Sự độc đáo của không gian nghệ thuật trong các sáng tác của Lỗ Tấn

VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
SỰ ĐỘC ĐÁO CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT  
TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA LỖ TẤN  
TS. ĐỖ TIẾN QUÂN1  
1 Học viện Khoa học Quân sự ✉quandovn@yahoo.com  
Ngày nhận: 12/01/2017; Ngày hoàn thiện: 25/01/2017; Ngày duyệt đăng: 26/01/2017  
Phản biện khoa học: PGS.TS. PHẠM NGỌC HÀM  
TÓM TẮT  
Trong sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn, cảm quan về không gian luôn gắn liền với cảm quan về con  
người, cuộc đời và xã hội, gắn liền với mơ ước, lý tưởng và chủ nghĩa hiện thực mà nhà văn hằng  
theo đuổi. Bài viết nghiên cứu không gian nghệ thuật trong các sáng tác của Lỗ Tấn dựa trên hai  
thể loại không gian chính là không gian tự nhiên và không gian xã hội, làm rõ những đặc điểm của  
hiện thực xã hội và quan niệm về cuộc sống đương thời của nhà văn, từ đó góp phần làm nổi bật  
sức cuốn hút nghệ thuật độc đáo của phong cách sáng tác Lỗ Tấn.  
Từ khóa: không gian nghệ thuật, Lỗ Tấn, sáng tác.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
để thức tỉnh “người dân đen trong cơn lửa hung tàn”.  
Trong không gian nào những vấn đề nhân sinh này  
tồn tại, ẩn dấu sau không gian đó là gì? Thiếu câu trả  
lời về vấn đề này, khó có thể hiểu sâu sắc những đặc  
điểm của chủ nghĩa hiện thực và quan niệm về cuộc  
đời, quan niệm về con người của Lỗ Tấn.  
Lỗ Tấn (1881-1936) được coi là người đặt nền móng  
cho văn học hiện đại Trung Quốc, cũng là người có  
ảnh hưởng lớn trong lịch sử văn học Trung Quốc thời  
kỳ này. Lỗ Tấn đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá  
trị hết sức to lớn, đem lại sự cách tân đáng kể cho văn  
học Trung Quốc cả về nội dung và hình thức, trong  
đó, không gian nghệ thuật trong các sáng tác của  
ông được soi rọi bằng tư tưởng tiên tiến và tình cảm  
tha thiết với quốc gia, dân tộc, được nhào nặn, trau  
chuốt, tái tạo thành một phong cách nghệ thuật độc  
đáo đầy chất sáng tạo. Trong phạm vi bài viết, chúng  
tôi tập trung làm rõ sự độc đáo của không gian nghệ  
thuật trong các sáng tác của Lỗ Tấn trên hai phương  
diện không gian tự nhiên và không gian xã hội, góp  
phần tìm hiểu sâu hơn về phong cách sáng tác của  
nhà văn hiện đại Trung Quốc nổi tiếng này.  
2. KHÔNG GIAN NGHÊ THUẬT TRONG CÁC SÁNG  
TÁC CỦA LỖ TẤN  
2.1. Không gian tự nhiên  
Trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, không gian tự nhiên  
được xuất hiện không những phù hợp với khung  
cảnh tự nhiên thực tế, mà còn luôn thể hiện được yếu  
tố tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm trong đó, đồng  
thời có mối quan hệ nhất định với bối cảnh xã hội  
đương thời. Trong không gian này, có thể thấy nhà  
văn thường tập trung vào ba cảnh chính: Không gian  
mùa đông, không gian đêm, không gian tuyết.  
Khi nghiên cứu không gian nghệ thuật trong các  
sáng tác của Lỗ Tấn, có thể nhận ra, Lỗ Tấn luôn chú  
trọng khai thác không gian nghệ thuật trong quá  
trình khám phá những tính cách, những tình cảnh  
của nhân vật và hiện thực cuộc sống xã hội đương  
thời, đặc biệt, ông luôn đau đáu nỗi niềm làm thế nào  
2.1.1. Không gian mùa đông  
Trong các sáng tác của Lỗ Tấn, tự sự về không gian cơ  
bản đều dựa trên cơ sở không gian thực tế, và không  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
51  
Số 05 - 01/2017  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
gian vùng Giang Nam những năm đầu thế kỷ 20 luôn  
được nhắc đến với cảnh mùa đông u ám, sầu thảm.  
Mùa đông hiện ra đầy lạnh lẽo, tiêu điều, và luôn luôn  
là lúc lạnh nhất, băng giá nhất, còn cảnh chớm đông  
thì không bao giờ thấy xuất hiện, giống như cảnh  
sống của kiếp người cũng đang trong thời kỳ lạnh lẽo,  
băng giá của xã hội đang phủ vây xung quanh, đây  
chính là chủ đích của tác giả ẩn dấu sau từng đoạn  
văn, ví dụ như trong “Cố hương”có đoạn:  
giá của mùa đông dường như đã ăn sâu vào trong cốt  
tủy của con người. Có thể thấy, mùa đông cũng chính  
là không gian mà cuộc sống đối mặt với những sức  
mạnh không thể chống lại được, là lúc mà hi vọng bị  
bóp nghẹt một cách vô tình, cũng là lúc ý chí tự do  
của con người bị hủy diệt một cách tàn nhẫn.  
2.1.2. Không gian đêm  
Ngày và đêm là trình tự mà con người đều phải trải  
qua hàng ngày, trong các sáng tác của Lỗ Tấn, tuy  
chúng ta khó có thể tìm thấy sự giao thoa giữa ngày  
và đêm, nhưng không gian đêm lại luôn được tác giả  
khắc họa một cách nổi bật.  
“Lúc này đã là giữa đông, càng đi gần về quê, càng  
thấy thời tiết u ám, gió rét rin rít thổi vào trong thuyền,  
từ khe hở nhìn ra, thấy dưới khoảng trời vàng vọt  
kia thấp thoáng mấy thôn làng bỏ hoang tiêu điều,  
không có một chút sức sống, dù là nhỏ nhất. Trái tim  
tôi cũng trở nên sầu thảm.”1  
Trong truyện ngắn “Thuốc”, đêm thật là yên tĩnh  
“ngoài những con vật đi ăn đêm, tất cả đều đang ngủ  
say cả”, nhưng cũng đúng vào lúc “tất cả đều đang  
ngủ say” này, Lão Hoa Thuyên trở dậy, mang trên vai  
trọng trách đi mua phương thuốc “thần dược” trị căn  
bệnh nan y của con trai, trọng trách này dường như  
rất vĩ đại, nhưng thực tế rất ngu muội và bi thương, vì  
phương thuốc đó thấm đầy máu của người chiến sĩ  
cách mạng Hạ Du. Trong đêm tối, khi Lão Hoa Thuyên  
dùng tất cả số tiền tích cóp bấy lâu để đi mua thuốc  
(bánh bao thấm máu tử tù) thì “trời lạnh hơn trong  
nhà nhiều nhưng lão cảm thấy sảng khoái như bỗng  
dưng mình trẻ lại và được ai ban cho phép thần thông  
cải tử hoàn sinh”. Tuy nhiên, cuối cùng cái chết vẫn  
đến với con trai lão. Cảnh Hạ Du bị chém đầu cũng  
xảy ra vào lúc “nửa đêm về sáng của một ngày mùa  
thu”. Hạ Du hi sinh khi chưa kịp nhìn thấy ánh bình  
minh. Trong không gian đó, “trăng lặn rồi, nhưng  
mặt trời chưa mọc, chỉ còn lại một bầu trời xanh xám  
xịt”. Chính ở đây, tác giả làm nổi bật sự nhận thức lạc  
hậu, tinh thần mông muội và tàn nhẫn của con người  
cũng như không gian ảm đạm này. Cần chú ý là, cảnh  
“nửa đêm về sáng của một ngày mùa thu”mở đầu câu  
chuyện được khắc họa hết sức ấn tượng. Trong tiếng  
Trung Quốc, chữ “sầu”(愁)(buồn bã) dạng Hình  
thanh kiêm Hội ý gồm có chữ “thu”(秋)ở trên và  
chữ “tâm”(心)ở dưới. Thời cổ đại, mùa thu thường  
cũng chính là lúc mùa gặt hái kết thúc, mùa đông  
băng giá sắp đến, cây cỏ tàn úa khô héo, do đó, khi  
đặt chữ “thu” treo lên trên trái tim ( “tâm”) con người,  
thì con người tất yếu sẽ trở nên ưu sầu. Phải chăng  
chính vì thế mà mùa thu trong thơ văn cổ đại Trung  
Quốc thường được hiện ra dưới dáng vẻ như là định  
mệnh buồn bã, thê lương, ảm đạm, lạnh lẽo, giống  
như tác phẩm “Cửu biện”(九辩)của Tống Ngọc  
thời Chiến quốc, “Thu thanh phú”(秋声赋)của Âu  
Dương Tu(欧阳修)thời Tống… Ngay cả trong hơn  
Đây là đoạn miêu tả cố hương của Lỗ Tấn trong cảnh  
đông lạnh lẽo, chỉ bằng một vài nét chấm phá, cố  
hương đã hiện ra với cảnh sắc “tiêu điều, không có  
một chút sức sống”. Cảnh tượng này hoàn toàn trái  
ngược lại với những ký ức “đẹp đẽ”, “đất tốt” thời xa  
xưa của quê hương trong lòng tác giả. Cảnh tượng  
mùa đông đó hoàn toàn tương ứng với tâm trạng của  
nhân vật tự xưng là“Tôi”trong truyện, khi đã sớm phải  
rời bỏ quê hương ra đi tìm kế sinh nhai, qua bao thời  
gian lại phải mang theo nỗi thất vọng chán chường  
và tâm trạng bi ai khi trở về cố hương. Sự thê thảm  
của hiện thực cùng với cảnh sắc tiêu điều của quê  
hương đã làm tan biến hình ảnh tốt đẹp của người  
bạn thời niên thiếu Nhuận Thổ thuở nào, giờ đây chỉ  
còn lại một anh chàng nông dân rúm ró trong sự đần  
độn, chậm chạp và đờ đẫn. Nhuận Thổ đã thay đổi rất  
nhiều từ hình dáng bên ngoài cho đến tâm hồn bên  
trong. Được gặp lại bạn, anh ta rất vui mừng, muốn  
được vô tư nói cười với“Tôi”như ngày xưa, nhưng một  
cái hố sâu vô hình xuất hiện đã ngăn cách hai người  
- hố sâu của địa vị xã hội: “Nhuận Thổ đứng dừng  
lại, nét mặt như vừa hớn hở vừa thê lương, môi mấp  
máy, nhưng cũng không thốt thành tiếng, rồi bỗng  
anh ta cất tiếng chào rất rành mạch với một điệu bộ  
cung kính: Bẩm ông”. Một tiếng “Bẩm ông” bật lên từ  
miệng Nhuận Thổ đủ để nhân vật“Tôi”biết rằng, vĩnh  
viễn không thể nào xóa nhòa được sự ngăn cách đó.  
Đến đây người đọc không thể không tự hỏi, đây là  
cố hương hay là nơi đất khách quê người? Trong sự  
tiêu điều và lạnh lẽo của mùa đông đó, đứng trước  
cảnh sắc thê lương của cố hương và nỗi thống khổ  
của Nhuận Thổ, “Tôi”dường như chỉ có thể chọn cách  
chạy trốn, hoặc gửi hi vọng mơ hồ vào lớp người sau  
như Thủy Sinh - con của Nhuận Thổ. Sự bất lực đó  
được nâng lên thành nỗi đau, đi cùng với những buốt  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 05 - 01/2017  
52  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
60 bài thơ của mình, có 10 bài Lỗ Tấn đề cập đến cảnh  
mùa thu. Dưới ngòi bút của ông, mùa thu là mùa mà  
con người và vạn vật tiêu điều, xơ xác, lay lắt trong  
kiếp nạn của dân tộc, cũng là lúc mà biết bao người  
chí sĩ phải bị chìm đắm trong tuyệt vọng bi thương.  
Đêm thu trong tác phẩm “Thuốc” cũng chính là một  
không gian như thế, nó là khởi đầu của sự bất hạnh:  
Bất hạnh của thân phận người lao động nghèo khổ  
như gia đình Lão Hoa Thuyên, bất hạnh của thân  
phận người chiến sĩ cách mạng Hạ Du… suy rộng ra  
là bất hạnh của ngàn vạn kiếp người trong xã hội. Từ  
đó, có thể thấy sự nhất quán của nhà văn trong nghệ  
thuật miêu tả luôn được chú ý đến mức nào.  
sự đen tối và ngu muội đó làm cho những con người  
này hoặc luôn phải đấu tranh chống lại, hoặc vùng vẫy  
để thoát ra, và cuối cùng có người thì kiên trì được con  
đường mình đã chọn, có người thì “khỏi bệnh” sau khi  
đã hoàn toàn tuyệt vọng. Bóng đêm ở đây suy rộng ra  
là sự phê phán sắc bén đối với xã hội đương thời.  
Tuy nhiên, bóng đêm trong sáng tác của Lỗ Tấn cũng  
có lúc được ánh sáng mặt trời xua tan phần nào sự  
tăm tối, đó là khi Lão Hoa Thuyên mua được “thuốc”:  
“Mặt trời cũng đã mọc, trước mặt, hiện ra một con  
đường lớn đi thẳng về nhà lão”. Đó không phải là con  
đường thực sự, mà là con đường trong tâm tưởng,  
con đường của hi vọng, của sự sống. Dưới góc độ nhất  
định, có thể hiểu rằng, nếu biết dùng đúng thuốc cho  
căn bệnh của dân tộc, và tranh thủ được sức mạnh  
của quần chúng nhân dân, thì con đường cứu nước  
cứu dân sẽ ngày càng sáng rõ, và đêm đen kia cũng  
chỉ là tạm thời do nhân dân còn mông muội, chưa có  
phương thuốc đúng đắn chỉ đường dẫn lối.  
Trong “Ngày mai”, cái chết của Bảo Nhi giáng một  
đòn mạnh mẽ vào chị Tư Thiện, chị khóc lóc vật vã  
rất nhiều, nhưng điều này ban ngày không làm cho  
người đọc cảm thấy lạ, chỉ đến khi màn đêm buông  
xuống, khi người khác đã ra về hết, cái cảm giác cô  
độc, không biết bấu víu vào đâu làm cho chính chị  
Tư Thiện cũng cảm thấy “lạ thường”: “Căn phòng  
đột nhiên thật tĩnh lặng…làm cho chị dường như bị  
nghẹt thở”. Dưới ngòi bút của Lỗ Tấn, bóng đêm và  
sự yên lặng đồng hành với sự cô độc khi Bảo Nhi qua  
đời được chuyển tải lặng lẽ từ chị Tư Thiện đến trái  
tim người đọc. Qua không gian đêm, sự bi thương đó  
gây được ấn tượng mạnh mẽ, khắc sâu số phận buồn  
đau của một kiếp người, cũng giống như cuối cùng,  
Lỗ Tấn viết:“Lỗ trấn lúc này đã hoàn toàn tĩnh lặng, chỉ  
có màn đêm tăm tối muốn chuyển sang ngày mai nên  
vẫn đang bôn ba trong sự tĩnh lặng đó, và vài con chó  
cũng đang sủa ong ỏng trong góc tối nào đó”.  
2.1.3. Không gian tuyết  
Là không gian đi kèm với mùa đông, tuyết ở Giang  
Nam không nhiều như ở miền Bắc, có lúc, tuyết Giang  
Nam chỉ là nguồn cảm hứng thẩm mỹ cho thị giác mà  
thôi. Nhưng trong các sáng tác của Lỗ Tấn, tuyết được  
hiện ra như một sản vật của cái lạnh băng giá mùa  
đông, hiu hắt, ngột ngạt, có lúc mang theo hơi thở  
của thần chết.  
Trong tác phẩm “Chúc phúc”, khi mọi người chuẩn  
bị “chúc phúc”, thì cũng là lúc tuyết đã rơi trắng trời:  
“Sắc trời ngày càng tối lại, buổi chiều chợt có tuyết  
rơi, những bông tuyết to như hoa mai bay khắp trời”.  
Tuyết rơi sau khi sắc trời đã “tối lại”, làm cho người  
đọc có cảm giác tuyết không phải là điềm lành cho  
năm mới, mà đó là sản vật của sự tăm tối. Đồng thời,  
tuyết càng phủ một tấm màn lạnh lẽo vào cảnh đời  
bạc phận của chị Tường Lâm, trong lúc chị đang đói  
rét giống như kẻ ăn mày, thì tuyết rơi càng làm tăng  
thêm vẻ rờn rợn, cô độc và sợ hãi của nhân vật trong  
lúc vật lộn với cái chết. Đêm thì rất dài và tuyết thì  
quá lạnh lẽo, đó dường như chính là cái xã hội mà  
con người đang sống. Do tác giả thường áp dụng thủ  
pháp miêu tả bỏ qua trình tự thời gian, vì thế tuyết  
trong tác phẩm được liên tiếp xuất hiện, làm cho độc  
giả luôn cảm thấy sự tồn tại của nó. Tuyết tạo thành  
một vòng khép kín, giống như cái xã hội mà chịTường  
Lâm đang phải trải qua trong mùa đông dài dằng dặc  
bắt đầu bằng sự lạnh lẽo, từ tuyết rơi đến băng giá, từ  
sự băng giá đến cái chết.  
Bóng đêm trong tác phẩm “Nhật ký người điên” được  
xuất hiện nhiều lần, xuyên suốt tác phẩm là cái lạnh  
lẽo, tăm tối của đêm đen trải dài không dứt. Từ lúc  
nhân vật “Tôi” phát hiện bí mật “ăn thịt người”, rồi đi  
khuyên nhủ người khác, rồi đành phải tiếp tục thả  
mình vào bóng đêm mà ngay cả “ánh trăng mà tôi  
mong mỏi cũng không thấy…chỉ thấy một màu đen  
xì, không biết là ngày hay đêm”. Người điên bị rơi vào  
hoàn cảnh hỗn loạn, trong khi tự chất vấn bản thân,  
phát hiện mình chính là kẻ “ăn thịt người”, cuối cùng,  
giữa sự tuyệt vọng và hi vọng, phát ra lời kêu gọi “cứu  
lấy con trẻ”. Dưới ngòi bút của Lỗ Tấn, bóng đêm phô  
bày trước mắt độc giả một hoàn cảnh xã hội đen tối  
với hình ảnh con người đầy ngu muội. Sự tự chất vấn  
bản thân của người trí thức trong đêm đen cũng chỉ ra  
những mặt trái của nhân tính mà xã hội Trung Quốc  
đương thời luôn tìm cách che đậy. Trong xã hội đó, biết  
bao người trí thức, chí sĩ, hiền tài muốn cứu nước, cứu  
dân, nhưng lại bị coi là kẻ điên khùng. Bối cảnh đầy rẫy  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
53  
Số 05 - 01/2017  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
Trong tác phẩm “Trong quán rượu”, khi nhân vật “Tôi”  
từ biệt Lã Vi Phủ, hai người có cảm giác hoàn toàn  
khác khi đối mặt với cảnh tuyết rơi:“Tôi đi một mình về  
hướng quán trọ, gió rét và bông tuyết táp thẳng vào  
mặt…nhìn sắc trời đã là hoàng hôn, nhà cửa và phố  
xá như đều bị ngập chìm trong một màn tuyết trắng  
xóa không có hình dáng rõ ràng”, “Sau này? Tôi không  
biết, anh hãy xem lại những dự định ngày trước của  
chúng ta, có thực hiện được việc nào như ý không?  
Bây giờ tôi không biết gì cả, ngay cả ngày mai, phút  
sau ra sao tôi cũng không biết”. Cuộc nói chuyện của  
hai người làm cho người đọc có cảm giác nghẹt thở,  
hoàn toàn không có sinh khí và hi vọng, mà chỉ mang  
đầy hàm ý trách móc, oán hờn. Đây cũng giống như  
bầu không khí của xã hội đang ngày ngày đè nặng lên  
tâm tưởng của con người, không có lối thoát.  
chút gì về đặc điểm của thành phố này, càng không  
xem được bất kỳ cảnh sắc nào của nó, mà chỉ là sự  
cảm nhận của nhân vật “Tôi” về đô thị và sự thay đổi  
của chính bản thân mình: “Khiến cho tôi ngày càng  
coi thường người khác”. Không gian đô thị làm cho  
quan hệ giữa người với người trở nên lạnh nhạt. Mặt  
khác, sự so sánh ngầm không gian đô thị với không  
gian nông thôn làm cho người đọc thấy rõ, sau khi  
trải qua “một việc nhỏ”, có thể “làm cho tôi cảm thấy  
xấu hổ, thúc giục tôi thay đổi, đồng thời giúp tôi tăng  
thêm dũng khí và hi vọng”. Điều cần nói thêm rằng,  
dù lấy bối cảnh là năm 1917, nhưng trên thực tế, khi  
nhà văn viết tác phẩm này (năm 1919), thì cũng là lúc  
Cách mạng tháng Mười Nga và Phong trào Ngũ Tứ đã  
nổ ra. Sự thay đổi của cán cân lực lượng các giai cấp  
trong xã hội và xu thế phát triển của thời đại đã làm  
cho những người trí thức đương thời như Lỗ Tấn nhận  
ra vai trò của nhân dân lao động, nhìn thấy ở họ hi  
vọng cách tân cho dân tộc Trung Hoa, trong không  
gian đó, ý nghĩa xã hội của “Một việc nhỏ”trở nên hết  
sức sâu sắc.  
2.2. Không gian xã hội  
Không gian xã hội ở đây chỉ trường không gian mà  
con người đang sống. Trong các sáng tác của mình,  
Lỗ Tấn thường tập trung nhiều vào không gian xã hội  
và coi đó là một trong những trọng tâm trong nghệ  
thuật tự sự của mình. Nếu xét trên phạm vi lớn, không  
gian xã hội trong các sáng tác của Lỗ Tấn chủ yếu tập  
trung vào không gian đô thị, không gian nông thôn;  
xét trên phạm vi nhỏ, không gian quán trà, quán rượu,  
không gian nghĩa địa, không gian miếu, từ đường…  
chiếm tỉ trọng tương đối lớn, việc “đóng khung” câu  
chuyện trong một không gian khép kín như vậy có  
ý nghĩa quan trọng trong xây dựng hình tượng nhân  
vật và bộc lộ ý định sáng tác của tác giả.  
“Câu chuyện về tóc” cũng xảy ra tại Bắc Kinh, khi bàn  
luận về“tết mùng mười tháng mười”, bàn luận về việc  
quốc gia đại sự, thì bàn đến chuyện tóc, rồi bàn đến  
tính dân tộc của nhân dân. Cũng chính do sự trấn áp  
kinh hoàng của nhà cầm quyền vẫn diễn ra hàng ngày  
hàng giờ bên cạnh, nên làm cho “Tôi” và tiền bối “N  
tiên sinh” bàn luận việc “thay đổi” Trung Quốc trong  
một tâm trạng xúc động và tức giận. Còn trong “Tết  
Đoan Ngọ” lại là câu chuyện về một bộ phận giới trí  
thức có vẻ cấp tiến, dám tức giận nhưng không dám  
cất tiếng tranh đấu với sự trấn áp của chính quyền  
quân phiệt Bắc Dương, tiêu biểu là tiên sinh Phương  
Huyền Xước.  
2.2.1. Không gian trên phạm vi lớn  
- Không gian đô thị  
Có thể thấy, Lỗ Tấn nhiều lúc không tốn quá nhiều  
giấy mực để miêu tả trực quan bối cảnh không gian  
đô thị, nhưng với bút pháp nghệ thuật miêu tả gián  
tiếp độc đáo, lồng ghép một cách hợp lý, chủ đề của  
tác phẩm được bộc lộ một cách rõ nét. Không gian  
đô thị đó cũng thể hiện một cách khéo léo mà cụ thể.  
Hiện thực đô thị, hiện thực nhân sinh cứ hiện ra lạnh  
ngắt như hình khối và dáng vẻ vốn có của nó.  
Không gian xã hội trong sáng tác của Lỗ Tấn chủ yếu  
là đô thị và nông thôn, điều này phù hợp với đặc điểm  
môi trường mà tác giả sống. Không gian đô thị luôn  
được xuất hiện phù hợp với chủ đề câu chuyện và  
ý đồ sáng tác, giống như tiểu thuyết “Một việc nhỏ”  
có đoạn viết: “Từ lúc rời xa quê nhà đến kinh thành,  
thấm thoắt đã là sáu năm”. Bối cảnh câu chuyện xảy  
ra thời “năm thứ 6 Trung Hoa Dân quốc” (1917), khi  
đó kinh thành Bắc Kinh tuy không phồn thịnh như  
Thượng Hải, nhưng cũng là một trong những thành  
phố có dân số đông, kinh tế phát triển của Trung  
Quốc. Thế nhưng trong tác phẩm này, người đọc  
không thể tìm thấy một câu nào miêu tả cảnh phồn  
hoa đô thị, trừ sự tự thuật của nhân vật “Tôi” trong  
truyện, người đọc cũng không cảm nhận được một  
- Không gian nông thôn  
Không gian nông thôn là không gian xuất hiện thường  
xuyên nhất trong các sáng tác của Lỗ Tấn, nông thôn  
trong tác phẩm của nhà văn được hiện ra bằng thủ  
pháp của chủ nghĩa hiện thực phê phán sâu sắc với  
mong muốn thay đổi con người và xã hội đương thời.  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 05 - 01/2017  
54  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
Là người sinh ra tại nông thôn, Lỗ Tấn rất am hiểu  
cuộc sống tại làng quê. Từ đó, những miêu tả về quê  
hương của ông cũng mang một nét rất riêng, rất sâu  
sắc, giống như cảnh làng Mùi và Lỗ trấn luôn là hình  
ảnh thu nhỏ của cuộc sống mà tác giả đã trải qua,  
đồng thời lồng ghép trong đó là sự phê phán cũng  
hết sức sâu xa. Khi nghiên cứu về vấn đề này, các nhà  
nghiên cứu văn học Trung Quốc như Trương Văn Nặc,  
Trương Chí Trung đều cho rằng, Lỗ Tấn đã dùng chính  
những trải nghiệm của bản thân khi viết về chủ đề  
nông thôn(张文诺,2011;张志忠,2013). Tiêu  
biểu nhất, thành công nhất là không gian nông thôn  
trong tiểu thuyết “A Q chính truyện”, một không gian  
thấm đẫm tư tưởng tông pháp phong kiến và những  
quan niệm ngu muội của người dân bị đè nén, bị  
áp bức và trở thành bi kịch đối với kiếp người. Cũng  
chính trong không gian như thế, Lỗ Tấn phơi bày bản  
chất linh hồn của con người sinh sống ở làng quê,  
suy rộng ra là linh hồn của cả dân tộc cho người đọc  
thấy, những bi kịch của nhân vật trong truyện cũng  
chính là bi kịch của những con người thực tại. Trong  
“A Q chính truyện”, cụ cố họ Triệu chính là kẻ độc tài  
đại diện cho chế độ tông pháp phong kiến. Chỉ bằng  
cơn nóng giận của mình: “Mày là người họ Triệu thế  
nào được kia chứ? Mày là họ Triệu vào cái ngữ nào”, cụ  
đã có thể tước bỏ quyền mang họ Triệu của A Q mà  
không vấp phải bất cứ ý kiến trái ngược nào. Ngay cả  
đối với A Q, thì những câu này cũng trở thành mệnh  
lệnh tuyệt đối. Theo quan niệm của tông pháp truyền  
thống, những người có địa vị như cụ cố họ Triệu là  
tượng trưng cho quyền lực, còn cho dù là AQ, hay bất  
kỳ người nào khác thuộc giai cấp nông dân - những  
người dưới đáy xã hội, chỉ có thể hiện ra bằng sự vô vị,  
trống rỗng, mê muội và mù quáng. Trong một xã hội  
như thế, những con người khốn khổ như A Q chỉ có  
thể cam chịu, dần dần biến mình thành kẻ tự lừa dối  
bản thân mình, tự thỏa hiệp với chính mình một cách  
ngây ngô, dẫn đến bi kịch của kiếp người mà không  
biết bao giờ mới có thể thoát khỏi. Có thể nói, không  
gian nông thôn trong A Q chính truyện không có chút  
sinh khí nào hết, mà khắp nơi là sự bức bối, đè nén,  
ngu muội, nhẫn nhục và chịu đựng đến tột cùng. Sự  
phê phán đối với quốc dân như thế chiếm lượng lớn  
trong tác phẩm, ẩn dấu sau không gian đó là lời kêu  
gọi sự thức tỉnh của nhân tâm trước quốc nạn của dân  
tộc, đây cũng chính là tư tưởng chủ đạo của nhà văn  
khi sáng tác tiểu thuyết này.  
nhưng khi đến miền Nam thì cũng chỉ được coi là một  
người khách”. Đôi khi, sự hồi tưởng về cố hương được  
hiện ra không thê lương như trong hiện thực, ví dụ  
như trong tác phẩm “Kịch làng” miêu tả một không  
gian nông thôn đầy sức sống với các nhân vật hoạt  
bát, năng động, cảnh sắc tự nhiên cao nhã, tất cả đều  
mang hơi thở đặc trưng của một làng quê Trung Quốc  
truyền thống, yên bình như trong đồng thoại, nhưng  
tất cả đó đều là không phải hiện thực, và tác giả chỉ có  
thể giữ chặt điều đó trong ký ức mà thôi. Đây cũng là  
tấm gương phản ánh sự đối lập của quá khứ và hiện  
thực, làm cho không gian nông thôn trong sáng tác  
của Lỗ Tấn trở nên toàn diện và có ý nghĩa thực tiễn  
sâu sắc. Đồng thời, thông qua nghệ thuật tự sự về  
không gian nông thôn này, Lỗ Tấn còn muốn chỉ ra,  
nếu muốn cứu rỗi linh hồn của nhân dân Trung Quốc  
trong lúc dầu sôi lửa bỏng, thì một trong những điều  
cần làm là không được bỏ rơi nông thôn và người  
dân nơi đây, suy cho cùng, gốc gác của những điều  
tốt đẹp của con người vẫn còn nằm sâu ở đâu đó  
ở không gian nông thôn, không gian mà đại đa số  
người Trung Quốc đương thời đã và đang sinh sống.  
2.2.2. Không gian trên phạm vi nhỏ  
Trong các sáng tác của Lỗ Tấn, chúng ta thường thấy  
xuất hiện những không gian như không gian quán  
trà, quán rượu, không gian nghĩa địa…Đây là không  
gian cụ thể, hoặc có thể nói là không gian cục bộ  
trong các sáng tác của Lỗ Tấn, là nhân tố quan trọng  
để Lỗ Tấn triển khai các tình tiết trong câu chuyện.  
- Không gian quán trà, quán rượu  
Quán trà và quán rượu là hai không gian xuất hiện liên  
tục trong các tác phẩm như“Khổng Ất Kỷ”, “Thuốc”, “A  
Q chính truyện”, “Phong ba”, “Ngày mai”, “Trong quán  
rượu”… để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho người đọc.  
Có thể thấy, quán trà, quán rượu mang đầy đủ đặc  
trưng không gian sinh sống của con người tại các đô  
thị nhỏ trong xã hội Trung Quốc thời cận đại, là địa  
điểm tập trung bàn luận chuyện đời, chuyện người…  
của cư dân. Trong những năm đầu của thế kỷ 20 đó,  
cho dù là khu vực kinh tế phát triển như Giang Nam  
hoặc chậm phát triển như vùng Tứ Xuyên, hoặc vùng  
biên thùy xa xôi hẻo lánh, đều thấy xuất hiện quán  
trà, quán rượu. Nhà phê bình văn học Dương Nghĩa  
cũng chỉ ra:“Trong xã hội cũ của Trung Quốc, văn hóa  
quán trà, quán rượu hết sức thịnh hành…Văn hóa“Lỗ  
trấn” mà Lỗ Tấn viết, đa phần chính là văn hóa quán  
trà, quán rượu, cũng giống như các nhà văn phương  
Tây khi viết về văn hóa, thì luôn thấy xuất hiện cảnh  
Không gian nông thôn dưới ngòi bút của Lỗ Tấn còn  
được hiện ra với vẻ lạ lẫm, lạ lẫm ngay cả đối với chính  
bản thân người vốn xuất thân từ làng quê như Lỗ Tấn  
cũng “cảm thấy phương Bắc không phải là cố hương,  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
55  
Số 05 - 01/2017  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
vũ hội, quán cà phê, sa lông… đó chính là văn hóa của  
họ”(杨义,1998). Vì thế, quán trà, quán rượu xuất  
hiện trong sáng tác của Lỗ Tấn trở thành một không  
gian rất đỗi tự nhiên, như mặc nhiên nó phải như vậy.  
uống say, và ngày mai dường như là một sự trông  
đợi mỏi mòn, nhưng sau tất cả, người đọc không thể  
thoát khỏi cái cảm giác cô đơn và tuyệt vọng. Đó là  
sự cô đơn tuyệt vọng của người đang say hay là tình  
cảnh có thực của người đang tỉnh?  
Quán trà trong tác phẩm “Thuốc” cũng là một không  
gian như thế. Đây là nơi mà các tình tiết của câu  
chuyện được bổ sung, triển khai rộng khắp, và cũng  
là nơi mà hình tượng nhân vật được bộc lộ một cách  
rõ ràng hơn. Trong những cuộc nói chuyện tại quán  
trà đó, lão Hoa Thuyên là một người lắng nghe chân  
thành, còn đao phủ Khang đại thúc - một kẻ dã man,  
ngu muội lại trở thành người kể chuyện có uy quyền,  
và quần chúng trở thành người ủng hộ những giọng  
điệu, lời lẽ của gã đao phủ đại diện cho thế lực đang  
nắm quyền điều hành đất nước, cùng đưa ra nhận  
định Hạ Du là “đồ điên cuồng”. Từ đây, sự đánh giá  
đối với người cách mạng Hạ Du đã được đóng khung,  
đồng thời, quan niệm về hiệu quả thần kỳ chữa khỏi  
bệnh nan y của chiếc bánh bao thấm máu người cũng  
được tuyên truyền rộng khắp quần chúng nhân dân.  
Không gian quán trà làm nổi bật hàm ý đau xót của  
tác giả trước căn bệnh nan y - “tâm bệnh” của quốc  
dân một thời tăm tối.  
- Không gian nghĩa địa  
Trong sáng tác của Lỗ Tấn, không gian nghĩa địa  
được hiện ra như là một nơi đầy tử khí, là tượng  
trưng cho kết cục bi thảm của bi kịch con người.  
Không gian nghĩa địa cũng luôn được Lỗ Tấn khắc  
họa hết sức nổi bật, ví dụ như trong “Thuốc”. Khi  
mua được “thuốc” - bánh bao thấm máu người về  
trị bệnh cho con trai mà không có hiệu quả, thần  
chết đã mang tiểu Hoa Thuyên đi như một tất yếu,  
thì cảnh tượng nghĩa địa cũng được hiện ra với một  
vẻ thê lương như nó phải có. “…có một con đường  
mòn cong vẹo ở giữa chia làm hai: Nghĩa địa tử tù  
và những người chết trong tù ở bên trái, nghĩa địa  
người nghèo phía bên phải. Mộ hai bên xếp chồng  
lên nhau, giống như bánh bao nhà giàu ngày chúc  
thọ…không gian chung quanh đều lặng ngắt như  
cái chết.” Nghĩa địa, nơi tập trung bình đẳng của  
những người xa lìa cõi thế, vì thế, mới có cảnh mẹ  
của tiểu Hoa Thuyên gặp mẹ của Hạ Du tại đây, nơi  
mà những người chết trước nằm đợi người chết sau  
một cách lặng lẽ, giống như Hạ Du hi sinh trước, và  
rồi tiểu Hoa Thuyên cũng phải nằm xuống mộ. Do  
đó, xét theo góc độ nhất định, đây cũng là không  
gian có tính liên tục xuyên suốt trong tác phẩm,  
mang theo tính bi kịch mạnh mẽ. Hai con người kết  
thúc số phận theo hai cách khác nhau, nhưng khi  
ánh dương gian kết thúc với họ, thì đều nằm chung  
trong một không gian như thế “chỉ cách nhau có  
mỗi một lối đi nhỏ”. Là người cách mạng, Hạ Du gánh  
vác trọng trách cứu vớt những người dân dưới đáy  
xã hội như gia đình Hoa Thuyên, cha mẹ của tiểu  
Hoa Thuyên lại tin rằng, dùng máu của Hạ Du có thể  
chữa được bệnh cho con mình, và cuối cùng cả hai  
cùng xuống mộ. Cái kết cục bi thảm đó diễn ra tại  
không gian nghĩa địa như một hồi chuông cảnh báo  
về bi kịch của người cách mạng và sự ngu muội của  
quảng đại quần chúng nhân dân trong xã hội đương  
thời, từ đó mang lại niềm hi vọng cải biến thế giới  
tinh thần mà họ đang có. Nghĩa địa trở thành đầu  
mối của sự miêu tả, là nơi đan xen và giao nhau giữa  
sự sống và cái chết, là nơi hội tụ hai bi kịch của hai  
kiếp người, hai số phận, trở thành không gian độc  
đáo có ý nghĩa phê phán, giá trị nghệ thuật và nhân  
văn sâu sắc.  
Quán rượu là nơi có chức năng giải trí và tiêu khiển  
tại các thị trấn nhỏ, nơi mà cuộc sống người dân đa  
phần không giàu có, nhưng vẫn có nhu cầu giao lưu,  
giải trí với chi phí thấp sau những giờ làm việc, họ tìm  
đến không gian này như một nơi đáp ứng đầy đủ các  
tiêu chí đó, và đây cũng là nơi thể hiện rõ tâm thế của  
xã hội và quần chúng đương thời. Trong tác phẩm  
“Khổng Ất Kỷ”, quán rượu Hàm Hanh chính là một nơi  
như thế, một nơi mà những con người có thu nhập  
thấp tìm cách giết thời gian của mình. Là một người  
trí thức nửa vời, Khổng Ất Kỷ có cái buồn của người  
nghèo, có tri thức của kẻ sĩ, lại có nỗi niềm cay đắng  
của kẻ không gặp thời và không có đất dụng võ. Cũng  
chính trong một hoàn cảnh như thế, Khổng Ất Kỷ trở  
thành chủ đề đàm tiếu của khách trong quán rượu  
hàng ngày, và bi kịch của nhân vật này cũng đến từ  
miệng của những con người này. Trong tiểu thuyết  
“Ngày mai”, quán rượu Hàm Hanh lại là nơi để say của  
lão Củng. Việc làm cho khách say là một trong những  
chức năng quan trọng của quán rượu. Hiện thực cuộc  
sống đầy áp bức, bất công, đen tối làm cho nhiều con  
người dưới đáy xã hội lựa chọn uống say như một  
hoạt động thường ngày trong cuộc sống, nhằm làm  
cho họ tạm quên đi những đau khổ, buồn đau đang  
trĩu nặng, thế nhưng đối với chị Tư Thiện, ngày mai  
vẫn là khổ đau, và đối với lão Củng, ngày mai vẫn phải  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 05 - 01/2017  
56  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
3. KẾT LUẬN  
Chú thích:  
1. Các trích dẫn từ tác phẩm của Lỗ Tấn là lời dịch từ  
nguyên tác của tác giả bài viết.  
Một trong những nét đặc sắc trong phong cách sáng  
tác của Lỗ Tấn là đã tạo ra một không gian nghệ  
thuật phản ánh chính xác hiện thực đương thời. Đây  
là một tập hợp của nhiều không gian riêng biệt. Bên  
cạnh không gian tự nhiên, sáng tác của Lỗ Tấn còn  
có không gian xã hội, kèm với nó là những đặc tả về  
nhân vật trong xã hội. Trong đa số các trường hợp,  
không gian trong sáng tác của Lỗ Tấn thường nặng  
nề, dài dằng dặc vì nó mang theo một nỗi mất mát  
không gì bù đắp nổi. Có khi không gian mang một  
màu sắc thấm đẫm tư tưởng tông pháp phong kiến  
và những quan niệm ngu muội của người dân bị đè  
nén, bị áp bức và trở thành bi kịch đối với kiếp người.  
Ở đó, các nhân vật dường như đang “sống mòn”:  
Hoặc bị giam hãm, bó chặt, luẩn quẩn trong vòng  
những âu lo hàng ngày, hoặc bị hành hạ, bị giày vò,  
bị ám ảnh giữa quá khứ và hiện tại, hoặc bị điên loạn,  
bị giết chết trong một xã hội thối nát, bất công với sự  
biến dạng về nhân tính, hoặc bị mất phương hướng  
trước đêm đen trải dài tưởng như vô tận, hoặc lạnh  
lẽo cô đơn trước biển người với tâm hồn băng giá...  
Có thể thấy, không gian trong sáng tác Lỗ Tấn thường  
gây cảm giác lâu hơn, dài hơn so với thời gian khách  
quan vì nó luôn gắn liền với tâm trạng đau buồn và  
bi kịch của nhân vật, cũng như luôn gắn liền với bối  
cảnh tăm tối của xã hội. Tuy nhiên, không gian này  
có lúc cũng không hoàn toàn là u tối, giống như hình  
ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du trong tác phẩm“Thuốc”,  
đây là niềm tin, hi vọng thấp thoáng về tương lai cách  
mạng ẩn hiện trong những ngày đen tối. Vòng hoa đó  
chứng tỏ, dù Hạ Du bị xem là “kẻ phản động”, bị hành  
hình, gánh chịu sự ghẻ lạnh của quần chúng, nhưng  
vẫn còn có ai đó đang sống hiểu được nghĩa khí của  
anh. Cũng qua chi tiết này, dường như tác giả muốn  
chỉ ra, dù là hi vọng nhỏ, nhưng căn bệnh u mê trầm  
kha của quần chúng kia vẫn còn có thể chữa được. Có  
thể thấy, yếu tố lạc quan chủ nghĩa trong sáng tác này  
như thổi một luồng sinh khí mới vào nền văn học, là  
một đặc điểm có tính lịch sử độc đáo của xu hướng  
văn học hiện thực phê phán Trung Quốc thời hiện đại.  
Những tia sáng lạc quan ấy, nhìn chung, còn rất mong  
manh, chưa có cơ sở chắc chắn, tuy chưa thể xua tan  
không khí bi quan, ảm đạm bao trùm trong toàn bộ  
sáng tác của nhà văn trong thời kỳ này, nhưng cũng  
đủ để nói lên tiếng nói mạnh mẽ “cất lên từ những  
kiếp lầm than” của trào lưu văn học hiện thực phê  
phán mới nổi lên, đóng góp không nhỏ vào thành tựu  
rực rỡ của văn học hiện đại trong dòng lịch sử văn học  
của dân tộc Trung Hoa./.  
Tài liệu tham khảo:  
1.陈平原(2003),中国小说叙事模式的转变,北  
京大学出版社,北京。  
2.林非(2000),鲁迅和中国文化,学苑出版  
社,北京。  
3.钱理群(1999),走进当代的鲁迅,北京大学  
出版社,北京。  
4.吴中杰(2006),鲁迅的艺术世界,复旦大学  
出版社,上海。  
5.王付仁(2006),鲁迅研究的历史与现状,福  
建教育出版社,福州。  
6.杨义(1998),中国现代文学流派,人民出版  
社,北京,第71页。  
7.张文诺(2011),“鲁迅小说中的乡村空间想  
象”,学术探索,第8期。  
8.张志忠(2013),“从鲁迅到莫言:表述乡村”,  
中国作家,第4期。  
THE ORIGINALITY OF ART SPACE  
IN LU XUN’S WORKS  
DO TIEN QUAN  
Abstract: In the writing career of Lu Xun, the  
sense of space is always associated with the  
sense of human, life and society, associated  
with dreams, ideals and realism that the writer  
has been following. The paper studies the art  
space in Lu Xun’s works basing on two main  
categories of space that are the natural space  
and social space, clarifying the characteristics  
of social reality and the concept of the writer’s  
contemporary life, thereby contributing to  
stand out the attraction of unique art with Lu  
Xun’s writing style.  
Keywords: art space, Lu Xun, works.  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
57  
Số 05 - 01/2017  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 13840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự độc đáo của không gian nghệ thuật trong các sáng tác của Lỗ Tấn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_doc_dao_cua_khong_gian_nghe_thuat_trong_cac_sang_tac_cua.pdf