thập niên 1930, bản kể của  
Trần Hàm Tấn đã làm rõ hơn sự linh dị ở Sùng Sơn (với địa chỉ là thuộc vào xã  
Cổ Đam tổng Trung Bạn phủ Hà Trung tỉnh Thanh Hóa) với thời vua Lê Thần  
Tông. Cụ thể là kể rằng, khi vua Lê Thần Tông cùng chúa Trịnh và đoàn người của  
hoàng gia đi ngang qua ngôi đền mà không xuống ngựa và không nghiêng lọng,  
nên Thánh mẫu đã trách phạt (cho ngựa xe tự nhiên bị trói lại, nhiều người phải bỏ  
mạng trên đường). Chính vì sự tác oai tác quái này của bà, mà triều đình đã huy  
động quân của các thánh trong Nội đạo tràng tới khu Sùng Sơn tiễu trừ [Trần Hàm  
Tấn 1938: 287-288]. Có thể xem đó là lời kể vắn tắt về cuộc chiến lớn Sùng Sơn  
giữa Thánh mẫu và triều đình cùng Nội đạo tràng. Trước đây, trong truyền thống  
VCTN-T 1811, đại chiến Sùng Sơn và vai trò của Nội đạo tràng còn chưa xuất hiện.  
Bản kể của Trần Hàm Tấn phản ánh tình hình chung của việc thờ Liễu Hạnh ở thập  
niên 1930 với sự nổi lên của thánh địa Sùng Sơn. Cũng có thể Trần Hàm Tấn đã  
có tham khảo bản kể của Kiều Oánh Mậu đầu thập niên 1910.  
Đại chiến Sùng Sơn (Sòng Sơn), vai trò của đền Sòng, và vai trò của các vị  
thánh Nội đạo tràng (ở thời Lê Thần Tông) sau đó đã được Nguyễn Văn Huyên  
khảo tả chi tiết trong công trình đã xuất bản đầu thập niên 1940 [Nguyễn Văn  
Huyên 1944, 1996]. Có thể nói, là miêu tả chi tiết nhất cho đến thời điểm đó.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
36  
Nguyễn Văn Huyên miêu tả Liễu Hạnh như là vị đứng đầu trong các tiên nữ Việt  
Nam với danh xưng “Thánh mẫu Sùng Sơn”, được các vua Việt Nam phong là Đệ  
nhất Nữ vương. Đền Sòng (tức Sùng Sơn ở Hà Trung) cùng với Phủ Giầy (Nam  
Định) và Phố Cát (Thanh Hóa) trở thành ba trung tâm thờ cúng Liễu Hạnh – nơi  
mà hàng năm đều có lễ hội lớn thu hút rất đông tín đồ tới hành hương [Nguyễn  
Văn Huyên 1996: 152-154]. Ba trung tâm ở tầm vóc quốc gia này đã thấy ở bản kể  
của Kiều Oánh Mậu đầu thập niên 1910. Tuy nhiên, điều đáng nói là, Nguyễn Văn  
Huyên hầu như không đề cập sâu đến vấn đề sắc phong của Thánh mẫu (không  
rõ năm tháng, không rõ mỹ tự). Tựa như Nguyễn Văn Huyên chưa từng tiếp xúc  
với sắc phong cho Thánh mẫu dù là nguyên bản hay bản sao. Hiện chúng tôi cũng  
chưa rõ là đến thời điểm đầu thập niên 1940, trong kho tư liệu của EFEO ở Hà  
Nội – nơi mà Nguyễn Văn Huyên tới làm việc từ năm 1935 – đã có bản sao của  
các sắc phong cho Thánh mẫu ở Phủ Giầy hay chưa. Nếu đã có, thì chưa hiểu là  
vì sao ông lại không tham khảo, bởi vì, chính thời điểm đó, khi biên soạn Le Culte  
des immortels en Annam ông đã dựa nhiều vào cuốn Hội Chân Biên (chính Nguyễn  
Văn Huyên cho biết là nó đang được bảo quản ở EFEO).  
Nguyễn Văn Huyên không cho biết rõ, nhưng tác phẩm xuất bản năm 1944  
đó của ông, mà một đặc điểm chính là rất coi trọng lần hiển thánh ở Sùng Sơn của  
Liễu Hạnh cũng như trận chiến với Nội đạo tràng, làm cho chúng ta nghĩ rằng,  
ông đã tham khảo các bản kể trước đó, là của Kiều Oánh Mậu đầu thập niên 1910,  
của Vụ Thành Nam và Trần Ngọc Hoan cuối thập niên 1920, của Lăng Tuyết đầu  
thập niên 1930, và nhiều sách vở khác nữa [Vụ Thành Nam 1928, Trần Ngọc Hoan  
1929, Lăng Tuyết 1933, Khuyết danh 1941]. Ngoài cuốn của Kiều Oánh Mậu là  
văn tự Hán Nôm, các bản kể còn lại đều là bằng Quốc ngữ và được ấn hành rộng  
rãi (cũng có cuốn thì thêm phần sao chép nguyên bản hay ghi chú bằng Hán Nôm).  
Riêng bản kể của Lăng Tuyết thì, ngay ở tiêu đề đã là Sùng Sơn đại chiến sử.  
1.3. Các bản kể truyền thuyết có niên đại muộn mang thông tin thú vị về  
sắc phong Dương Hòa 8 (1642)  
Trong các ấn phẩm từ cuối thập niên 1920 đến đầu thập niên 1940, mà có thể  
Nguyễn Văn Huyên đã có tham khảo lúc đương thời, theo chúng tôi, có bốn bản kể  
đáng chú ý, là: của Vụ Thành Nam năm 1928, của tác giả khuyết danh năm 1941,  
của quan Công sứ tỉnh Thanh Hóa năm 1941, và của quan Tri huyện Vụ Bản Phạm  
Quang Phúc năm 1942 [Vụ Thành Nam 1928, Khuyết danh 1941, Lagrèze 1941,  
Phạm Quang Phúc 1942]. Chính ở các ấn phẩm này, chúng tôi mới thấy xuất hiện  
lời kể chi tiết về sắc phong Dương Hòa 8, tức sắc phong 1642, ban cho Liễu Hạnh.  
Sách của Vụ Thành Nam (có thể là một bút danh) ấn hành lần thứ nhất vào  
năm 1928 tại một nhà in ở Nam Định, nên có thể hiểu như là một bản kể địa  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
37  
phương, mà người kể có thể có liên hệ nào đó với hậu duệ dòng họ Trần Lê và  
những tư liệu gốc gác ở Phủ Giầy. Về danh hiệu Mã Vàng công chúa, sách này kể  
rằng, nhà sư ở chùa Hương Tích – một “nơi danh thắng đệ nhất giời Nam” – đã  
kể lại sự hiển linh của Liễu Hạnh (tự xưng tên là Quỳnh Hoa công chúa khi giáng  
xuống khu vực chùa Hương Tích), rồi khuyên nhân dân ở vùng Sùng Sơn sửa sang  
đền miếu mà phụng thờ tiên chúa. Chính nhà sư này đã tâu về triều đình, rồi vua  
Lê đã sắc phong cho tiên chúa là Mã Vàng công chúa. Theo mạch truyện mà Vụ  
Thành Nam kể thì đó là đời vua Lê Thần Tông (vị vua có rất nhiều niên hiệu qua  
hai lần lên ngôi, mà một trong đó là Dương Hòa, như đã nói ở trên).  
Liên quan đến niên hiệu Dương Hòa 8 (1642) thì sách của Vụ Thành Nam  
kể về một cuộc thi dành cho bách thần được triều đình tổ chức vào năm đó. Liễu  
Hạnh đã tới tham dự và ứng hiện dưới dạng một đám mây trên trời xếp thành hình  
chữ Hán (bên trên là dòng Thánh thọ vô cương, bên dưới là dòng Tiên chúa Mã  
Vàng tạ ân) để chúc tụng nhà vua. Văn võ bá quan triều đình ai nấy đều thán phục.  
Nhà vua xuống chiếu ban khen, sai quan địa phương sửa sang đền miếu thờ phụng.  
“Nhân đó mà thành lệ Kéo chữ để tỏ rõ sự linh ứng của tiên chúa muôn đời” [Vụ  
Thành Nam 1928: 29-30]. Như vậy, về tục “Kéo chữ” trong hội Phủ Giầy mà ngày  
nay đang được tiếp tục duy trì, Vụ Thành Nam giải thích là có nguồn gốc từ chính  
màn “Kéo chữ” chúc tụng nhà vua năm Dương Hòa 8.  
Lời kể tương tự như vậy về năm Dương Hòa 8 và lần sắc phong quan trọng  
vào năm đó còn thấy ở một bản kể năm 1941 (xem Khuyết danh 1941). Ở một  
bài viết trước, chúng tôi đã chỉ ra đây là một bản kể đặc biệt thú vị trong hệ thống  
truyền thuyết hệ thần Liễu Hạnh, dù nó khuyết danh (xem Chu Xuân Giao - Phan  
Lan Hương 2013). Vì thú vị, nên xin dẫn lại nguyên văn lời kể về năm Dương Hòa  
8 trong bản kể ấy:  
“Niên hiệu Dương Hòa năm thứ 8 vua Lê Thần Tông (tức năm 1632) [thực ra,  
đây là nhầm lẫn, vì Dương Hòa 8 là năm 1642 - CXG chú], có làm lễ khảo thí các  
vị thần linh, thì Ngài thi đậu đầu, là vì vua và các quan khi ấy trông thấy giữa trời  
có đám mây năm sắc như hoa gấm, trên đề bốn chữ Thánh thọ vô cương, nghĩa là  
chúc vua được sống lâu vô cùng, dưới đề sáu chữ Tiên chúa Mã Vàng tạ ân; đám  
mây hiện như vậy lâu đến ba giờ mà các sắc mây ấy chưa tan hết; vua quan lấy làm  
lạ, bèn sắc hạ tu bổ thêm và lập thêm đền thờ” [Khuyết danh 1941: 40].  
Lời kể tương tự như vậy về lần sắc phong năm Dương Hòa 8 còn thấy trong  
bản kể bằng tiếng Pháp của viên quan Công sứ tỉnh Thanh Hóa [Lagrèze 1941:  
6-7]. Chúng tôi có cảm giác rằng, lời kể của Công sứ Lagrèze là bản dịch từ tiếng  
Việt sang tiếng Pháp (mà nguồn tiếng Việt có thể chính là tư liệu Khuyết danh  
1941 hay một tư liệu nào đó gần gũi).  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
38  
Vị quan Tri huyện Vụ Bản thời gian đó, là Phạm Quang Phúc, cũng là một  
người có nhiệt thành với tín ngưỡng thờ Mẫu. Ông đã tham bác rất nhiều tài liệu  
(bao gồm cả bài của Đào Thái Hành năm 1914 và cuốn Khuyết danh 1941 ở trên)  
kết hợp với kiến văn của mình, mà viết nên cuốn Hội Phủ Giầy - Sự tích Liễu Hạnh  
công chúa và cho ấn hành năm 1942. Ông đã được xem cả Tiên từ phả ký đang  
được dòng họ Trần Lê bảo quản cẩn mật [Phạm Quang Phúc 1942: 33, 10-14]. Nên  
có thể nghĩ rằng, thời gian đó, ông cũng đã được xem các đạo sắc phong nguyên  
bản (hay chí ít thì cũng là những bản kê khai thần tích thần sắc đã thực hiện năm  
1938). Bởi vậy, trong bản kể của mình, ông ghi năm được sắc phong sớm nhất của  
Liễu Hạnh là 1642 (trong nguyên bản bị đánh máy nhầm là “1672”, trường hợp  
nhầm này cũng là nhầm ở “hàng chục” tương tự như năm “1632” trong Khuyết  
danh 1941). Phạm Quang Phúc viết: “Năm 1642 [nguyên bản là “1672”] vua mới  
phong cho Mẫu sắc Liễu Hạnh công chúa, và hạ lệnh cho xã Tiên Hương xây một  
đền thờ bằng ngói để thờ Mẫu ở ngang chỗ buồng ngủ của Mẫu ngày trước thay  
vào ngôi đền bằng lá hồi bấy giờ. Đến năm 1677 (Lê Hy Tông 2) mười người trong  
họ Mẫu được ơn vua cho trừ phu đài tạp dịch mãn đại để chuyên về sự thờ cúng  
Mẫu” [Phạm Quang Phúc 1942: 18-19].  
Bản kể của Phạm Quang Phúc không ghi theo lịch niên hiệu vua (như Dương  
Hòa, Cảnh Trị,...), mà lại ghi thẳng năm dương lịch (như 1642, 1677...), nhưng về  
cơ bản, đoạn trích trên là trùng khớp với ghi chép sau đây trong Tiên từ phả ký bản  
lưu tại Phủ Giầy mà quan Tri huyện Vụ Bản đã được xem trực tiếp khi đó: “Thời  
Lê Dương Hòa thứ 8 (Thần Tông) vâng chiếu chỉ xây dựng đền ngói. Thời Lê  
Chính Hòa (Hy Tông) thứ 2, cấp cho dân làng 10 sái phu (người quét rửa đền) trải  
qua các triều đại đều được phong tặng Bậc thần thứ nhất” [Khuyết danh - Phả ký  
a, b; Khuyết danh - Phả ký d: 81]. Đây là những câu cuối cùng của Tiên từ phả ký.  
Các thông tin về đợt sắc phong đầu tiên cho Liễu Hạnh công chúa vào năm  
Dương Hòa 8 (1642) trong các bản kể muộn đã điểm ở trên, theo khảo cứu hiện  
nay của chúng tôi, là sát thực với tình hình tư liệu sắc phong lưu giữ tại Phủ Giầy  
lúc đó (sẽ diễn giải ở mục tiếp theo của bài viết này). Lần sắc phong đầu tiên vào  
năm 1642 này, theo truyền thuyết, được gắn với câu chuyện tiên chúa dự cuộc  
thi đấu của bách thần nước Đại Việt, rồi ngài hiển ứng tạo sự kiện kéo chữ ở trên  
không trung để tạ ơn và chúc tụng đức vua.  
Trong các bản kể truyền thuyết hệ thần Liễu Hạnh từ sau thập niên 1940 đến  
ngày hôm nay, về cơ bản là có thông tin về sắc phong Dương Hòa 8 (1642) gắn  
với sự kiện kéo chữ trong cuộc thi đấu với bách thần, tuy lời kể có xuất nhập đôi  
chút giữa các bản [Hội Tiên Mẫu Việt Nam 1952 : 72-73; Nhà in Nguyễn Bá 1964:  
89-91; Nhà in Tương Lai 1974: 89-91; Nguyễn Thị Cảnh Dương 2008: 10-11; Hồ  
Đức Thọ 2010: 77; Nguyễn Thị Cảnh Dương 2017: 10-11].  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
39  
Như vậy, đến đây, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng, trong mảng thần tích  
được tổng quan ở trên, tính từ VCTN-T bản in năm 1811 đến hiện nay (2018), niên  
đại Dương Hòa 8 (1642) là năm sớm nhất mà Liễu Hạnh được triều đình Lê Trịnh  
sắc phong. Nói một cách khác, sắc phong có niên đại sớm nhất cho Liễu Hạnh  
được xem là sắc phong Dương Hòa 8. Dĩ nhiên, đây là niên đại trong truyền thuyết,  
còn thực sự là có sắc phong Dương Hòa 8 hay không thì cần luận giải ở các phần  
tiếp theo của bài viết.  
Cũng cần thiết có thêm một ghi chú bổ sung ở đây là, có vài ba bản kể muộn  
từ sau năm 1950 đến nay lại đẩy niên đại sắc phong sớm nhất lên Dương Hòa 1  
(1635) [Hội Tiên Mẫu Việt Nam 1952: 72; Nhà in Nguyễn Bá 1964: 89; Hưng Thế  
Nguyên 1967: 54; Nhà in Tương Lai 1974: 89]. Dĩ nhiên, đó cũng là niên đại trong  
truyền thuyết mà thôi, tạm thời được đặt ra bên ngoài phạm vi luận giải của bài này.  
2. Những thống kê hay giới thiệu tổng quan về sắc phong nguyên vật cho  
Liễu Hạnh công chúa đã được công bố  
Nếu mảng thần tích có trữ lượng đồ sộ như đã tổng quan ở trên, và vẫn đang  
còn tiếp tục triển nở trong hiện tại và tương lai, thì mảng tư liệu thống kế hay giới  
thiệu tổng quan về sắc phong nguyên vật được bảo quản ở Phủ Giầy cho Liễu Hạnh  
và hệ thần Liễu Hạnh lại rất ít. Nguyên nhân chủ yếu, như đã nói ở trên, là do có  
rất ít người được tiếp cận trực tiếp với sắc phong nguyên vật. Có một số người có  
thể được tiếp cận trực tiếp nhưng do không đọc được văn bản Hán Nôm, nên phải  
dựa vào lời đọc nhanh hay bản dịch của người khác, có khi vì thế mà đưa thông tin  
không sát thực.  
2.1. Thống kê và giới thiệu nhanh của nhóm Bùi Hạnh Cẩn (1993)  
Thống kê đã công bố cần điểm đầu tiên là của nhóm soạn giả Bùi Hạnh Cẩn  
- Lê Trân trong ấn phẩm năm 1993. Trong Lời nói đầu, hai ông có cho biết: “may  
mắn được là người cùng quê hương Thiên Bản, là cháu 17 đời của Mẫu Liễu Hạnh,  
nhóm biên soạn chúng tôi sưu tầm, dịch, biên tập một số văn bản nhằm góp phần  
cung cấp thêm chút ít tư liệu về Đức Thánh mẫu Liễu Hạnh” [Bùi Hạnh Cẩn - Lê  
Trân 1993: 7]. Bởi xuất thân của các soạn giả như vậy, nên chúng tôi nghĩ rằng, họ  
đã thực sự tiếp cận với nguyên vật hay bản sao của sắc phong đang bảo quản tại  
Phủ Giầy ở thời điểm đó. Trên thực tế, hai ông đã đưa một thống kê “các sắc phong  
Bà Chúa Liễu Hạnh của các triều đại trước” với số lượng là 11 đạo, mà sớm nhất  
là Vĩnh Khánh 2 (1730)(12) và muộn nhất là Khải Định 2 (1917) [sđd: 82]. Đó là  
một thống kê đơn giản, chỉ có độ dài hơn một nửa trang sách in, cung cấp niên hiệu  
các đời vua và năm thứ bao nhiêu (không cho biết rõ ngày và tháng nào thuộc năm  
đó), gồm: Vĩnh Khánh 2, Cảnh Hưng 40, Chiêu Thống 1, Chiêu Thống 2, Quang  
Trung 1, Cảnh Thịnh 1, Minh Mạng 1, Thiệu Trị 4, Tự Đức 3, Duy Tân 3, Khải  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
40  
Định 2. Hai soạn giả không miêu tả về tình trạng sắc phong nguyên vật, cũng như  
cách thức bảo quản ở Phủ Giầy lúc đó như thế nào. Ở cuối phần thống kê, các soạn  
giả có ghi rằng: “Trong mười sắc phong,(13) do tư liệu sao chép có nhiều chỗ bị mờ  
hoặc mất, chỉ có hai sắc phong là còn đầy đủ chữ”. Sau lời ghi chú đó, các soạn giả  
còn cung cấp phần dịch nghĩa (không có chữ Hán, không có phiên âm) của hai đạo  
sắc phong mang niên đại Duy Tân 3 và Khải Định 2.  
Như vậy, trong thống kê của nhóm này, sắc phong mang niên đại cổ nhất là  
1730 (Vĩnh Khánh 2). Không có thông tin gì về các sắc phong Dương Hòa hay  
Cảnh Trị.  
2.2. Liệt kê của nhóm Phạm Quỳnh Phương (1992-1996)  
Một bài viết dài về Phủ Giầy của Phạm Quỳnh Phương công bố năm 1996  
(xem Phạm Quỳnh Phương 1996) có thể xem là kết quả được nâng cấp từ luận văn  
tốt nghiệp đại học năm 1993 với tiêu đề Tục thờ Liễu Hạnh ở Phủ Giày - luận văn  
ấy được đánh giá là “một chuyên luận đầu tiên về hiện tượng văn hóa tín ngưỡng  
Mẫu Liễu trên mảnh đất Phủ Giầy dưới góc độ một hiện tượng văn hóa dân gian  
tổng thể” [Nguyễn Đình San 1995: 11].  
Trong bản công bố năm 1996, Phạm Quỳnh Phương có đưa ra một liệt kê các  
sắc phong ở Phủ Giầy, mà có lẽ là dựa theo một bản viết của Lê Xuân Quang đã  
hoàn thành năm 1992 (đã công bố ở hội thảo tại Văn Miếu năm đó, nhưng chưa  
chính thức đăng ở đâu).(14) Bởi vậy, chúng tôi tạm gọi là “liệt kê của nhóm Phạm  
Quỳnh Phương (1992-1996). Chưa rõ là ở thời điểm đó hai tác giả này có tiếp cận  
với sắc phong chính bản hay bản sao được bảo lưu ở Phủ Giầy hay không.  
Liệt kê của Phạm Quỳnh Phương đưa ra 9 đạo sắc phong (các quy đổi sang  
năm dương lịch của nhóm này thì chúng tôi giữ nguyên): Vĩnh Khánh 2 (1729),  
Cảnh Hưng 1 (1740), Cảnh Hưng 47 (1786), Chiêu Thống 1 (1787), Quang Trung  
1 (1788), Cảnh Thịnh 1 (1793), Minh Mạng (1921), Khải Định (1916), Tự Đức 2  
(1850). Ngoài niên hiệu của sắc phong, nhóm này còn ghi các mỹ tự được ban tặng  
của các vị thần (ví dụ Đế Thích Liễu Hạnh, Mạ Vàng Đế Thích thiên đình...). Đặc  
biệt, trước khi liệt kê, Phạm Quỳnh Phương còn ghi một dòng đáng chú ý: “Năm  
Diên Thành thứ ba (1580) vua Mạc phong thần hiệu Mạ Vàng công chúa (bia trong  
Phủ Tiên Hương ghi vậy nhưng một số tài liệu chép Mã Hoàng công chúa)” [Phạm  
Quỳnh Phương 1996: 110]. Về thông tin vô cùng thú vị này, tức việc vua Mạc ở  
thời kỳ Thăng Long - Dương Kinh (1527-1593) đã từng phong thần cho Liễu Hạnh  
vào năm 1580, thì chúng tôi tạm gác lại, sẽ bàn thêm ở một dịp khác.  
Như vậy, về cơ bản, thông tin của nhóm này có nhiều điểm tương đồng với  
thông tin của nhóm Bùi Hạnh Cẩn. Niên đại sắc phong cổ nhất cũng là năm 1730  
(Vĩnh Khánh 2).  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
41  
2.3. Liệt kê của Nguyễn Minh San và Phạm Kế (1996)  
Tác giả Nguyễn Minh San (cũng là Nguyễn Đình San) đã làm điều tra điền  
dã ở khu vực Phủ Giầy những năm đầu thập niên 1990, tới năm 1995 thì đã hoàn  
thành luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử với tiêu đề Việc phụng thờ Mẫu Liễu ở  
Phủ Giầy [Nguyễn Đình San 1995]. Một số kết quả nghiên cứu chính yếu của luận  
án đó được sử dụng vào chương “Bà chúa Liễu” (trang 134-164) của cuốn sách  
cùng tác giả xuất bản vào năm sau [Nguyễn Minh San 1996]. Tựa như Nguyễn  
Minh San không có điều kiện tiếp xúc với mảng tư liệu sắc phong tại Phủ Giầy vào  
thời gian đó, cho nên, ông phải sử dụng nguyên lại thống kê của nhóm Bùi Hạnh  
Cẩn - Lê Trân (gồm 11 đạo, sớm nhất là Vĩnh Khánh 2, muộn nhất là Khải Định 2),  
rồi cũng lại chép luôn cả bản phiên âm của hai đạo sắc phong thời Nguyễn (Duy  
Tân 3 và Khải Định 2) [Nguyễn Minh San 1996: 138-140].  
Trong một ấn phẩm cùng năm 1996, tác giả Phạm Kế cũng chép lại thống  
kê về 11 đạo sắc phong ở Phủ Giầy của nhóm Bùi Hạnh Cẩn - Lê Trân [Phạm Kế  
1996: 108].  
2.4. Giới thiệu tổng quan của Bùi Văn Tam (2001-2007)  
Bùi Văn Tam là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở địa phương, có mấy  
chục năm làm điền dã bền bỉ ở vùng xã Kim Thái và huyện Vụ Bản, một ít trong số  
đó đã được công bố và ấn hành [Bùi Văn Tam 1992, 2001, 2007, 2013, 2017]. Trả lời  
phỏng vấn của người viết bài này, Bùi Văn Tam có cho biết: bản thân ông trong các  
năm 1995-1997, đã từng tiếp xúc với những sắc phong nguyên vật được bảo quản  
ở khu vực Phủ Giầy. Đó là những đợt điều tra điền dã tại Phủ Giầy của các cơ quan  
văn hóa cấp tỉnh Nam Định mà ông được tham gia cùng (đoàn điều tra có những vị  
như Trần Đăng Ngọc, Dương Văn Vượng ở Bảo tàng tỉnh).(15) Bởi vậy, trong cuốn  
Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh xuất bản lần đầu năm 2001 và tái bản nhiều  
lần, Bùi Văn Tam có đưa ra một giới thiệu tổng quan như sau: “Phủ Dầy Tiên Hương  
còn giữ được 21 sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa (1680-1705), rồi đến Lê  
Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII, cách đây 300 năm. Thánh mẫu được  
sùng kính tôn là Mạ Vàng công chúa, vinh phong là Chế thắng Hòa diệu đại vương,  
là Mẫu nghi thiên hạ với ý nghĩa là bà mẹ mẫu mực trong thiên hạ, là thượng đẳng  
thần” [Bùi Văn Tam 2001: 38; 2007: 39-40]. Tuy chỉ ngắn gọn trong hai câu giới  
thiệu, nhưng có thể thấy đây là một giới thiệu sát thực. Đặc biệt, ở thời điểm các  
năm 1995-2001, nhóm các nhà nghiên cứu ở địa phương, mà Bùi Văn Tam là một  
đại diện, đã trực tiếp thấy trên thực địa sắc phong sớm nhất cho Liễu Hạnh còn giữ  
được là vào niên hiệu Chính Hòa, tuy không cho biết rõ là Chính Hòa năm thứ mấy  
(Chính Hòa kéo dài từ năm 1680 đến năm 1705, đời vua Hy Tông Chương Hoàng  
Đế - tên húy là Lê Duy Hợp). Sau Chính Hòa, còn thấy niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705-  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
42  
1720), Vĩnh Khánh (1729-1732). Tổng số sắc phong kiểm được lúc đó là 21 đạo.  
Chỉ dừng lại ở giới thiệu tổng quan như vậy, Bùi Văn Tam chưa có điều kiện thực  
hiện các khảo cứu sâu hơn nữa về mảng sắc phong nguyên vật ở Phủ Giầy.  
2.5. Giới thiệu tổng quan của Trần Ích Nguyên (Đài Loan; 2006-2007)  
Một học giả của Đài Loan về văn học Hán văn Việt Nam, là Trần Ích Nguyên,  
đã có quan tâm từ lâu đến các câu chuyện về Liễu Hạnh công chúa – một nữ thần  
danh tiếng bậc nhất – trong các tác phẩm văn học Việt Nam sáng tác bằng văn tự  
Hán Nôm. Bắt đầu từ việc nghiên cứu tác phẩm Truyền kỳ tân phả của nữ sĩ Đoàn  
Thị Điểm, mà một thiên trong đó là “Vân Cát thần nữ truyện”, ông đã dành nhiều  
công sức để tổng thuật và công bố một khảo luận quan trọng với tựa đề Khảo sát  
văn bản Hán Nôm về nữ thần Việt Nam là Liễu Hạnh công chúa vào các năm 2006  
- 2007 [Trần Ích Nguyên 2006, 2007, 2010]. Sau đó, ông vẫn tiếp tục mạch khảo  
cứu về Liễu Hạnh công chúa [Trần Ích Nguyên 2012].  
Khi khảo sát văn bản Hán Nôm liên quan đến Liễu Hạnh, học giả họ Trần đặc  
biệt chú ý đến mảng thần tích thần sắc mà ông xếp chung vào thành nhóm “tiên  
truyện, thần tích, thần sách, ngọc phả” [Trần Ích Nguyên 2007: 161-165; 2010:  
199-206]. Tuy nhiên, nếu phân tách kỹ hơn thì thấy, dường như tinh lực của ông  
là dành cho mảng thần tích (bao gồm cả tiên truyện và ngọc phả), còn thần sắc  
thì hầu như chỉ rất thoảng qua. Thêm nữa, về cơ bản, ông chỉ nghiên cứu văn bản  
đang được cất trữ trong các kho sách Hán Nôm ở Việt Nam, mà ít tiến hành điều tra  
điền dã. Những lần ghé thăm Phủ Giầy cũng chỉ chớp nhoáng, và chưa có điều kiện  
làm khảo sát văn bản tại chỗ bao giờ. Bởi vậy, kết quả phần tổng thuật về thần sắc  
cho Liễu Hạnh mà ông đã công bố trong các năm 2006-2007 chỉ có một đoạn rất  
ngắn. Đặc biệt là chưa rõ vì sao ông lại không biết đến nhóm tư liệu thần sắc cho  
các làng Vân Cát và Tiên Hương (thuộc tổng Đồng Đội huyện Vụ Bản tỉnh Nam  
Định) trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mà chỉ liệt kê ví dụ 4 nhóm  
thần sắc của các tỉnh Hà Đông và Nam Hà với 4 ký hiệu kho, rồi chỉ ra danh hiệu  
“Liễu Hạnh Mạ Vàng 柳杏鎷鐄... công chúa” được ghi trong thần sắc [Trần Ích  
Nguyên 2007: 163; 2010: 201]. Với vấn đề niên đại của sắc phong cho Liễu Hạnh  
công chúa, bởi vậy, Trần Ích Nguyên cũng không có khảo cứu gì.  
2.6. Giới thiệu tổng quan của Nguyễn Thị Cảnh Dương (2008, 2017)  
Một cây bút khác của Nam Định là Nguyễn Thị Cảnh Dương (thuộc Hội Văn  
học Nghệ thuật Nam Định)(16) viết những tập sách mỏng giới thiệu tổng quan về Phủ  
Giầy và Phủ Tiên Hương [Nguyễn Thị Cảnh Dương 2008, 2017], hiện là sách được  
bày bán trong các đền phủ thuộc khu vực Phủ Giầy để phục vụ khách thập phương.  
Trong hai cuốn sách của Nguyễn Thị Cảnh Dương, đều có một đoạn ngắn  
giới thiệu tổng quan về sắc phong hiện đang được lưu giữ ở Phủ Tiên Hương. Ở  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5 (148) . 2018  
43  
bản sách năm 2008, bà viết: “Phủ Tiên Hương là một phủ lớn trong quần thể di  
tích Phủ Dầy. Nơi đây còn lưu giữ hàng trăm cổ vật, cổ thư có giá trị. Đã có tới 230  
hiện vật gỗ, sành, sứ, kim loại; có tới 21 đạo sắc từ thời Chính Hòa thứ 4 (1688)  
đến triều vua Khải Định năm thứ 9 (1924)” [Nguyễn Thị Cảnh Dương 2008: 21].  
Đến bản sách năm 2017 (có chỉnh lý bổ sung từ bản sách 2008), bà viết: “Phủ Tiên  
Hương là một phủ lớn trong quần thể di tích Phủ Dầy. Nơi đây còn lưu giữ hàng  
trăm cổ vật, cổ thư có giá trị. Đã có tới 230 hiện vật gỗ, sành, sứ, kim loại; có tới  
14 đạo sắc từ thời Chính Hòa thứ IV (1688) đến triều vua Khải Định năm thứ IX  
(1924)” [Nguyễn Thị Cảnh Dương 2017: 23].  
Đọc đối sánh giữa hai bản, thấy có hai điểm thú vị sau trong giới thiệu của  
Nguyễn Thị Cảnh Dương. Một là, về nội dung thì chi tiết hơn so với giới thiệu  
tổng quan của Bùi Văn Tam. Sách của Bùi Văn Tam chỉ đề cập đến niên đại sớm  
nhất của sắc phong là “Chính Hòa” chung chung mà không có năm thứ bao nhiêu,  
Nguyễn Thị Cảnh Dương cho biết là “Chính Hòa năm thứ 4/IV” tức là năm 1683  
(quy đổi thành năm 1688 của Nguyễn Thị Cảnh Dương là nhầm, cũng có thể chỉ  
là đánh máy nhầm từ 3 thành 8). Hai là, nếu ở bản năm 2008 có 21 đạo sắc phong,  
thì đến bản năm 2017 con số giảm xuống còn 14 đạo. Như vậy là chênh nhau tới 7  
đạo. Tại sao có sự thay đổi này thì cần xem tiếp ở mục 3 dưới đây.  
Ngoài đoạn giới thiệu tổng quan như trên, tới bản sách năm 2017, Nguyễn  
Thị Cảnh Dương còn viết thêm một đoạn dài nói thêm về 14 đạo sắc phong được  
lưu giữ tại Phủ Tiên Hương [Nguyễn Thị Cảnh Dương 2017: 11-14]. Đặc biệt,  
còn đưa trọn nội dung lời dịch tiếng Việt hai đạo: đạo ngày 10 tháng 12 năm Vĩnh  
Khánh 2 (1730) và đạo ngày 1 tháng 7 năm Đồng Khánh 2 (1886). Bà không cho  
biết là dựa vào bản dịch nào.  
3. Nhận thức mới dựa trên kết quả điều tra của Bảo tàng Nam Định từ  
năm 2009, và công bố của Phủ Tiên Hương cùng dòng họ Trần Lê  
Nhận thức mới về sắc phong nguyên vật đang được bảo quản tại Phủ Giầy là  
có được từ kết quả điều tra tại chỗ của Bảo tàng Nam Định từ năm 2009. Sau đó  
là công việc công bố dưới hình thức khác nhau mang tính chủ động của Phủ Tiên  
Hương (công bố 14 đạo), và của dòng họ Trần Lê (công bố 7 đạo).  
Từ năm 2009 đến nay, đáp ứng thỉnh nguyện của phía nhà đền Phủ Tiên  
Hương và đại diện dòng họ Trần Lê gửi tới Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch và Sở  
Văn hóa Thể thao & Du lịch Nam Định, một cơ quan chuyên môn thuộc Sở là Bảo  
tàng Nam Định đã nhiều lần cử cán bộ tới điều tra khảo sát tư liệu Hán Nôm tại chỗ  
đang được bảo quản trong dòng họ Trần Lê thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện  
Vụ Bản. Các kết quả làm việc của Bảo tàng Nam Định (gồm khảo sát, tu bổ, chụp  
ảnh kỹ thuật số, phiên dịch, giới thiệu) được phản ảnh qua 2 báo cáo vào năm 2009  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 32 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 20260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Căn cước Lịch sử của thánh mẫu: Phát hiện và luận giải đạo sắc phong cổ nhất mang niên đại 1683 cho liễu hạnh công chúa hiện còn nguyên tại phủ giầy ở Nam Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcan_cuoc_lich_su_cua_thanh_mau_phat_hien_va_luan_giai_dao_sa.pdf