Vai trò của rừng tâm linh trong đời sống của các tộc người thiểu số ở miền núi Trung bộ Việt Nam

Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
3
LÊ ANH TUẤN  
VAI TRÒ CỦA RỪNG TÂM LINH TRONG ĐỜI SỐNG CỦA  
CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ Ở MIỀN NÚI TRUNG BỘ VIỆT NAM  
Tóm tắt: Ở các cộng đồng tộc người thiểu số (TNTS) vùng miền  
núi Trung Bộ, rừng hoàn toàn không chỉ là vật chất, tài nguyên và  
môi trường theo nghĩa hẹp, mà còn là văn hóa tâm linh. Rừng tâm  
linh là một loại hình tồn tại từ lâu đời trong ý thức và đời sống các  
TNTS, dựa trên các quan niệm về vũ trụ, về vạn vật hữu linh, phản  
ánh qua hình thức rừng thiêng và rừng ma. Chính nhờ lòng tin tôn  
giáo đã tạo nên những khu rừng tâm linh Việt Nam cũng như nhiều  
nước trên thế giới mới còn lại những khu rừng nguyên sinh theo  
đúng nghĩa của nó. Hơn thế, rừng tâm linh đã và đang có những  
vai trò quan trọng đối với đời sống các TNTS cả trên khía cạnh vật  
chất lẫn tinh thần, tự nhiên và xã hội. Vai trò của rừng tâm linh đối  
với lĩnh vực đời sống xã hội được thể hiện ở khía cạnh duy trì và  
tạo ra các môi trường không gian xã hội thực hành và trao truyền  
phong tục tập quán, tri thức bản địa, tập quán kiêng cữ gắn với cây  
rừng, thú rừng, nghi lễ cúng rừng, lễ hiến sinh… Do vậy, rừng tâm  
linh là thứ tài sản quý giá, quan trọng của cộng đồng TNTS ở vùng  
miền núi Trung Bộ.  
Từ khóa: Rừng tâm linh, rừng thiêng, tộc người thiểu số, luật tục,  
quản lý truyền thống, miền núi Trung Bộ.  
1. Vài nét về văn hóa tâm linh và rừng tâm linh  
Hiện nay, khi nói đến tôn giáo, niềm tin vào cái thiêng, hay một khía  
cạnh thiêng liêng, bí ẩn nào đó, chúng ta thường sử dụng thuật ngữ “tâm  
linh” như: đời sống tâm linh, thế giới tâm linh, văn hóa tâm linh,... Vậy,  
tâm linh và văn hóa tâm linh được các nhà khoa học trên thế giới và ở  
Việt Nam hiểu thế nào? Xin điểm lại một số quan niệm.  
Trong Vật tổ và cấm kỵ, Sigmund Freud đã đưa ra nhiều quan niệm về  
nguồn gốc ra đời và phát triển của cấm kỵ. Theo ông, cấm kỵ có hai  
hướng cùng tồn tại: một mặt, nó có nghĩa là thiêng liêng, thần thánh; mặt  
Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế.  
3
4
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
khác, là bí hiểm, nguy hiểm, nghiêm cấm, không thuần nhất. Như thế,  
trong từ cấm kỵ hàm chứa cái gì đó như khái niệm tiềm tàng, cấm kỵ thể  
hiện ra một cách hệ thống trong những cấm đoán và hạn chế. Với nghĩa  
rộng, người ta có thể phân biệt nhiều kiểu cấm kỵ khác nhau: Cấm kỵ tự  
nhiên hay trực tiếp là kết quả của một sức mạnh bí ẩn có ở một người hay  
vật; Cấm kỵ được thông báo hay cấm kỵ gián tiếp phát sinh từ chính sức  
mạnh đã nói. Cấm kỵ là biểu hiện và kết quả của tín ngưỡng các dân tộc  
nguyên thủy vào quyền lực ma quỷ. Sau đó, cấm kỵ bị phân rã gốc rễ này  
và tồn tại như một thứ quyền lực, đơn giản vì nó là cái dựa trên một kiểu  
quán tính tâm lý; vậy là bản thân nó trở thành cội rễ của những tập tục và  
luật lệ của chúng ta1.  
Một ý kiến khác ở Việt Nam, đều xem tâm linh và văn hóa tâm linh là  
một dạng thức của văn hóa tinh thần: “Văn hóa tâm linh là một thuật ngữ  
được dùng để chỉ một loại hình văn hóa tinh thần đặc thù của người Việt  
Nam, lấy đối tượng là sự bày tỏ tình cảm linh thiêng, niềm tin linh thiêng,  
sự tri ân của những người đang sống đối với những người thân đã mất,  
đối với những vị anh hùng dân tộc, những liệt sĩ được tôn làm thánh, làm  
thần, làm thành hoàng;... diễn ra trong một không gian thiêng và thời gian  
thiêng nhất định... Văn hóa tâm linh và hoạt động văn hóa tâm linh về  
bản chất là tích cực, hướng thiện và nhân văn”2.  
Còn Nguyễn Đăng Duy quan niệm: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu  
hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện  
niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo”. Tác giả còn  
chỉ cho chúng ta thấy một vấn đề không kém phần quan trọng trong  
nghiên cứu về tâm linh đó là niềm tin. “Niềm tin là sự tín nhiệm, khâm  
phục ở một con người với một con người, một sự việc, một học thuyết,  
một tôn giáo, được thể hiện ra bằng hành động theo một lẽ sống. Niềm  
tin là hạt nhân quyết định trong việc xác lập mối quan hệ xã hội”3. Trong  
đó, niềm tin tâm thức là niềm tin thiêng liêng, hòa quyện cả tình cảm và  
lý trí, dẫn đến sự say đắm, say sưa tự nguyện hành động theo niềm tin ấy.  
Nhìn vào các tộc người thiểu số, văn hóa tâm linh và đời sống tâm  
linh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, như là mạch nguồn sống trước sự  
hùng vỹ, bí ẩn của núi rừng và các thế lực vây quanh. Cuộc sống dựa  
nhiều vào tự nhiên, mang tính chất bị động, càng buộc chặt đồng bào vào  
những hoạt động tâm linh nhằm cầu mong các đấng thần linh phù hộ, ban  
phát cho họ mùa màng bội thu, buôn làng yên ổn. Cho nên, họ thường tổ  
chức nhiều nghi lễ, tâm linh nhằm tạ ơn thần linh, tổ tiên,... Trải qua quá  
Lê Anh Tuấn. Vai trò của rừng tâm linh...  
5
trình lịch sử tộc người lâu dài, đồng bào đã xây dựng nên một hệ thống  
các loại hình tín ngưỡng/tâm linh phong phú và đa dạng, từ thờ cúng  
Trời, đất,... đến cúng rừng, cúng sông suối, cây cỏ, súc vật,... và các vật  
vô tri vô giác như hòn đá/tảng đá... Sự “thiêng hóa” các niềm tin vào thần  
linh chính là sự thích ứng của họ đối với tự nhiên trong cuộc sinh tồn; và  
rừng tâm linh là một trong những biểu hiện về văn hóa tâm linh của các  
cư dân vùng miền núi.  
Cách tiếp cận mácxít đã chỉ ra cơ sở lao động/kinh tế của việc hình  
thành ý thức xã hội, văn hóa, tôn giáo, các phong tục tập quán và mối  
tương quan giữa ý thức xã hội với nhân cách cá nhân. Tuy nhiên, hành  
động của con người, đặc biệt là hành vi của cá nhân, không phải chỉ được  
điều khiển bởi ý thức, mà có khi nó còn bị thúc đẩy bởi các động lực vô  
thức nằm sâu trong tận đáy tâm thức của con người, cái đôi khi được  
đồng nhất với bản năng4. Chính những động lực vô thức ấy đã đưa đến  
những quan niệm rất phong phú, đa dạng về thế giới quan, nhân sinh  
quan của các tộc người thiểu số.  
Trong thực tế, đời sống làng bao giờ cũng là một thực thể gắn bó mật  
thiết với rất nhiều thế lực siêu nhiên (thần linh, ma quỷ), ngự trị bên trên và  
trong phạm vi ngôi làng, mọi hoạt động của dân làng trên mọi mặt đời  
sống đều có thể là họa hay phúc dưới sự phán xét hoặc “cách nhìn” của  
thần linh. Điều này được thể hiện trong nhân sinh quan và vũ trụ quan,  
phân chia cõi trời-cõi đất, cõi sống-cõi chết, cõi người-cõi thần,... với các  
mối quan hệ qua lại và ràng buộc lẫn nhau, giữa thần linh - con người - ma  
quỷ. Trong đó, lực lượng thần linh, ma quỷ là thế lực lượng quan trọng, có  
mặt, trú ngụ, bủa vây khắp mọi nơi từ sông, suối, núi, rừng, cây, đá, vật lạ,  
hiện tượng tự nhiên bất thường và đặc biệt là cái chết... chi phối đến từng  
ngõ ngách của cuộc sống con người. Hệ thống các thế lực siêu nhiên “cai  
quản” làng trên tất cả các phương diện, vì vậy, đối với người như là “hệ  
thống quản lý trật tự xã hội siêu hình”5. Chính những quan niệm về vũ trụ,  
thế giới tại chỗ, và “Hồn linh giáo” ở các TNTS là cơ sở hình thành rừng  
thiêng, rừng ma, một loại rừng dù đã trải qua bao nhiêu thời gian nhưng  
đến nay vẫn còn hiện hữu trong ý thức và trong đời sống các TNTS nói  
chung và vùng núi Trung Bộ nói riêng: Rừng tâm linh.  
Khái niệm “rừng tâm linh” xuất phát từ một số nhà khoa học trong  
quá trình nghiên cứu, chỉ loại rừng hình thành và tồn tại từ lâu đời trong  
đời sống của người TNTS, có nội hàm bao gồm những thuộc tính phản  
ánh đặc điểm rừng thiêng và rừng ma, dựa trên các quan niệm về vũ trụ,  
6
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
vạn vật và niềm tin tôn giáo. Trong thực tế, đồng bào TNTS không có  
khái niệm “rừng tâm linh” mà chỉ tồn tại các khái niệm cụ thể, trực quan  
là “rừng thiêng” gắn với hiện tượng thiêng, nơi linh thiêng (rừng cấm6)  
và “rừng ma” gắn với tha ma, nghĩa địa (rừng kiêng). Trong quan niệm  
đồng bào TNTS ở vùng miền núi Trung Bộ, rừng hoàn toàn không chỉ là  
vật chất, là tài nguyên, là môi trường theo nghĩa hẹp mà “Rừng là tâm  
linh”7. Hình thức “Rừng tâm linh” ở đây được thể hiện trên nhiều khía  
cạnh phong phú, đa dạng của đời sống tôn giáo như truyền thuyết, câu  
chuyện liên quan đến rừng thiêng/rừng cấm, những biểu hiện niềm tin  
vào rừng ma/nghĩa địa, rừng cấm/rừng đầu nguồn...  
Như vậy, khái niệm “rừng tâm linh” ở vùng núi Trung Bộ được hiểu  
là: [i] những khu rừng được người dân bản địa “linh thiêng hóa” niềm tin  
thông qua sự tồn tại của thế lực siêu nhiên; [ii] được sở hữu, quản lý bởi  
cộng đồng và thần linh; [iii] được bảo vệ bởi công cụ luật tục và các “chế  
tài tâm linh”.  
2. Đặc điểm rừng tâm linh ở vùng tộc người thiểu số miền núi  
Trung Bộ  
TNTS vùng núi Trung Bộ có sự phân biệt và nhận thức rõ ràng về  
rừng thiêng, rừng cấm nói chung. Trong đó, phổ biến nhất là loại rừng  
thiêng và rừng ma với những đặc điểm tính chất nhận biết rõ ràng: [i]  
“Rừng thiêng” là loại rừng có nhiều cây to (thường ở đầu nguồn nước), là  
nơi ở của các loài động vật hung dữ (rắn trắng, trăn to, thuồng luồng,  
hổ...), là nơi trú ngụ của các vị thần linh đầy quyền năng mà con người  
ngưỡng vọng, sùng kính, luôn che chở cho dân làng trước thiên tai, dịch  
bệnh, luôn ban tặng vụ mùa bội thu, cây cối xanh tốt; [ii] “rừng ma” là  
nơi chôn cất người chết, nơi ở của ma quỷ - những thế lực luôn gây ra tai  
nạn, gieo rắc sự sợ hãi, đau khổ đối với dân làng. Quá trình “thiêng hóa”  
các khu rừng tâm linh ở vùng TNTS từ các sự vật, hiện tượng kỳ bí diễn  
ra trong đời sống, không chỉ phản ánh sự kính trọng các thần linh cư ngụ  
trong rừng thiêng, mà còn lo sợ trước ma quỷ, ác thần cư ngụ trong rừng  
ma. Do vậy, gắn với sinh hoạt tôn giáo là những thực hành tôn giáo, các  
kiêng cữ, cấm kỵ của cộng đồng.  
Rừng tâm linh ở vùng TNTS miền núi Trung Bộ là một trong những  
hình thức của rừng cộng đồng, nhưng mang những đặc điểm của rừng  
thiêng và rừng ma. [i] Rừng thiêng ở vị trí đầu nguồn, có quy mô rộng,  
được phân bố trên nhiều làng, nhiều tộc người sinh sống. Rừng thiêng  
Lê Anh Tuấn. Vai trò của rừng tâm linh...  
7
được xác định không phải bằng thước đo, bản đồ, mà bằng tâm thức, sự  
“thiêng hóa” các niềm tin vào không gian linh thiêng. Vì vậy, trong quá  
trình xác định diện tích, không gian của rừng tâm linh xưa, các già làng  
chỉ ước lượng tương đối, bởi bản thân nhiều già làng không dám vào các  
khu rừng thiêng đó8. [ii] Rừng ma thường có quy mô nhỏ, có vị trí gần  
nơi cư trú, gắn với các cộng đồng làng bản cụ thể. Điều này phản ánh  
tính chất độc lập, riêng biệt của hệ thống thần linh, ma qủy gắn với các  
địa vực làng bản cụ thể, câu chuyện cụ thể, của các dòng họ cũng như các  
thành viên thuộc làng.  
Ngoài ra, rừng ma và rừng thiêng có những dấu hiệu nhận biết đặc  
thù. Về mặt tự nhiên, hầu như các khu rừng thiêng đều là những nơi có  
cây cối cổ thụ, nơi phân bố của các loại cây lá nhiều tầng, mật độ cây  
dày; nhiều động vật quý hiếm cũng như nhiều ác thú (hổ, rắn,...); nơi đầu  
nguồn nước. Về mặt niềm tin tôn giáo, các khu rừng này thường gắn với  
những câu chuyện rất kỳ bí về các loài vật thiêng, hung dữ hay cây thần,  
người chết bí hiểm...9. Bên cạnh đó, một số khu rừng thiêng còn có  
những đặc điểm tự nhiên riêng biệt, như: có loại cây đặc biệt10; phát ra  
tiếng kêu; các hình thù kỳ quái; nơi bí hiểm tối tăm, có khí độc...11.  
Rừng ma được các TNTS ở đây phân định rất rõ ràng, nhất là khu vực  
ranh giới rừng ma giữa hai làng với nhau, điều này khác so với rừng thiêng  
thường không có ranh giới cụ thể do tính chất và quy mô rộng lớn cả về  
không gian lẫn đối tượng quản lý. Rừng ma là khu vực nghĩa địa nằm cạnh  
làng, nơi cộng đồng dùng để chôn cất khi các thành viên khi chết. Theo tập  
tục, không bao giờ người của làng này lại đi vào khu rừng ma của làng kia  
và ngược lại. Rừng ma được xem là không gian linh thiêng, cho dù là nơi  
chôn người chết tốt hay người chết xấu. Tuy nhiên, đồng bào luôn có sự  
phân biệt rõ giữa hai khu rừng nơi cư ngụ của ma tốt/lành và ma xấu/dữ để  
có sự ứng xử phù hợp. Chính quan niệm và sự phân biệt chết tốt và chết  
xấu đã hình thành nên hai loại rừng ma: [i] Rừng chôn người chết tốt là  
những người chết có nguyên nhân rõ ràng (đau ốm, người già, chết tại  
nhà,...); được chôn ngay ngắn, được làm quan tài, được tổ chức lễ “bỏ mả”,  
làm “nhà mồ”. [ii] Rừng chôn người chết xấu là những cái chết không rõ  
ràng, không có nguyên nhân (chết do dịch bệnh, bị điên, hổ vồ, rắn cắn,  
chết đuối...), là những cái chết bất thường nên chôn ở xa nơi cư trú do lo sợ  
các thế lực ma quỷ về làng quấy phá. Đồng bào dành sự ứng xử mang tính  
sợ hãi và sùng kính đối với khu rừng có người chết xấu, nơi có những oan  
hồn, những lực lượng gây ra tai nạn, khổ đau cho con người. Sự phân biệt  
8
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
và đối xử này bắt nguồn từ quan niệm “thế giới lưỡng phân” phổ biến ở  
hầu hết các tộc người: Thần linh và ma quỷ, sự sống và cái chết, chết bình  
thường và không bình thường, ma xấu và ma tốt,.... Một phần chính từ  
quan niệm đó, ở mỗi tộc người, mỗi vùng lại có những sự thể hiện ứng xử  
khác nhau, đưa đến sự tồn tại nhiều hình thức và tên gọi khác nhau về rừng  
ma/nghĩa địa, rừng cấm, rừng thiêng, rừng cãi12.  
3. Vai trò rừng tâm linh trong đời sống các TNTS vùng miền núi  
Trung Bộ  
Rừng tâm linh là sản phẩm mang tính tích cực của niềm tin tôn giáo,  
tuy thô sơ, đơn giản nhưng nó giúp cho con người gần gũi, biết yêu/tôn  
sùng, hòa đồng, sống chung với tự nhiên, xem tự nhiên như một phần tất  
yếu của cuộc sống. Hơn thế, rừng tâm linh đã và đang có những vai trò  
quan trọng đối với đời sống các TNTS cả trên khía cạnh vật chất lẫn tinh  
thần, tự nhiên và xã hội.  
Vai trò của rừng tâm linh đối với sinh hoạt và thực hành tôn giáo:  
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu rừng nói chung là trung tâm sự sống của con  
người trên Trái Đất, thì rừng tâm linh chính là phần hồn của sự sống đó.  
Có thể nói, rừng sản xuất có vai trò chủ yếu đối với đời sống kinh tế, đời  
sống vật chất thông qua việc cung cấp các nguồn lợi và sản phẩm, thì  
rừng tâm linh lại đóng vai trò chủ yếu và trực tiếp đối với đời sống tinh  
thần, tôn giáo. Khác với các khu rừng sản xuất, những khu rừng thiêng,  
rừng ma tạo nên những tác động về mặt tâm linh, tinh thần, gián tiếp  
củng cố, duy trì và đảm bảo sự ổn định về mặt xã hội13. Đối với các  
TNTS ở Trường Sơn, rừng là tâm linh, là cội nguồn của văn hóa. “Đố ai  
có thể tìm ra được một biểu hiện văn hóa nào ở đây mà không liên quan  
đến rừng, hay đúng hơn, không có mối quan hệ sâu xa thăm thẳm của con  
người với rừng làm cơ sở”14. Không gian rừng tâm linh là nơi diễn ra các  
nghi lễ cúng tế, thực hành niềm tin tôn giáo của cộng đồng từ bao đời  
nay. Cứ sau khoảng 2 - 3 năm hoặc lâu hơn, cộng đồng lại tổ chức lễ  
cúng rừng với nhiều loại lễ vật, cầu mong thần linh phù hộ, ban tặng mùa  
màng bội thu, đời sống no đủ, tránh thiên tai, hiểm họa. Nghi lễ cúng  
rừng đã quy tụ, tạo nên một sự thống nhất về mặt tinh thần và ý thức của  
người dân đối với vai trò của các khu rừng thiêng, rừng ma, tạo thành  
một “liên minh” bảo vệ rừng tâm linh15.  
Cư dân TNTS bao đời nay sống dựa vào rừng: sống rừng nuôi, chết rừng  
chôn. Vì vậy, rừng đối với họ không chỉ là mối quan hệ giữa cái tự nhiên  
Lê Anh Tuấn. Vai trò của rừng tâm linh...  
9
(rừng) với cái xã hội (con người), mà nó còn mang tính thiêng liêng, niềm  
tin vào thần linh. Rừng tâm linh vì thế vừa là không gian, thời gian hữu hình,  
nhưng đồng thời là không gian, thời gian vô hình - không gian linh thiêng,  
nơi trú ngụ của thần linh. Do vậy, rừng tâm linh là thứ tài sản quý giá nhất,  
quan trọng nhất của cộng đồng làng. Sự “thiêng hóa” các niềm tin vào rừng  
tâm linh chính là lối ứng xử có “văn hóa”, có “đạo đức” đối với rừng cộng  
đồng nói chung và rừng tâm linh nói riêng của các TNTS.  
Vai trò rừng tâm linh đối với bảo vệ, duy trì tài nguyên và môi trường  
sống: Rừng tâm linh là một dạng quan trọng giúp chúng ta bảo tồn. Từ  
quan niệm đến thực hành, đồng bào các TNTS ở Trường Sơn đã hình  
thành những chuẩn mực, chế tài và đặc biệt là “tính thiêng”, để ràng buộc  
ứng xử, hành động của con người đối với sở hữu, quản lý và bảo vệ  
“rừng tâm linh” nói riêng và nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung. Từ  
nhận thức rừng tâm linh là của tự nhiên, do các vị thần cai quản, các hành  
vi, hoạt động chặt phá, xâm phạm trái phép đồng nghĩa với việc xúc  
phạm đến các thần linh, làm cho các thần nổi giận, là nguyên nhân gây  
nên hạn hán, bệnh tật, bão lụt, mất mùa và “rừng động”16... cho nên các  
quy định đều hướng tới việc bảo vệ những khu rừng này: nghiêm cấm các  
hoạt động chặt cây, lấy gỗ, săn bắn thú, đánh cá, chăn thả trâu bò, cấm  
xâm nhập bất hợp pháp và tự tiện…  
Với vai trò tôn giáo, việc bảo vệ những khu rừng tâm linh cũng có  
những đặc trưng riêng, không giống với các loại rừng khác, bằng những  
quy định và chế tài mang tính tâm linh từ sự “thiêng hóa”. Từ quan niệm  
rừng thiêng là nơi chứa đựng những nguy cơ ảnh hưởng đến sự yên ổn  
của cuộc sống cộng đồng, là cơ sở hình thành nên những quy định bảo vệ  
và “chế tài tâm linh” trong xử phạt vi phạm. Nói cách khác, dưới góc độ  
luật tục gắn với “thiêng hóa” đã hình thành nên các quy định đối với cả  
loại hình “rừng ma” và “rừng thiêng”: Không “xúc phạm” đến rừng  
thiêng, rừng ma như chửi bới, lăng mạ, chặt cây,...; khi vào rừng phải ăn  
nói nhẹ nhàng để tránh làm kinh động đến thần linh, ma quỷ; không được  
đụng vào bất cứ cái gì nếu chưa được sự “đồng ý”; trước khi lấy bất cứ  
sản vật gì phải làm lễ cúng xin thần linh, ma quỷ cho phép mới đem về;  
những vật lấy ra từ các khu rừng này phải dùng vào việc chung, không  
được dùng vào việc riêng; Không để xảy đến nạn cháy rừng ngoài ý  
muốn trong quá trình phát, cốt, đốt, trỉa cũng như sử dụng lửa một cách  
tắc trách... Quyền sử dụng, khai thác riêng những khu rừng đệm giữa các  
làng cũng bị ràng buộc bởi những quy định này17, giảm thiểu những tác  
10  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
động về mặt vật chất và kinh tế góp phần bảo tồn, duy trì những khu rừng  
nguyên sinh quý giá, nguồn tài nguyên của cộng đồng.  
Vai trò quan trọng của rừng tâm linh gắn với những khu rừng đầu  
nguồn, rừng già, do đó môi trường cảnh quan, tài nguyên động thực vật  
nơi đây được bảo vệ tốt hơn so với các khu rừng khác. Chính những khu  
rừng tâm linh mang lại những lợi ích rất lớn trong bảo vệ môi trường  
sống cho con người, không những đối với địa phương mà còn cả khu  
vực. Đối với những vùng có độ dốc cao, dễ xói mòn, lũ lụt, rễ cây rừng  
có tầm quan trọng trong việc ngăn chặn xói mòn, sạt lở đất; rừng giúp  
ngăn cản gió, giữ và điều hòa lượng nước mưa và nước ngầm; cung cấp  
nước cho đời sống; rừng tạo bóng mát, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm không  
khí, tạo môi trường sống thanh bình, thoáng mát, trong lành. Nhiều khu  
rừng tâm linh còn là nguồn sinh thủy cung cấp nước để sinh hoạt và phục  
vụ sản xuất18. Một số loài cây có ý nghĩa về mặt thực vật học được người  
dân thu hoạch để sử dụng, nhưng sự thu hoạch này được kiểm soát theo  
một số nguyên tắc do chính cộng đồng xây dựng để bảo tồn, tránh sự  
xuống cấp tài nguyên rừng19. Một cách gián tiếp, từ hình thức cộng đồng  
và vai trò tâm linh, nhưng khu rừng này đã góp phần vào tránh sự suy  
giảm quy mô và diện tích rừng, tránh sự tác động có tính chất cơ học vào  
rừng và đất rừng, động thực vật rừng. Hầu hết đồng bào đều ý thức việc  
vào khai thác hay săn thú trong những khu rừng cấm này một cách hạn  
chế, cho mục đích chung, góp phần quản lý, bảo vệ môi trường tự nhiên  
hiệu quả. Trong một chiến lược sinh kế lâu dài đối với cộng đồng các  
TNTS, đây chính là các khu dự trữ, duy trì, bảo tồn các giống loài động  
thực vật trước nguy cơ cạn kiệt do nhu cầu cuộc sống ngày một tăng.  
Vai trò rừng tâm linh đối với đảm bảo ổn định đời sống xã hội: Giá trị  
tinh thần mà các khu rừng tâm linh mang lại ít khi được đo đếm một cách  
rõ ràng và cụ thể bằng việc cung cấp gỗ làm nhà, củi đốt, thú rừng hay  
đất canh tác,…. Tính biểu tượng của “các khu rừng tâm linh” là điều  
được đánh giá cao nhất trong khi nghiên cứu về các tộc người có đời  
sống gắn chặt với các khu rừng nhiệt đới ở Trung Bộ cũng như Đông  
Nam Á. Vai trò của rừng tâm linh đối với lĩnh vực đời sống xã hội được  
thể hiện ở khía cạnh duy trì và tạo ra các môi trường không gian xã hội  
thực hành và trao truyền phong tục tập quán, tri thức bản địa, tập quán  
kiêng cữ gắn với cây rừng, thú rừng, nghi lễ cúng rừng, lễ hiến sinh…  
Buôn làng truyền thống được hình thành từ rừng, đó là vùng đất được coi  
trọng đối với mỗi cộng đồng lần đầu tiên đặt chân đến hay bước chân đi  
Lê Anh Tuấn. Vai trò của rừng tâm linh...  
11  
trong cuộc sống du canh du cư. Trong xã hội truyền thống của các TNTS  
vùng miền núi Trung Bộ, không gian làng bản khép kín và tự cấp tự túc  
tạo nên sự cố kết các thành viên trong một cộng đồng bền chặt, đã tạo ra  
một trật tự cân bằng, ổn định và lâu bền, trên các mối quan hệ thần linh -  
con người - thiên nhiên. Trong đó, hình thức quản lý và sử dụng hợp lý  
tài nguyên rừng bằng hình thức tâm linh đã làm tăng mối liên kết và quan  
hệ giữa các cá nhân trong xã hội. Một sự ghi nhận lớn vai trò của rừng  
tâm linh đối với đời sống xã hội, đó chính là tạo mối đoàn kết hòa thuận  
và cân bằng xã hội thông qua các nghi lễ cúng tế gắn với thần rừng, tập  
tục chia thịt thú rừng,... đặc biệt là nghi lễ hiến sinh cho thần linh cai  
quản rừng. Vượt ra ngoài ý nghĩa của một nghi lễ tôn giáo thuần túy, lễ  
cúng rừng còn đóng vai trò xã hội trong giải quyết các xích mích giữa các  
cá nhân và hai cộng đồng cận cư. Trong buổi lễ, chủ làng thay mặt dân  
làng khấn cầu được mùa, tai qua nạn khỏi. Những xích mích giữa hai  
làng cũng được giải quyết êm đẹp qua nghi lễ này20.  
Vai trò rừng tâm linh đối với quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng: Dưới  
góc độ quản lý tài nguyên thiên nhiên, rừng tâm linh - một dạng đất công  
đặc thù ở vùng TNTS, đóng một vai trò rất quan trọng trong việc khai  
thác, bảo tồn tài nguyên nói chung và rừng nói riêng. Từ vai trò đối với  
sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng sinh sống trong và xung quanh nó, rừng  
tâm linh có chức năng bảo vệ nguồn tài nguyên từ những quy định quản  
lý, khai thác, sử dụng các nguồn lợi ở đây. Trong quan niệm của đồng  
bào, chủ nhân của khu rừng tuy vô hình nhưng tối thượng, đó là các vị  
thần linh, thế lực kiểm soát toàn bộ rừng cây, đất đai. Sự gắn kết tâm linh  
giữa rừng và con người chính là giữa con người và thần linh, do đó mọi  
sự vi phạm không phải đơn thuần giữa con người trong mối quan hệ xã  
hội mà là quan hệ tâm linh với thần thánh. Những ước chế mạnh mẽ đối  
với các hành vi xâm hại đến rừng tâm linh là cơ sở xác lập một trật tự  
quản lý, đảm bảo sự điều hòa và ổn định cho các mối tương quan tương  
sinh, hướng tới bảo vệ tài nguyên rừng.  
Hiện nay, nhiều thách thức được đặt ra đối với việc quản lý và sở hữu  
rừng tâm linh, vốn được bảo vệ nghiêm ngặt bởi yếu tố luật tục và tôn  
giáo, thì nay đã có nhiều thay đổi. Những thay đổi này đã tác động, làm  
giảm đi tính chặt chẽ và sự tuân thủ tuyệt đối của người dân, vốn trước  
đây rất tin vào thần linh, vào những điều kiêng cữ liên quan đến rừng  
thiêng. Trong các nguyên nhân, điều đáng lưu ý là quá trình “giải thiêng”  
đang diễn ra phổ biến và mạnh mẽ, phá vỡ các quy định tâm linh, dẫn đến  
12  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
niềm tin bị ảnh hưởng. Khi niềm tin bị giảm sút cộng thêm nhu cầu đời  
sống ngày càng đòi hỏi cao, đồng bào sẽ không còn ngần ngại hay do dự  
vào rừng già, rừng thiêng đốn gỗ, săn thú.  
4. Rừng tâm linh và những vấn đề đặt ra hiện nay  
Nhìn chung, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực nhưng vẫn không ngăn  
được tình trạng suy thoái rừng đang diễn ra hiện nay. Đang có quá nhiều  
đổi thay đối với loại hình đất công cũng như đối với tài nguyên rừng và  
rừng tâm linh. Các chính sách đối với rừng nói chung và rừng tâm linh  
nói riêng ở miền núi luôn gặp phải nhiều thách thức, những cản trở từ  
điều kiện sống, những khác biệt về văn hóa truyền thống, phong tục tập  
quán, những xung đột nảy sinh từ cơ chế quản lý, phân quyền, khai thác  
sử dụng.... Hình thức rừng cộng đồng theo quan niệm truyền thống, trong  
đó có rừng tâm linh, bao gồm rừng thiêng và rừng ma chưa được thừa  
nhận trong các văn bản, cũng như chính sách ban hành. Rừng giao cho  
cộng đồng cư dân thôn gặp khó khăn trong việc xác định quyền lợi, nghĩa  
vụ và trách nhiệm như trường hợp mất rừng, cháy rừng,... Sự tồn tại  
“ngoài luồng” của hình thức rừng thiêng, rừng ma, rừng cấm đã gây nên  
những va chạm, những cản trở trong việc triển khai quản lý, bảo vệ rừng  
nói chung, giữa cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương. Chính sách  
khoán rừng và đất lâm nghiệp đưa ra chưa dựa trên đặc điểm của mỗi loại  
rừng như rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất, chưa chú ý đến  
sự hiện diện của các loại hình rừng truyền thống là rừng tâm linh cộng  
đồng (rừng thiêng, rừng ma, rừng cấm,…) vốn gắn chặt với các khu rừng  
phòng hộ đầu nguồn, hay rừng nguyên sinh đặc dụng. Mặt khác, còn  
thiếu đề cao vai trò của cộng đồng trong tham gia quản lý, bảo vệ rừng,  
trên từng đơn vị, vùng lãnh thổ, tộc người.  
Rừng tâm linh truyền thống của TNTS là một tài sản chung được quản  
lý có hiệu quả bởi cộng đồng từ bao đời nay. Do đó, việc duy trì loại hình  
rừng tâm linh là rất cần thiết, ngoài việc phát huy các giá trị đời sống tâm  
linh tích cực, bảo tồn bản sắc văn hóa, còn góp phần vào bảo tồn các  
dạng rừng nguyên sinh quý giá, mà lâu nay vẫn đang loay hoay tìm kiếm  
mô hình quản lý phù hợp, hiệu quả.  
Trước hết, phải giữ nguyên loại hình rừng tâm linh truyền thống đã có  
từ lâu đời. Rừng tâm linh là những khu rừng rừng đầu nguồn, có ý nghĩa  
kinh tế, văn hóa, tôn giáo sâu sắc đối với các TNTS vùng cao, vì vậy,  
trước hết nên giữ nguyên. Đồng thời, quy hoạch lại các diện tích rừng  
Lê Anh Tuấn. Vai trò của rừng tâm linh...  
13  
phục vụ cho các mục đích khác nhau (rừng cung cấp gỗ, rừng sản xuất -  
kinh doanh thương mại, đất nương rẫy, rừng bảo vệ nguồn nước và rừng  
thiêng, rừng ma...). Thực hiện việc công nhận và chú trọng quy hoạch  
diện tích rừng bảo vệ nguồn nước, rừng thiêng, rừng ma của cộng đồng,  
trả lại cho cộng đồng những khu rừng họ đã làm chủ trong quá khứ và  
công nhận quyền sử dụng hợp pháp của họ. Mặt khác, việc giữ nguyên  
hay tôn trọng và thừa nhận hình thức rừng thiêng, rừng ma, rừng cấm,...  
tiến hành thống kê, phân loại đánh giá rừng hiện nay, làm cơ sở đề xuất  
mô hình quản lý phù hợp. Bên cạnh pháp luật, phải xem xét sự quản lý  
của cộng đồng bằng “thiêng hóa”, như là một đặc trưng quan trọng cần  
tham khảo, đảm bảo mối quan hệ biện chứng, kế thừa tích cực trong việc  
bảo tồn, phát huy các giá trị của rừng tâm linh cũng như các giá trị văn  
hóa truyền thống khác.  
Cần thực hiện mô hình và cách thức quản lý theo “đạo đức của rừng” -  
một đạo lý quản lý đất công có giá trị ở vùng TNTS. Hiện nay, trong  
quản lý rừng có ba hình thức gắn với ba phương diện là: quản lý hành  
chính của cơ quan nhà nước/nhà quản lý; quản lý của cơ quan chuyên  
môn/nhà chuyên môn; quản lý truyền thống/cộng đồng địa phương. Quản  
lý truyền thống là cách thức quản lý dựa trên tri thức bản địa, luật tục,  
theo “đạo đức của rừng”, vốn được thừa nhận và đã phát huy tốt trong xã  
hội các TNTS. “Đạo đức rừng” hay ‘văn hóa rừng” là khái niệm dùng để  
chỉ một cách thức “đối xử”/quản lý khá đặc trưng của cư dân địa phương  
đối với môi trường sống thiết thân của mình. Nó bao gồm một hệ thống  
các tư duy, quan niệm về sở hữu, cách thức ứng xử, quản lý, sự ước chế,  
các quy định về tâm linh,… phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan  
của tộc người. Đối với các TNTS ở miền núi, bảo vệ rừng - giữ rừng là  
yếu tố sống còn. Vì thế, trong quản lý nên lồng ghép các chuẩn mực “đạo  
đức rừng”, “văn hóa rừng” vào các điều luật quản lý rừng, góp phần hiện  
thực hóa mục đích tối cao của quản lý Nhà nước đối với rừng: bảo tồn và  
phát triển bền vững tài nguyên rừng. Trên cơ sở đó, đề xuất mô hình  
“đồng quản lý” đảm bảo sự phát triển bền vững: Nhà nước (luật pháp) +  
cộng đồng (luật tục) + thiêng hóa niềm tin.  
Trong xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng, phải đề cao vai trò  
luật tục truyền thống và cơ chế “thiêng hóa” trong công tác quản lý hiện  
nay. Bên cạnh nhiều văn bản pháp luật về quản lý rừng, hương ước, luật  
tục của các TNTS tồn tại một cách bền bỉ qua thời gian và cấu trúc xã  
hội, vẫn có những ảnh hưởng nhất định. Sự hình thành và tồn tại của luật  
14  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
tục bảo vệ rừng đáp ứng điều kiện vùng TNTS, do vậy phải thừa nhận nó  
như một yếu tố quan trọng trong nội dung quy ước21. Quá trình xây dựng  
quy ước phải có sự tham gia của cộng đồng, tạo sự đồng thuận cao với  
những điều khoản phù hợp với phong tục tập quán, quan niệm và nhận  
thức của người dân. Đề cao vai trò luật tục và cơ chế thiêng hóa trong  
quản lý sẽ góp phần bảo tồn các khu rừng tâm linh trong điều kiện hiện  
nay hiệu quả hơn.  
Cần thiết phục hồi, bảo tồn và phát triển rừng tâm linh trong điều kiện  
hiện nay, trước sự thay đổi, hội nhập, nhiều giá trị văn hóa truyền thống  
cũng như của tri thức bản địa đối với rừng cộng đồng nói chung và rừng  
tâm linh đang bị xói mòn. Có một thực tế là tại các rừng thiêng, rừng ma  
hiện nay, người dân đã tiến hành nhiều hoạt động sống khác nhau như  
chặt cây, trồng keo, khai thác gỗ, bắt cá, đánh mìn ở vực thiêng, thả trâu  
bò, chặt cây, chôn người chết không theo quy định của rừng ma trước  
đây,.... Lợi nhuận kinh tế cao của rừng đã làm cho nhiều người dân phá  
bỏ những rào cản của truyền thống trong việc bảo vệ rừng để chạy theo  
nhu cầu vật chất, gây nên hiện tượng rừng “chảy máu”. Cùng với nó,  
những mâu thuẫn, thách thức về niềm tin đối với rừng cộng đồng, rừng  
tâm linh diễn ra phổ biến ở mọi vùng TNTS, đang phá vỡ lớp áo giáp bảo  
vệ của các khu rừng. Chính vì vậy, nghiên cứu này chỉ ra rằng, một trong  
những phương cách bảo vệ rừng, giữ rừng thiết thực và hiệu quả, nhất  
thiết phải khơi gợi lại những giá trị truyền thống, kinh nghiệm, tri thức  
bản địa của người dân trong bảo vệ rừng, niềm tin vào rừng tâm linh. Tìm  
hiểu vai trò của rừng cộng đồng, rừng tâm linh, đưa ra bài học kinh  
nghiệm về quản lý rừng, góp phần duy trì và phát triển bền vững nguồn  
tài nguyên rừng hôm nay và mai sau./.  
CHÚ THÍCH:  
1
2
Sigmund Freud (2001), Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo (Vật tổ và cấm kỵ),  
Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội: 65 - 75.  
Dương Văn Lượng (2008), “Một số vấn đề về văn hóa tâm linh ở Việt Nam hiện  
nay”, Cộng sản, số 4/148.  
3
4
5
Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb. Hà Nội: 8 - 12, 27 - 29.  
Sigmund Freud (2001), sđd: 9 - 10.  
Nguyễn Hữu Thông, Lê Anh Tuấn, Trần Đình Hằng, Nguyễn Phước Bảo Đàn,  
Tôn Nữ Khánh Trang, Trần Đức Sáng, Trần Thanh Hoàng (2005), Văn hóa làng  
miền núi Trung Bộ: Giá trị truyền thống và những bước chuyển lịch sử, Nxb.  
Thuận Hóa, Huế: 309 - 310.  
Lê Anh Tuấn. Vai trò của rừng tâm linh...  
15  
6
7
8
Phạm Ngọc Dương (2007), Bí mật rừng cấm  
Nguyên Ngọc (2005), “Rừng trong văn hóa Tây Nguyên”, in trong Tản mạn nhớ  
& quên, Nxb. Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh: 61 - 64.  
Người Raglai luôn dạy bảo con cháu không bao giờ phá rừng làm rẫy, nếu phá  
rừng là vi phạm điều cấm kị. Luật tục Raglai đã quy định: “… Không được làm  
nhà ở; Không được phát nương làm rẫy bừa bãi. Người xưa tin rằng: Đỉnh núi,  
đỉnh đồi, rừng đầu nguồn, rừng còn nguyên. Là nơi trú ngụ của thần linh. Chặt  
phát rừng là xúc phạm đến thần linh. Sẽ bị các thần gây ra sạt núi, lũ lụt…”  
(Phan Đăng Nhật, Tô Đông Hải, Sakaya, Chamaliaq Riya Tỉenq, Trần Vũ  
(2003), Luật tục Chăm và Luật tục Ra-glai, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội: 754).  
ở
Pờ Ly Ngài,  
9
Rừng thiêng K’Mrơng Prông A (xã Ea Tu, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) hiện nay  
vẫn giữ được nguyên sơ, gắn với câu chuyện tình giữa chàng Y Đhin và nàng  
H’Lăm được lưu truyền qua nhiều thế hệ cùng với lời nguyền khó lý giải: Nếu ai  
vào rừng vô tình nhắc đúng tên Y Đhin và H’Lăm sẽ bị thần rừng giam giữ đi  
mãi không ra; Những ai có ý đồ đen tối, trục lợi rừng đều phải đền tội (Chặt cây  
dựng nhà, lập tức nhà sập hoặc bị cháy trụi; săn bắt thú rừng sẽ gặp tai nạn hay  
phát bệnh điên khùng vô phương cứu chữa…).  
10 Ở người Katu/Cơtu vùng Bắc Trường Sơn, theo kinh nghiệm, khi đi rừng gặp  
cây cau rừng, cây chuối rừng thì quay lui vì những cây này được xem là cửa ngõ,  
bắt đầu của khu rừng thiêng.  
11 Ở người Thái có loại “rừng ma”, ở người Mông, người Tày có loại “rừng cấm”,  
về hình thức rất giống với “rừng cãi” của người La Chí: đặt ở một khu rừng đẹp,  
nơi đắc địa và thường là rừng đầu nguồn hay rừng nguyên sinh, rộng lớn; có luật  
tục quy ước chung, người dân không được làm kinh động đến khu rừng; phải tôn  
trọng, bảo vệ một cách nguyên sơ, mang lại cái uy linh, huyền ảo cho rừng.  
12 Ở người La Chí có hình thức gọi là rừng cãi, nơi “chôn” những điều uất ức,  
phiền muộn, bực bội, mất đoàn kết hay hận thù giữa các thành viên trong làng  
với nhau. Rừng cãi có vai trò rất quan trọng đối với đời sống cộng đồng. Vì vậy,  
việc đầu tiên khi lập bản lập làng là tìm và thiết lập khu rừng này. “Trong đoàn  
người “đi tìm rừng cãi” đó, không thể thiếu mặt một thầy cúng có uy tín trong  
vùng. Họ đi, hướng về phía Mặt Trời mọc, để chọn rừng. Khu rừng được chọn  
phải thật nguyên sơ, địa thế phải được quy tụ như thế phong thủy mà người La  
Chí thường xem, thường tính.... Những khu rừng được chọn làm “rừng cãi” phải  
có cửa rừng mở về hướng nam, hướng làm cho rừng mát mẻ. Rồi rừng phải rậm  
rạp, nguyên sơ, làm cho thâm nghiêm, thế đất không quá cao cũng không quá  
thấp, đủ để có thể quan sát được xung quanh, cách xa khu đất định lập làng lập  
xóm, đủ để những tiếng chặt cây, đẽo cột trong bản không vọng tới rừng...”  
(Nguyễn Quang, Thiếu Gia (2010), Rừng cãi (www.thanhnien.com.vn)).  
13 Ở vùng núi phía Tây Bắc, “với dân tộc Thái Việt Nam, rừng - đặc biệt là rừng  
thiêng có một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống và tâm linh. Những cánh  
rừng ấy không chỉ cung cấp nguồn nước mát cho các buôn làng mà còn ban tặng  
cho người Thái bao nhiêu sản vật quý. Bên cạnh đó, rừng còn là nơi cúng tế  
“Đông Xên”, nơi chôn cất những người quá cố “Đông Pá Heo”, và là nơi thờ  
cúng. “Bản mường dân tộc Thái, đầu mường có rừng hồn chiềng gọi là cửa xen,  
cuối mường có rừng hồn chiềng gọi là cửa pọng như nơi trú ngụ của linh hồn  
16  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
bản mường, bên cạnh mường có rừng là nghĩa địa của mường gọi là chiềng kẻo,  
hình ảnh đó như một biểu tượng ăn sâu vào tiềm thức mỗi người. Vài năm một  
lần, bản mường tổ chức cúng rừng Xên đông. Lễ cúng diễn ra trang trọng, linh  
thiêng, thầy cúng đại diện cho cộng đồng cầu khẩn các đấng siêu nhiên ban cho  
mưa thuận gió hòa, mùa vụ tươi tốt, cuộc sống ấm no hạnh phúc…” (Trần Văn  
Hạc (2010), Vài nét về rừng thiêng của dân tộc Thái (www.thiennhien.net)).  
14 Nguyên Ngọc (2005), sđd: 61 - 64.  
15 Lê Anh Tuấn (2001), “Lễ hội đâm trâu trong đời sống các dân tộc thiểu số ở  
Trường Sơn - Tây Nguyên”, Thông tin Khoa học, Phân viện Nghiên cứu Văn hóa  
Nghệ thuật tại Thành phố Huế, số tháng 9.  
16 Tương tự như “biển động” ở các cộng đồng ngư dân ven biển, “rừng động” là  
quan niệm có tính phổ biến trong nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam chỉ những  
hiện tượng cây tự nhiên đổ, động vật nổi loạn, hoảng chạy tứ tung, chết chóc,  
phá phách,...  
17 Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông (2001), Luật tục  
của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, Nxb.  
Thuận Hóa, Huế: 301 - 304.  
18 Dẫn theo: Lê Thị Diên (2002), “Rừng thiêng - một tập quán bảo tồn tài nguyên  
rừng cổ truyền của người Dao tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Thông tin Khoa  
học Lâm nghiệp, số 2: 19 - 22.  
19 Lê Thị Diên (2002), tlđd, tr. 19 - 22.  
20 Lễ cúng rừng ở người Katu gọi là “Nghê bhuôi crung”, người Bru- Vân Kiều là  
lễ “Chéc Vát”, người Mạ là “Nhu Yang Bri”…  
21 Cần chú ý hơn đến khía cạnh chế tài khá đặc biệt của luật tục: không chú trọng  
nhiều đến việc trừng phạt tội ác, truy cứu trách nhiệm, mà hơn thế nữa nó quan  
tâm nhiều đến việc ngăn ngừa tội ác, khuyên răn, giáo dục đối với các hành vi vi  
phạm. Nhờ vậy, luật tục đã đi sâu vào đời sống người dân một cách hiệu quả.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bảo Huy (2005), Xây dựng mô hình quản lý rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng  
dân tộc thiểu số Jrai và Bahnar tỉnh Gia Lai, Sở Khoa học và Công nghệ -  
UBND tỉnh Gia Lai.  
2. Cục Lâm nghiệp và Tổ chức IUCN Việt Nam (2009), “Quản lý rừng cộng đồng  
ở Việt Nam: Chính sách và Thực tiễn”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia Quản lý rừng  
cộng đồng ở Việt Nam, Hà Nội, ngày 5/6/2009.  
3. Dam Bo (J. Dournes) (2002), Rừng, đàn bà, điên loạn, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.  
4. Dương Văn Lượng (2008), “Một số vấn đề về văn hóa tâm linh ở Việt Nam hiện  
nay”, Cộng sản, số 4/148.  
5. Hoàng Thế Khang (2000), Tình hình sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại vùng  
đệm Phong Điền, Huế, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Bộ Nông  
nghiệp và PTNT.  
6. Hoàng Thị Sen (2008), “Thực trạng quản lý rừng và ảnh hưởng của nó đến sinh  
kế của người dân miền núi Thừa Thiên - Huế”, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học lần I,  
Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung, trường Đại học Nông Lâm Huế (12-  
13/4/2008).  
Lê Anh Tuấn. Vai trò của rừng tâm linh...  
17  
7. Lê Anh Tuấn (2001), “Tri thức bản địa của đồng bào Tà Ôi và vấn đề khai thác  
tài nguyên thiên nhiên ở vùng núi Thừa Thiên Huế”, Huế Xưa & Nay.  
8. Lê Anh Tuấn (2002), “Đôi nét về luật tục truyền thống của người Cơ Tu”, Dân  
tộc học, số 02.  
9. Lê Quang Minh (1999), “Kiến thức bản địa của một số dân tộc thiểu số trong  
việc quản lý sử dụng đất ở miền núi A Lưới, Huế”, Tài liệu tại Hội thảo Quốc gia  
Nghiên cứu về Phát triển Bền vững ở các vùng miền núi ở Việt Nam, Nxb. Nông  
nghiệp, Hà Nội.  
10. Lê Thị Diên (2002), “Rừng thiêng - Một tập quán bảo tồn tài nguyên rừng cổ  
truyền của người Dao tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Thông tin Khoa học Lâm  
nghiệp, số 2.  
11. Nguyễn Bá Ngãi (2009), “Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam: Thực trạng, vấn  
đề và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia Quản lý rừng cộng đồng ở Việt  
Nam: Chính Sách và Thực Tiễn, Hà Nội, ngày 5/6/2009.  
12. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb. Hà Nội.  
13. Nguyễn Hữu Thông, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Phước Bảo Đàn, Trần Đức Sáng  
(2004), Katu kẻ sống đầu ngọn nước, Nxb. Thuận Hóa, Huế.  
14. Nguyễn Hữu Thông, Lê Anh Tuấn, Trần Đình Hằng, Nguyễn Phước Bảo Đàn,  
Tôn Nữ Khánh Trang, Trần Đức Sáng, Trần Thanh Hoàng (2005), Văn hóa làng  
miền núi Trung Bộ: giá trị truyền thống và những bước chuyển lịch sử, Nxb.  
Thuận Hóa, Huế.  
15. Nguyên Ngọc (2005), “Rừng trong văn hóa Tây Nguyên”, in trong Tản mạn nhớ  
& quên, Nxb. Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh.  
16. Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông (2001), Luật tục  
của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị - Thừa Thiên - Huế, Nxb.  
Thuận Hóa, Huế.  
17. Nguyễn Xuân Hồng (2002), Kinh nghiệm quản lý hệ sinh thái nhân văn trong  
vùng người Tà Ôi, CơTu, Bru-Vân Kiều Thừa Thiên - Huế, Nxb. Văn hóa dân  
tộc, Hà Nội.  
18. Nguyễn Xuân Hồng và Nhóm nghiên cứu (2009), “Sở hữu của làng đối với rừng  
cộng đồng truyền thống trong các dân tộc thiểu số ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa  
Thiên Huế: Rừng tâm linh”, Kỷ yếu Hội thảo đánh giá dự án JICA: Nâng cao  
năng lực thích ứng và sinh kế bền vững của cộng đồng nhằm đối phó với thảm  
họa ở miền Trung Việt Nam, Huế, ngày 28/4/2009.  
19. Nguyễn Xuân Hồng, Lê Anh Tuấn (2013), “Vai trò của rừng tâm linh, rừng cộng  
đồng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Văn phòng Quốc hội - Trung tâm  
Thông tin, Thư viện & Nghiên cứu khoa học, Hà Nội.  
20. Sigmund Freud (2001), Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo (Vật tổ và cấm kỵ),  
Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.  
21. Tổng cục lâm nghiệp - Viện điều tra quy hoạch rừng - Trust Fund for Forest  
(2013), Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam: thực trạng và định hướng chính  
sách, Hội thảo Quốc tế, Huế, ngày 3-5/4/2013.  
22. Vương Xuân Tình (2001), “Tái lập quản lý cộng đồng về đất đai ở các buôn làng  
Tây Nguyên”, in trong Kỷ yếu Hội thảo Luật tục ‑ Hương ước và những vấn đề  
phát triển kinh tế xã hội ở buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, Pleiku.  
18  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2016  
Abstract  
THE ROLE OF THE SPIRITUAL FORESTS IN LIFE OF  
ETHNIC MINORITIES IN THE VIETNAM’S CENTRAL  
MOUNTAINOUS AREA  
For ethnic minorities residing in the Vietnam’s central mountainous  
area, the meaning of forest does not simply refer to materials,  
environment, and resources but also the spiritual culture. The spiritual  
forest has been located in the consciousness and life of the ethnic  
minorities for a long time. It is based on the concepts of the universe,  
animism and represented in the forms of forest of the sacred and forest of  
ghosts. Religious beliefs formed spiritual forests in Vietnam and in other  
countries in the world and this helped preserving truly primitive forests.  
Moreover, spiritual forests have played an important role in the material,  
spiritual, and social lives of the ethnic minorities. The role of the spiritual  
forests in the social life can be seen in the activities of maintaining and  
creating the social space where people practise and hand down customs,  
indigenous knowledge, taboos associated with forest trees, wild animals,  
rituals with offerings for the god of forest, etc. Therefore, the spiritual  
forest is a valuable asset of the ethnic minority communities in the  
Vietnam’s central mountainous area.  
Keywords: Spiritual, forest, sacred, ethnic minorities, customary law,  
traditional management, central mountainous area, Vietnam.  
pdf 16 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 14860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của rừng tâm linh trong đời sống của các tộc người thiểu số ở miền núi Trung bộ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_rung_tam_linh_trong_doi_song_cua_cac_toc_nguoi_t.pdf