Vấn đề tìm kiếm đồng minh trong cách mạng Mỹ (1775-1783) - Quan điểm và phương án

VẤN ĐỀ TÌM KIẾM ĐỒNG MINH TRONG CÁCH MẠNG MỸ  
(1775-1783) - QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG ÁN  
LÊ THÀNH NAM  
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế  
Tóm tắt: Trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1775-1783), để đối chọi với  
nước Anh có tiềm lực quân sự vượt trội, cư dân Bắc Mỹ tiến hành vận động  
ngoại giao với các thế lực bên ngoài nhằm tranh thủ sự ủng hộ của cộng  
đồng quốc tế. Do đó, ngay từ buổi đầu những người Mỹ cách mạng đã hình  
thành những luồng quan điểm khác nhau về vấn đề tìm kiếm đồng minh.  
Trên cơ sở các cuộc tranh biện của các đại biểu trong Đại hội lục địa, phe  
cách mạng đề ra phương án liên minh với quốc gia một khi cơ hội đến. Bài  
viết phân tích quan điểm và phương án của những người Mỹ cách mạng  
trong việc tìm kiếm đồng minh.  
Từ khóa: Cách mạng Mỹ, đồng minh, phương án và quan điểm.  
Cách mạng Mỹ vốn diễn ra dưới hình thức một cuộc chiến tranh giành độc lập do các  
thế hệ con cháu có nguồn gốc tổ tiên từ nước Anh định cư ở Bắc Mỹ tiến hành. Trong  
cuộc chiến này, cư dân thuộc địa không chỉ đơn thuần chống trả mẫu quốc trên mặt trận  
quân sự mà còn mở ra cuộc vận động ngoại giao với thế giới bên ngoài nhằm quốc tế  
hóa tình hình chính trị nội bộ của đế chế Anh. Đây được xem như mặt trận không kém  
phần quan trọng, bởi một mặt làm cho dư luận quốc tế hiểu rõ cuộc đấu tranh chính  
nghĩa mà họ đang theo đuổi; mặt khác từng bước phá vỡ thế cô lập, thoát khỏi thế chiến  
đấu trong vòng vây của đối phương, tranh thủ sự giúp đỡ tối đa của cộng đồng quốc tế.  
Để đạt mục tiêu đề ra, ngay từ buổi đầu của cuộc chiến, những người Mỹ cách mạng đã  
hình thành những luồng quan điểm, ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề tìm kiếm, lựa  
chọn đối tác liên minh. Nhờ sự thấu rõ tình hình quốc tế thông qua những luồng quan  
điểm tranh luận giữa các đại biểu ưu tú đến từ các thuộc địa, Đại hội lục địa từng bước  
vạch ra phương án, kế hoạch cho vấn đề này. Từ thực tế nêu trên, bài viết sẽ phân tích,  
làm rõ: (i) quan điểm của phe cách mạng về việc tìm kiếm đối tác liên minh; (ii) phương  
án đặt ra; (iii) một số nhận xét.  
1. QUAN ĐIỂM CỦA PHE CÁCH MẠNG VỀ VIỆC TÌM KIẾM ĐỐI TÁC LIÊN MINH  
Ngày 19-4-1775, cuộc đụng độ vũ trang với quân đội Anh ở Lexington của cư dân Bắc  
Mỹ đánh dấu sự mở đầu cuộc chiến tranh giành độc lập. Chiến tranh được xem như là  
hệ quả tất yếu của hàng loạt chính sách, biện pháp mà thực dân Anh vốn áp đặt đối với  
cư dân thuộc địa trong thời gian trước đó. Không lâu sau, Đại hội lục địa được triệu tập  
trở lại tại Philadelphia (10-5-1775), quy tụ những đại biểu ưu tú của các thuộc địa  
(ngoại trừ Georgia), nhằm lên phương án tác chiến trước mắt và vạch định những bước  
đi chiến lược cho thời gian sắp tới.  
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế  
ISSN 1859-1612, Số 01(49)/2019: tr. 125-132  
Ngày nhận bài: 25/10/2018; Hoàn thành phản biện: 01/11/2018; Ngày nhận đăng: 07/11/2018  
126  
LÊ THÀNH NAM  
Có một thực tế lịch sử cần bàn, thời điểm chiến sự nổ ra, phần lớn các thuộc địa vẫn  
chưa chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đối đầu với mẫu quốc. Tâm trạng dè dặt, chưa muốn ly  
khai khỏi chính quốc vẫn lưu hành khá rộng rãi trong cư dân cũng như đối với các đại  
biểu tham dự Đại hội lục địa. Mặt khác, một bộ phận dân cư vẫn còn nặng tư tưởng bi  
quan về cuộc chiến với nước Anh, bởi họ nhận thức rằng việc đối đầu với thế lực có  
tiềm lực quân sự hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ chẳng khác nào đẩy các thuộc địa  
lâm vào tình thế “trứng chọi với đá”. Điều tất yếu, sự thất bại nằm trong dự báo. Bị chi  
phối những quan điểm như vậy khiến cho các đại biểu tham dự Đại hội lục địa chưa tính  
đến việc kêu gọi sự giúp đỡ, viện trợ bên ngoài cho sự nghiệp của họ, bởi điều này sẽ  
dẫn tới khả năng phá vỡ mọi nỗ lực đàm phán, thương lượng với chính quyền London  
một khi khả năng còn để ngõ.  
Điều cần phải nói thêm rằng, những đại biểu tham dự Đại hội lục địa vốn có gốc gác, tổ  
tiên từ Cựu lục địa nên chính họ cũng thấu hiểu phần nào tâm lý nghi ngại, khéo léo che  
dấu bằng hành động một cách lạnh lùng của các triều đình phong kiến châu Âu trước  
thực tế cuộc đấu tranh diễn ra trong nội bộ đế chế Anh. Đó là chưa kể tới những nhà  
ngoại giao châu Âu có tư tưởng giảo hoạt, dễ dàng thay đổi trong mọi tình huống. Do  
đó, Đại hội lục địa không mấy hào hứng trong việc tìm kiếm đồng minh, viện trợ đến từ  
phía bên kia Đại Tây Dương. Không một ai trong Đại hội lục địa có thể khẳng định chắc  
chắn rằng những quốc gia phong kiến châu Âu trước kia vốn thù địch với cư dân Bắc  
Mỹ (với tư cách một bộ phận của đế chế Anh) lại giúp đỡ các thuộc địa của Anh ở Tây  
bán cầu một cách vô tư, không vị lợi, tính toán thiệt hơn cho bản thân họ. Tâm trạng này  
của Đại hội lục địa được thể hiện qua ý kiến của John Adams khi nói về sự khác biệt  
giữa cư dân Bắc Mỹ và châu Âu: “Sự xảo quyệt, tài sáng chế bịa đặt, tính cách hết sức  
kín đáo và sự im lặng tuyệt đối của những triều đình châu Âu này sẽ là quá nhiều cho  
những công sứ hấp tấp, nóng nảy và những người lơ đễnh, lười biếng của chúng ta mặc  
dù cũng yên lặng như họ” [7, tr.23].  
Thế nhưng, trước những chính sách hết sức hà khắc cùng với sự phong tỏa từ chính  
quốc đã đẩy nền kinh tế - xã hội của 13 thuộc địa rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô cùng bi  
đát. Tình cảnh đó tác động tới những người tham gia quân đội cách mạng. Đồng tiền do  
các thuộc địa phát hành bị mất giá nghiêm trọng: “Một xe ngựa chở đầy tiền khó mua  
nổi một xe ngựa chở đầy lương thực, thực phẩm” [8, tr.6]. Thêm vào đó, sự khan hiếm  
phương tiện khí tài chiến tranh đặt ra thách thức cho phe cách mạng. Tháng 7-1775, cơ  
quan Ủy ban An toàn New York (The New York Committee of Safety) đã phàn nàn  
rằng: “Chúng tôi (cư dân Bắc Mỹ - TG chú thích) không có vũ khí, chúng tôi không có  
thuốc súng, chúng tôi không có quân trang; Ơn Chúa, hãy gửi cho chúng tôi tiền, khí  
giới và đạn dược” [4, tr.23]. Hay như vị Tổng tư lệnh quân đội cách mạng, G.  
Washington thừa nhận trong dịp lễ Nôen (12-1775): “Sự túng thiếu thuốc súng là không  
thể tưởng tượng được, sự lãng phí một ngày và không có nguồn cung cấp là viễn cảnh  
ảm đạm” [5, tr. 33]. Hiện tượng đào ngũ không chỉ diễn ra trong quân đội chính quy do  
G. Washington chỉ huy mà ngay cả dân quân địa phương. Đây được xem là tình trạng  
phổ biến khắp nơi.  
VẤN ĐỀ TÌM KIẾM ĐỒNG MINH TRONG CÁCH MẠNG MỸ (1775-1783)...  
127  
Trải qua mùa đông 1777-1778 khắc nghiệt ở thung lũng Forge trong tình trạng thiếu  
thốn mọi thứ, chính G. Washington cũng phải thừa nhận rằng: “Sự nghiệp của chúng ta  
đang ở trong điều kiện kiệt quệ, đổ nát và tệ hại hơn nhiều so với lúc bắt đầu cuộc  
chiến… Những lợi ích chung của nước Mỹ đang tan dần và đắm chìm dần vào sự tan vỡ  
không thể cứu vãn nổi nếu như không có một phương thuốc nào được áp dụng sớm  
hơn” [8, tr. 6]. Phương thuốc mà G. Washington và phe cách mạng nghĩ tới chính là tìm  
kiếm đồng minh, viện trợ từ phía bên ngoài.  
Trong bối cảnh ở Bắc Mỹ đang tràn ngập tin đồn về việc nước Anh đang đề nghị với  
Pháp và Tây Ban Nha tiến hành phân chia lục địa Bắc Mỹ, đổi lại các quốc gia này hỗ  
trợ nước Anh đàn áp lực lượng nổi dậy, do đó, vấn đề tìm kiếm đồng minh trở nên cấp  
thiết và cần phải được phe cách mạng triển khai nhanh hơn. Và chắc chắn, chính giới  
Pháp sẽ bị hấp dẫn lời đề nghị của nước Anh nhằm phân chia các vùng đất Bắc Mỹ tại  
Paris [1, tr. 66-67]. Tin tức này nhanh chóng lan tới Đại hội lục địa khiến cho các đại  
biểu lo lắng. Bóng ma của một hiệp ước phân chia Bắc Mỹ do nước Anh khởi xướng  
khiến những nhà ái quốc cách mạng nhận thức rằng, “trong khi chúng ta đang lưỡng lự  
về sự thiết lập liên minh [nước ngoài], nước Anh có lẽ ký ấn triện phá vỡ chúng ta bằng  
cách ký hiệp ước phân chia Bắc Mỹ với hai hoặc ba cường quốc giàu tham vọng” [1,  
tr.66]. Vấn đề đặt ra, Đại hội lục địa cần có quan điểm dứt khoát hơn về con đường đi  
tới độc lập, tách khỏi đế chế Anh cũng như sự cần thiết trong việc thiết lập một liên  
minh với một quốc gia bên ngoài nhằm đấu tranh chống lại quân đội Anh. Trong bản  
“Tuyên ngôn về những nguyên nhân khởi nghĩa vũ trang” (Declaration of the causes of  
taking up arms), Đại hội lục địa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ủng hộ quốc tế với  
sự nghiệp cách mạng: “Sự nghiệp của chúng ta là chính đáng, liên minh của chúng ta là  
hoàn hảo. Nguồn lực của chúng ta là to lớn và trong trường hợp cần thiết, sự ủng hộ  
quốc tế sẽ đạt được một cách chắc chắn” [1, tr.64].  
Với nhận thức như vậy, ngày 29-11-1775, tức bảy tháng sau sự kiện Lexington, Đại hội  
lục địa quyết định thành lập “Ủy ban liên lạc bí mật” (Committee of Secret  
Correspondence)1 nhằm “mục đích duy nhất là kết thân những người bạn của chúng ta  
ở Anh, Ai Len và các quốc gia khác trên thế giới” [2, tr. 22]. Cơ quan này nhanh chóng  
cử Arthur Lee, một người Virginia đang sinh sống ở London, cải trang thành phóng  
viên với mục đích thăm dò thái độ dư luận của nước Anh cũng như các vị đại sứ của các  
quốc gia châu Âu đang có mặt tại đây.  
Lúc đầu, “Ủy ban liên lạc bí mật” tỏ ra khá thận trọng, chủ yếu tập trung nhiều hơn vào  
khả năng tiếp cận trong phạm vi đế chế Anh. Những người Mỹ cách mạng mong đợi  
“tình huynh đệ trong nội bộ đế chế Anh mà chia sẻ một di sản chính trị chung bằng kề  
vai sát cánh với sự nghiệp của họ” [1, tr.70]. Di sản chính trị bao gồm “quyền được  
sống, tự do và tài sản”. Họ kỳ vọng, mong mỏi dư luận tiến bộ ở nước Anh sẽ gây áp  
lực để lật đổ nội các có tư tưởng thù địch với sự nghiệp của nhân dân Mỹ. Thế nhưng,  
sự trông chờ này nhanh chóng trở nên ảo tưởng, vô vọng. Trong bối cảnh đó, Đại hội  
1 Đây là cơ quan tiền thân của Bộ Ngoại giao Mỹ. Những thành viên đầu tiên của cơ quan này gồm John  
Dickson, Benjamin Franklin, Benjamin Harrison, John Jay và Thomas Johnson.  
128  
LÊ THÀNH NAM  
lục địa quyết định tìm kiếm sự hỗ trợ bên ngoài từ những cường quốc có thái độ thiện  
cảm với sự nghiệp chính nghĩa của họ.  
Một vấn đề đáng lưu ý trong Đại hội lục địa là các đại biểu luôn đặt sự xung đột của Anh  
với các thuộc địa Bắc Mỹ trong mối tương quan quyền lực của quan hệ quốc tế ở châu  
Âu, bởi họ cho rằng, mẫu quốc - nước Anh tạo ra không ít sự hiềm khích, thù địch với  
nhiều quốc gia khác. Là một người từng sinh sống, làm việc nhiều năm ở nước Anh và  
các triều đình phong kiến châu Âu, Benjamin Franklin – thành viên của Đại hội lục địa,  
nhận định rằng: “Tất cả các quốc gia châu Âu (ngoại trừ Anh) luôn đứng bên cạnh vấn đề  
của chúng ta. Song châu Âu có lý do riêng của nó. Các quốc gia đó tự cho rằng đang đối  
mặt với tình trạng nguy hiểm trước sự lớn mạnh của nước Anh và sẽ thú vị chứng kiến đế  
chế Anh bị tan rã” [1, tr. 63]. Hàng loạt vấn đề liên quan đến thái độ của các quốc gia ở  
Cựu lục địa được các đại biểu nêu ra: “Nước Pháp ở đâu, Tây Ban Nha ở đâu ? Hà Lan ở  
đâu ? Những kẻ thù tự nhiên của nước Anh – họ đang ở đâu trong thời điểm này ? Bạn có  
nghĩ rằng, các quốc gia này sẽ ủng hộ chúng ta với sự thờ ơ và vô ích hay không ? Có  
phải Louis XVI (vua nước Pháp – TG chú thích) ngủ quên trong thời điểm này hay không  
? Hãy tin tôi, Câu trả lời là Không?” [1, tr. 63]. “Hãy tin tôi, câu trả lời là Không”, có  
nghĩa rằng, các cường quốc châu Âu sẽ không đứng ngoài cuộc đấu tranh của cư dân Bắc  
Mỹ. Với nhận thức như vậy đã giúp các nhà cách mạng Mỹ chuẩn bị trước cho một tâm lý  
tự tin hơn trong việc vận động sự giúp đỡ từ phía châu Âu lục địa.  
Để mở đường cho việc tiếp cận các triều đình châu Âu một cách dễ dàng hơn, B.  
Franklin bằng mối quan hệ cá nhân đã viết thư cho người bạn đang sinh sống tại The  
Hague (Hà Lan) – Charles William Frederick Dumas, trong đó chỉ rõ, “Ủy ban liên lạc  
bí mật” yêu cầu ông với tư cách công dân The Hague – địa điểm có sự hiện diện của  
nhiều vị đại sứ của các triều đình châu Âu, tận dụng bất cứ cơ hội nào để phát hiện “nếu  
có thể, thái độ của các triều đình về việc hỗ trợ hoặc liên minh, trong trường hợp chúng  
ta (nước Mỹ - TG chú thích) áp dụng một hoặc nhiều đề nghị cho những điều khác  
nhau” [3, tr. 33]. Theo dòng thời gian, C.W.F. Dumas trở thành kênh liên lạc, trao đổi  
thư từ với Đại hội lục địa và ngược lại.  
2. PHƯƠNG ÁN ĐẶT RA  
Có một niềm tin chung tồn tại trong những nhà ái quốc Mỹ rằng, cả hai quốc gia Pháp  
và Anh có mối thù truyền kiếp. Mối thâm thù này bắt nguồn từ việc nước Pháp bị tước  
đi quyền sở hữu hàng loạt vùng đất có giá trị chiến lược ở Tân thế giới(Canada,  
Lousiana) cùng với hoạt động thương mại tại đây. Tất cả những quyền này rơi vào tay  
nước Anh kể từ sau năm 17632. Do vậy, thông qua B. Franklin, những người Mỹ cách  
mạng nắm bắt tâm lý muốn trả đũa của chính giới Pháp cũng như tham vọng thu hồi  
2
Trong hơn nửa đầu thế kỷ XVIII, cả Pháp và Anh đều lao vào hai cuộc chiến tranh lớn: Chiến tranh  
Thừa kế Tây Ban Nha (1701-1714) và Chiến tranh Bảy năm (1756-1763). Cả hai cuộc chiến tranh này  
Pháp đều bại trận trước Anh nên buộc phải chấp nhận các điều khoản do bên thắng trận đưa ra. Trong  
hiệp ước Utrecht (11-4-1713), Pháp buộc phải nhượng cho Anh đất đai thuộc vùng vịnh Hudson, New  
Foundland và Acadi; còn trong hiệp ước Paris (10-2-1763), nước Anh tước bỏ chủ quyền của Pháp ở  
Canada, Nova Scotia, Cape Breton và Florida [Xem thêm: 6, tr.58-63]  
VẤN ĐỀ TÌM KIẾM ĐỒNG MINH TRONG CÁCH MẠNG MỸ (1775-1783)...  
129  
những vùng đất đã mất của triều đình Versailles. Sự mâu thuẫn gay gắt giữa Anh với  
Pháp, là cơ hội cho người Mỹ giải quyết quan hệ với Anh. Dưới nhãn quan của nhiều  
đại biểu trong Đại hội lục địa, không có một quốc gia hùng mạnh và giàu có ở Cựu lục  
địa, ngoài nước Pháp, có khả năng trở thành đối tượng cần phải liên minh, giúp đỡ cho  
cư dân Bắc Mỹ nhiều nhất.  
Cuối năm 1775, “Ủy ban liên lạc bí mật” bắt đầu thực hiện những cuộc tiếp xúc hết sức  
kín đáo với những mật vụ Pháp ngay trên đất Mỹ. Tháng 3-1776, Đại hội lục địa quyết  
định cử Silas Deane dưới danh nghĩa một thương gia Connecticutt đang tìm kiếm việc  
làm, tới Paris nhằm thăm dò thái độ của chính giới Pháp về tình hình Bắc Mỹ, đồng thời  
“yêu cầu sự giúp đỡ về quân trang, vũ khí, đồ dự phòng, tiền bạc và bất cứ phương tiện  
nào mà nước Pháp có thể đáp ứng cho cuộc đấu tranh chính nghĩa này” [8, tr. 29].  
Tuy có những động thái nhằm xích lại gần với nước Pháp nhưng trong Đại hội lục địa vẫn  
tồn tại nhiều luồng ý kiến hoài nghi về động cơ, mục đích thực sự của nước Pháp trong  
trường hợp quốc gia này can dự vào cuộc chiến tranh hiện tại diễn ra ở Bắc Mỹ. Trong suốt  
tháng 3 và 4-1776, chủ đề này thường xuyên chi phối trong các cuộc tranh biện của các đại  
biểu. Trong nhật ký của mình, John Adams đã phản ánh không khí này như sau: “Quyền lợi  
của Pháp ảnh hưởng như thế nào trong cuộc xung đột giữa Anh và thuộc địa Bắc Mỹ ?  
Nước Pháp sẽ đứng trung lập hay tham gia cùng với Anh hoặc với các thuộc địa Bắc Mỹ ?  
Có phải mối lưu tâm của Pháp muốn phân chia đế chế Anh hay không ? Các thuộc địa của  
Pháp vẫn an toàn hay không trong trường hợp Anh và thuộc địa Bắc Mỹ giữ vững quan hệ  
? Nước Pháp có thể bảo vệ các thuộc địa của nó hay không? Hiện tại nước Pháp đang sở  
hữu Martinique, Guadeloupe và một nửa lãnh thổ Hispaniola. Trường hợp hòa giải giữa  
Anh và thuộc địa Bắc Mỹ diễn ra, và cuộc chiến tranh Anh và Pháp nổ ra, nước Pháp có  
giữ được các lãnh thổ đó trong vòng 6 tháng hay không ?” [1, tr. 65].  
Những tranh cãi về mục đích, động cơ của nước Pháp trong cuộc chiến tranh ở Bắc Mỹ  
dù cho tạo ra những quan điểm trái ngược nhưng phần lớn các đại biểu trong Đại hội lục  
địa đều nhất trí hướng tới nước Pháp. “Chúng ta (các đại biểu – TG chú thích) hãy  
thông báo chính thức tới triều đại Bourbon, tối thiểu của Pháp, rằng chúng ta trông đợi  
duy nhất sự kiên định của nước Pháp để tuyên bố độc lập của chúng ta. Chúng ta sẽ  
không phải nói chuyện với tất cả các cường quốc bên ngoài nhưng chỉ một trong số đó  
mà chúng ta đang mong đợi ủng hộ sự nghiệp chúng ta… Hãy để nước Pháp trở thành  
người bảo lãnh cho chúng ta trong những sắp xếp như thế này” [1, tr. 68].  
Một vấn đề đặt ra cho Đại hội lục địa, loại liên minh nào sẽ thích hợp trong quan hệ  
giữa nước Mỹ với triều đình phong kiến Bourbon tại thời điểm này ? Điều nhận thấy  
rằng, đa số các đại biểu trong Đại hội lục địa đều kỳ vọng sự ủng hộ, giúp đỡ của triều  
đình Versailles song lại khước từ bất cứ hình thức quan hệ chính trị và quân sự nào với  
nước Pháp. Thay vào đó, việc thiết lập quan hệ thương mại giữa hai bên cần phải xúc  
tiến. Theo quan điểm của những nhà ái quốc Mỹ, “sự khai thông buôn bán giữa Mỹ và  
Pháp sẽ trở thành vật bồi thường to lớn dành cho nước Pháp vì tất cả sự giúp đỡ mà  
quốc gia này hỗ trợ cho Mỹ. Phần của nước Pháp trong thương mại với Mỹ sẽ trở thành  
nguồn khổng lồ cho nền thương mại, hải quân của nước Pháp và sự hỗ trợ lớn cho  
130  
LÊ THÀNH NAM  
Pháp trong việc bảo vệ những vùng thuộc địa ở Tây Ấn cũng như hoạt động đánh cá”  
tại đây [1, tr. 71]. Với nhãn quan như vậy, Đại hội lục địa đã chủ trương đường lối trong  
quan hệ với nước Pháp: Thứ nhất, không giao thiệp chính trị, không tiếp nhận quan  
chức của triều đình Versailles; Thứ hai, không quan hệ quân sự, không đón tiếp quân  
đội từ phía Pháp; Thứ ba, chỉ thiết lập quan hệ thương mại, ký kết hiệp ước cho phép  
thương thuyền mang quốc tịch Pháp vào buôn bán ở các hải cảng Bắc Mỹ.  
Sau khi công bố bản Tuyên ngôn độc lập (4-7-1776), nước cộng hòa non trẻ tiến thêm  
một bước nữa trong việc thắt chặt mối quan hệ với nước Pháp. Tháng 9-1776, Đại hội  
lục địa quyết định chọn Silas Deane, Benjamin Franklin và Arthur Lee (lúc đầu là  
Thomas Jefferson) làm đại diện ngoại giao chính thức của nước cộng hòa mới ở Paris.  
Trong cùng thời gian, ngày 17-9-1776, để tạo cơ sở pháp lý cho các đại diện Mỹ triển  
khai cuộc vận động ngoại giao tại Pháp, Đại hội lục địa phê chuẩn bản “Kế hoạch năm  
1776” (Plan of 1776) do John Adams khởi thảo, sau này được sử dụng như Hiệp ước  
mẫu để thương lượng với Pháp. Bản kế hoạch này không đề cập tới bất cứ điều khoản  
nhân nhượng về chính trị, chủ yếu tập trung vào các lợi ích thương mại, trong đó đáng  
chú ý nhất có việc đề xuất việc Mỹ sẽ mở cửa buôn bán dành ưu tiên cho nước Pháp,  
phá thế độc quyền thương mại của Anh ở Bắc Mỹ, cam kết đối xử bình đẳng với các  
nền thương mại trung lập (cho phép tàu bè các nước trung lập được buôn bán với các  
bên tham chiến). Ngoài ra, bản kế hoạch còn có điều khoản về viễn cảnh phá bỏ độc  
quyền của Anh trong nền thương mại Mỹ nhằm tạo nên sức hấp dẫn, lôi kéo nước Pháp  
dính líu vào cuộc chiến tranh với nước Anh. Có thể nói rằng, “Kế hoạch năm 1776  
được thiết kế như là một mẫu hình cho quan hệ của nước Mỹ với tất cả các thế lực bên  
ngoài” [7, tr. 24]. Qua bản “Kế hoạch năm 1776”, chúng ta nhận thấy rằng:  
Thứ nhất, những người Mỹ cách mạng không muốn dính líu chính trị với các nước châu  
Âu, cụ thể là nước Pháp. Điều này hơn ai hết, những nhà lãnh đạo cách mạng Mỹ đã  
nhận thức rằng, từ trong quá khứ với tư cách là thuộc địa của chính quốc, cư dân Bắc  
Mỹ phải tham gia các cuộc chiến tranh do mẫu quốc tiến hành. Những cuộc chiến tranh  
này không chỉ phục vụ quyền lợi của nước Anh mà còn cho các cường quốc châu Âu  
khác. Khi chiến tranh kết thúc, quyền lợi của cư dân thuộc địa không được tính tới mà  
chỉ nhằm thỏa mãn tham vọng của một bộ phận trong giới cầm quyền của chính quyền  
London. Theo thời gian, họ bắt đầu nhận rõ mình chỉ là “con tốt trên bàn cờ chính trị  
châu Âu”. Do đó, họ có nhu cầu muốn tách khỏi các cuộc phân tranh chính trị bên kia  
bờ đại dương. Quan điểm này đã ăn sâu trong tâm thức của cư dân Bắc Mỹ nói chung,  
những nhà ái quốc Mỹ nói riêng mỗi khi đề cập tới việc xúc tiến, thiết lập quan hệ ngoại  
giao với bên ngoài.  
Thứ hai,bản “Kế hoạch năm 1776” đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc về thương mại của  
nước cộng hòa non trẻ và có thể nhận thấy rằng nếu những nội dung trên được hiện thực  
hóa thì nước Mỹ sẽ gặt hái được rất nhiều lợi ích không chỉ trong thời chiến mà cả thời  
bình ở thì tương lai…  
Ngày 24-9-1776, Đại hội lục địa thông qua chỉ thị bổ sung cho bản Kế hoạch năm 1776  
với việc thể hiện tính chính trị rõ hơn, trong đó người Mỹ tuyên bố chống lại sự tái lập  
VẤN ĐỀ TÌM KIẾM ĐỒNG MINH TRONG CÁCH MẠNG MỸ (1775-1783)...  
131  
quyền lực của nước Pháp ở Canada và cam kết rằng nếu nước Mỹ thực thi hòa bình với  
nước Anh trước Pháp thì nó cũng không viện trợ cho mẫu quốc trong lúc chiến tranh Anh  
– Pháp đang còn diễn ra. Cuối tháng 12-1776, Đại hội lục địa đã phê chuẩn chỉ thị khác  
để bổ sung cho bản hiệp ước dự kiến đưa ra cho phía Pháp với nội dung cam kết rằng  
nước Mỹ sẽ thông báo cho Pháp trước sáu tháng nếu hòa hoãn với nước Anh và thậm chí  
sẽ giúp Pháp lấy lại Canada. Ngoài ra, chỉ thị yêu cầu các đại diện ngoại giao Mỹ ở Paris  
cần phải gia tăng áp lực với triều đình Versailles, với lời đề nghị rằng nếu triều đình  
Versailles hành động chậm trễ thì cư dân Mỹ sẽ tái hợp với nước Anh [1, tr. 74].  
Bên cạnh việc đề ra một kế hoạch cho kịch bản liên minh với thế lực bên ngoài, các đại  
biểu trong Đại hội lục địa còn nhấn mạnh tầm quan trọng, sự cần thiết của hoạt động  
thương mại, đặc biệt là ngoại thương. Bởi đây là một trong những phương tiện giúp  
Cách mạng Mỹ phá vỡ thế cô lập, thu hút và tranh thủ các nguồn của cải từ khắp nơi  
trên thế giới đổ về bằng nhiều hình thức khác nhau. Điều này nhằm hạn chế tới mức  
thấp nhất thiệt hại về mặt kinh tế do việc đoạn tuyệt hoàn toàn với nước Anh. Một đại  
biểu của thuộc địa North Carolina tham dự Đại hội lục địa vào tháng 2-1776 đã cho  
rằng: “Chúng ta có thể tiến hành chiến tranh mà không buôn bán và thương mại với bất  
kỳ ai ? Hệ lụy của việc liên minh là có lẽ cắt đứt hoàn toàn với nước Anh và không có  
thứ gì mà chúng ta không thể cung cấp những thứ cần thiết cho việc phòng thủ của  
chúng ta” [3, tr. 30]. Bất chấp lệnh phong tỏa của mẫu quốc, ngày 26-2-1776, Đại hội  
lục địa đưa ra phương án mở cửa cho vấn đề thương mại và cho phép thương thuyền của  
mọi quốc gia trên thế giới vào hải cảng Bắc Mỹ buôn bán với thời hạn tối thiểu hai năm,  
bắt đầu từ ngày 20-7-1776 trở đi [3, tr. 30]. Từ mối giao lưu thương mại, những người  
Mỹ cách mạng hy vọng sẽ tìm thấy đối tác thích hợp cho việc liên minh.  
3. MỘT SỐ NHẬN XÉT  
Một là, trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Đại hội lục địa - cơ quan lãnh đạo tối cao,  
nơi quy tụ các đại biểu ưu tú của các thuộc địa đã có những luồng ý kiến nhấn mạnh tới  
vấn đề tìm kiếm sự ủng hộ của bên ngoài. Dù cho có những tư tưởng hoài nghi, đối lập  
giữa các quan điểm nhưng đây là một giải pháp thiết yếu đưa sự nghiệp đấu tranh giành  
độc lập tiến triển thuận lợi. Điều quan trọng, các quan điểm của các đại diện thuộc địa  
đã biết đặt sự nghiệp chính nghĩa, tiến bộ của bản thân họ trong mối tương quan quyền  
lực quốc tế đương thời. Đó là nắm bắt những mâu thuẫn giữa nước Anh với các cường  
quốc châu Âu khác để qua đó phân biệt ai là đối tác, ai là đối thủ? Từ việc thấu rõ tình  
hình quốc tế, Đại hội lục địa đã hình thành phương án để tìm kiếm đối tác liên minh  
Hai là, trong nỗ lực hướng tới tiếp cận với các thế lực quốc tế nhằm lôi kéo sự ủng hộ  
của họ, những thành viên trong Đại hội lục địa đã chủ động hoạch định và lựa chọn mẫu  
hình cho quan hệ đồng minh giữa nước Mỹ cộng hòa non trẻ với bất kỳ cường quốc  
châu Âu nào, trước hết là Pháp. Họ khước từ những ràng buộc về mặt chính trị và quân  
sự, thay vào đó bằng quan hệ thương mại. Sự đề cao vấn đề thương mại, tránh dính líu  
chính trị với bên ngoài là cả một quá trình nhận thức từ trong lịch sử của cư dân Mỹ với  
tư cách thuộc địa của đế chế Anh. Minh chứng cho lập luận này là bản “Kế hoạch năm  
1776”. Đây là sự kết tinh tư tưởng quyền lợi dân tộc Mỹ ngay khi còn đang trong thời  
132  
LÊ THÀNH NAM  
kỳ “trứng nước”, là sự tự do tối đa trong ngoại thương. Nó biểu hiện rõ nhất cho những  
nỗ lực của những nhà cách mạng Mỹ trên chặng đường tìm kiếm sự ủng hộ của quốc tế  
một cách chính thức; đồng thời trở thành cơ sở, mục đích cho những vận động ngoại  
giao của các đại diện Mỹ ở Cựu lục địa. Khi trở thành một quốc gia độc lập, nước Mỹ  
củng cố quan điểm này bằng việc đứng ngoài các cuộc phân tranh chính trị bên kia Đại  
Tây Dương để có điều kiện xây dựng quốc gia, nhất thế hóa dân tộc. Cụ thể là năm  
1793, nước Mỹ đã tuyên bố trung lập trong cuộc chiến giữa Pháp với các thế lực phong  
kiến châu Âu mà có sự tham gia của nước Anh tư sản.  
Ba là, một thực tế cho thấy rằng, để cho việc tìm kiếm đồng minh một cách hiệu quả,  
Đại hội lục địa đã chú ý tới những cá nhân có cảm tình với sự nghiệp của họ ở phía bên  
kia Đại Tây Dương. Những nhân vật, như: Silas Deans – thương gia, Charles William  
Frederick Dumas – người đưa thư v.v… đã đóng vai trò không hề nhỏ trong việc tăng  
thêm cơ hội cho các nhà ngoại giao Mỹ non trẻ tiếp cận với các triều đình châu Âu.  
Đồng thời, họ trở thành kênh thông tin, tuyên truyền cho dư luận ở Cựu lục địa hiểu rõ  
tường tận và chính xác những sự kiện đang diễn ra trong lòng nội bộ đế chế Anh. Qua  
đó hình thành tư tưởng cấp tiến trong lòng châu Âu về cách mạng Mỹ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Tadashi Aruga (1985). “Revolutionary Diplomacy and the Franco-American Treaties of  
1778”, The Japanese Journal of American Studies, No 2, p.59-100.  
[2] Samuel Bemis (1951). A Diplomatic History of The United States, Henry Holt and  
Company, New York.  
[3] Samue Flagg Bemis (1951). The Diplomacy of the American Revolution, Indiana  
University Press.  
[4] Alexander DeConde (1978). A History of American Foreign Policy, Vol 1 (Growth to  
World Power 1700 – 1914), Charles Scribner’s Sons, New York.  
[5] Robert H. Ferrel (1975). American Diplomacy: A history, W.W. Norton & Company  
Inc. New York.  
[6] Lê Thành Nam (2009). Nước Pháp với cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa  
Anh ở Bắc Mỹ (1775-1783), Châu Mỹ ngày nay, số 08(137), tr.58-63  
[7] Bradford Perkins (1993). The Cambridge History of American Foreign Relations, Vol 1:  
The Creation of a Republican Empire, 1776 – 1865, Cambridge University Press.  
[8] James Breck Perkins (1911). France in the American Revolution. Houghton Mifflin, Boston.  
Title: THE AMERICAN REVOLUTION TOWARD THE QUEST FOR ALLIANCE IN  
INTERNATIONAL COMMUNITY – VIEWPOINTS AND PLAN  
Abstract: In the war of independence (1775-1783), colonists in North American carried out  
diplomacy with foreign powers in order to seek their support. When the war had just broken out,  
revolutionist arose different viewpoints on the quest for alliance. On the basis of the debates  
among delegates in Continental Congress, the revolutionists mapped out plan for coalition. The  
paper analyzes the views and plan of America revolutionists in their searching for coalition from  
outside world.  
Keywords: American revolution, alliance, plan, viewpoints.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 17340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề tìm kiếm đồng minh trong cách mạng Mỹ (1775-1783) - Quan điểm và phương án", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_tim_kiem_dong_minh_trong_cach_mang_my_1775_1783_quan.pdf