Chế độ đãi ngộ đối với võ quan trong quân đội của vương triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2019-0014  
Social Sciences, 2019, Volume 64, Issue 2, pp. 120-129  
CHẾ ÐỘ ÐÃI NGỘ ÐỐI VỚI VÕ QUAN TRONG QUÂN ÐỘI  
CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1884  
Vũ Thị Nga  
Khoa Di sản Văn hóa, Trường Ðại học Văn hóa Hà Nội  
Tóm tắt. Chế độ đãi ngộ dành cho võ quan là một trong những chính sách quan trọng  
trong xây dựng và củng cố lực lượng quân đội dưới triều Nguyễn. Võ quan dưới triều  
Nguyễn không chỉ được hưởng lương bổng như những ngạch quan lại khác trong  
triều đình mà còn được hưởng những ưu đãi đặc biệt của nhà nước do đặc thù công  
việc, như chế độ cho những người trận vong, trận thương cho quân đội khi tham gia  
chiến trận. Những chính sách này không chỉ phản ánh đời sống, thu nhập của tầng  
lớp võ quan mà còn phần nào cho thấy tình hình kinh tế cũng như chính trị của  
vương triều Nguyễn.  
Từ khóa: Lương bổng, quân đội, triều Nguyễn, võ quan.  
1. Mở đầu  
Võ quan là bộ phận quan trọng trong lực lượng quân đội của một nhà nước quân chủ  
nói chung, triều Nguyễn nói riêng. Những chính sách của nhà nước đối với võ quan quyết  
định đến đời sống kinh tế cũng như tinh thần của họ. Do vậy, đây là một trong những yếu  
tố quyết định đến sự mạnh yếu của quân đội, thể hiện vai trò của nhà nước trong những  
quyết sách liên quan trực tiếp đến sự vững mạnh của nền chính trị đương thời. Dưới  
vương triều Nguyễn, đặc biệt là thời vua Tự Ðức, nước Ðại Nam đang bị thực dân Pháp  
xâm lược. Những chính sách đãi ngộ của nhà nước đối với các võ quan thể hiện được sự  
coi trọng của nhà nước đối với quân đội, phản ánh vai trò của bộ phận này đối với sự ổn  
định của tình hình chính trị - xã hội trong nước cũng như huy động sức mạnh của quân  
đội trong kháng chiến chống ngoại xâm.  
Trước đây, do cách tiếp cận về nhà Nguyễn còn có tính định kiến nên việc nghiên  
cứu về quân đội triều Nguyễn nói chung cũng như chế độ bổng lộc của nhà nước dành  
cho quân đội còn hạn chế. Hiện nay, việc nhìn nhận và đánh giá về vương triều này ngày  
càng khách quan và cởi mở hơn, do đó, vấn đề chế độ đãi ngộ đối với võ quan của vương  
triều Nguyễn ngày càng được các nhà sử học quan tâm nghiên cứu. Công trình đầu tiên đề  
cập đến vấn đề này là bài viết của tác giả Nguyễn Minh Tường (2002) “Chính sách đối  
với chiến sĩ trận vong, trận thương dưới triều Nguyễn” trong sách Những vấn đề lịch sử  
về triều đại cuối cùng ở Việt Nam (Trung tâm Bảo tồn cố đô Huế và Tạp chí Xưa & Nay,  
Ngày nhận bài: 19/12/2018. Ngày sửa bài: 19/1/2019. Ngày nhận đăng: 10/2/2019.  
Tác giả liên hệ: Vũ Thị Nga. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
120  
Chế độ đãi ngộ đối với võ quan trong quân đội của vương triều Nguyễn giai đoạn…  
2002 [1; tr.201-203]. Nội dung của bài nghiên cứu đề cập đến những chính sách của triều  
Nguyễn đối với thương binh, tử sĩ. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở việc nêu chính  
sách đối với thương, bệnh binh nói chung, chưa đề cập cụ thể những chính sách đối với  
võ quan.  
Trong vài năm trở lại đây, những công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách  
của nhà Nguyễn đối với võ quan ngày càng nhiều.  
Tác phẩm “Định chế hành chính và quân sự triều Nguyễn (1802- 1885)” [2] là công  
trình nghiên cứu về những quy định của pháp luật triều Nguyễn đối với hành chính và  
quân đội do Huỳnh Công Bá chủ biên, Nhà xuất bản Thuận Hóa phát hành năm 2014.  
Nội dung liên quan đến chính sách đối với võ quan được đề cập trong phần III, IV của  
chương II (Định chế về điều hành quân đội) với những nội dung: định chế về quyền lợi  
quân đội (gồm các định chế về: lương bổng; điều dưỡng bệnh binh; hậu tuất: trận thương,  
trận vong, bệnh vong, nạn gió; hưu dưỡng; tập ấm ngạch võ), định chế về thưởng phạt.  
Đây là cuốn sách nghiên cứu tổng hợp về tổ chức và lương, thưởng, phạt của quan và lính  
trong quân đội triều Nguyễn. Tuy vậy, công trình nghiên cứu này chủ yếu mới dừng lại ở  
việc nêu ra những định chế pháp luật của nhà nước áp dụng trong quân đội.  
Trong bài viết “Thủy quân nhà Nguyễn thời vua Minh Mạng” đăng trên Tạp chí Khoa  
học xã hội Việt Nam, số 10 (107)/2016, các tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn  
Phương Nga (2016) [3, tr46-56] cũng đã dành một phần nội dung đề cập đến chính sách  
đãi ngộ và chế độ lương bổng của thủy quân dưới triều Nguyễn.  
Liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu, tác giả Hà Duy Biển (2015, 2016) đã có  
hai bài viết liên quan in trên Tạp chí Lịch sử quân sự gồm “Định mức lương bổng của  
quan lại Bộ Binh dưới triều Minh Mạng (1820-1840)”, số 278 (2/2015) [4; tr.51-56] và  
“Cách thức tính toán và chi cấp lương bổng đối với quan lại bộ Binh triều Minh Mạng  
(1820 - 1840)”, số 291(3/2016) [5, tr46-53]. Đây là hai bài viết đã đề cập khá kĩ về chính  
sách tiền lương cho quan lại bộ Binh nói chung nhưng nội dung khảo cứu chỉ mới dừng  
lại ở cầm quyền của vua Minh Mạng.  
Nhìn chung, đã có một số bài viết liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lương bổng  
cho binh lính trong quân đội triều Nguyễn được công bố song nội dung khảo cứu chưa tập  
trung, hệ thống. Bài viết này nhằm làm rõ những chính sách của các vua triều Nguyễn  
trong việc thực thi các chính sách đảm bảo lương, bổng và những đặc ân cho không chỉ  
đối với võ quan đương nhiệm mà còn đối với võ quan đã về hưu.  
2.  
Nội dung nghiên cứu  
2.1. Chế độ đãi ngộ với các võ quan đương nhiệm  
2.1.1. Chi cấp thường xuyên  
a. Chi cấp lương bổng  
Ðối với quan lại nói chung, võ quan nói riêng, lương là nguồn thu nhập chính, chính  
vì vậy, chế độ tiền lương của quan lại (trong đó có võ quan) luôn được các vua triều  
Nguyễn quan tâm. Ngay sau khi lên ngôi, năm Gia Long năm thứ 2 (1803), triều Nguyễn  
đã ban hành chế độ lương bổng cho riêng võ quan ở Bắc Thành. Ðến năm Gia Long thứ  
11 (1812), lương của võ quan trên cả nước mới được thống nhất ban hành nằm trong lệ  
chi cấp lương bổng của quan lại nói chung. Quan chế triều Nguyễn phân chia quan lại  
121  
Vũ Thị Nga  
thành 9 phẩm, cao nhất là Nhất phẩm, thấp nhất là Cửu phẩm, mỗi phẩm lại chia thành 2  
trật là Chánh và Tòng, tổng cộng thành 18 trật. Theo quy định của chế độ lương bổng năm  
1812, chế độ lương bổng của quan viên (trong đó có võ quan) được chi trả bằng tiền và  
bạc đĩnh theo thời hạn 6 tháng, 3 tháng và 1 tháng một lần tùy theo phẩm trật. Về sau, do  
nhận thấy người phẩm cao được hưởng lương quá nhiều, trong khi người phẩm thấp  
lương lại quá ít nên năm Minh Mạng thứ 20 (1839), triều đình quy định số tiền gạo lương  
hàng năm của các võ quan từ Chánh nhất phẩm đến Chánh nhị phẩm đều được điều chỉnh  
giảm, từ Tòng nhị phẩm trở xuống, số tiền theo thứ bậc tăng lên còn số gạo giảm. Như  
vậy, với những điều chỉnh này thì số gạo cấp cho các võ quan Tòng nhị phẩm đã giảm,  
còn số gạo cấp cho các phẩm trật khác vẫn để như cũ.  
Do tình hình ngân khố quốc gia có nhiều biến động nên đến năm Tự Ðức thứ 4  
(1861), chế độ tiền lương cho các võ quan từ Tòng tam phẩm trở lên giảm so với triều  
Minh Mạng. Cụ thể như sau:  
Bảng thống kê lương bổng của võ quan triều Nguyễn  
qua các triều Gia Long, Minh Mạng Tự Đức  
TT  
Phẩm trật  
Lương  
Gạo (Đơn vị: phương)  
Tiền (Đơn vị: quan)  
Gia  
Minh  
Tự  
Đức  
Gia  
Minh  
Mạng  
Tự  
Đức  
Long Mạng  
Long  
600  
300  
360  
156  
120  
90  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Chánh nhất phẩm  
Tòng nhất phẩm  
Chánh nhị phẩm  
Tòng nhị phẩm  
Chánh tam phẩm  
Tòng tam phẩm  
Chánh tứ phẩm  
Tòng tứ phẩm  
600  
360  
300  
156  
120  
90  
400  
300  
250  
180  
150  
120  
60  
240  
250  
210  
150  
130  
105  
60  
300  
250  
200  
150  
120  
90  
250  
210  
170  
130  
105  
80  
60  
80  
60  
60  
50  
60  
60  
50  
50  
50  
Chánh ngũ phẩm:  
35  
40  
40  
31  
35  
35  
10 Tòng ngũ phẩm  
11 Chánh lục phẩm  
12 Tòng lục phẩm  
30  
35  
35  
30  
30  
30  
25  
30  
30  
25  
25  
25  
22  
22  
22  
25  
22  
22  
13 Chánh, tòng thất phẩm  
20  
22  
22  
20  
20  
20  
14 Chánh và tòng bát  
phẩm  
18  
20  
20  
18  
18  
18  
15 Chánh, tòng cửu phẩm  
16  
18  
18  
16  
18  
18  
Nguồn [6; tr.138-141]  
Như vậy, có thế thấy, tiền lương của võ quan nằm trong chế độ tiền lương chung của  
quan lại từ thời Gia Long đến Minh Mạng và Tự Ðức luôn có sự điều chỉnh theo xu  
122  
Chế độ đãi ngộ đối với võ quan trong quân đội của vương triều Nguyễn giai đoạn…  
hướng giảm bớt. Ðiều này phản ánh những khó khăn của nền kinh tế cũng như gánh nặng  
chi dùng của nhà nước, nhất là trong giai đoạn chống Pháp xâm lược.  
b. Chi cấp cho xuân phục  
Cùng với lương bổng, hàng năm võ quan triều Nguyễn còn được nhà nước chi cấp  
một khoản tiền mua xuân phục. Năm Gia Long năm thứ 17 (1818), triều Nguyễn bắt đầu  
thực hiện lệ chi cấp này. Số tiền chi cấp cho xuân phục của võ quan cũng dựa trên phẩm  
trật cao thấp. Cao nhất là Chánh nhất phẩm mỗi năm được 70 quan, thấp nhất là Chánh và  
Tòng cửu phẩm mỗi năm được 4 quan. Ðến thời trị vì của vua Minh Mạng, năm 1831  
triều đình lại cho sửa đổi định lại lệ cấp áo mặc về mùa xuân cho quan viên văn võ. Vua  
Minh Mạng quy định: “Văn võ từ chánh ngũ phẩm và thự tứ phẩm trở lên thì cấp cho áo  
hàng màu, nếu có chức tam phẩm trở lên mà bị giáng cấp xuống dưới chánh ngũ phẩm thì  
cũng chuẩn cho chiếu theo cấp giáng xuống ấy mà cấp cho áo màu đối với phẩm cấp  
mình, còn ngoài ra đều chuẩn phẩm trật mà cấp bằng tiền” [7; tr.161].  
2.1.2. Chế độ ưu đãi đối với những võ quan đi làm nhiệm vụ  
a. Trợ cấp cho võ quan đi đánh giặc bị trận thương, trận vong và tai nạn  
Dưới thời vua Minh Mạng, năm 1833, triều đình nhà Nguyễn đã đặt ra định lệ ưu tiên  
chi cấp cho quan lại (cả văn và võ quan) khi đi đánh giặc. Theo đó, võ quan sẽ được cấp  
trước tiền lương bổng theo số tiền nhà nước quy định, nếu đến kì lĩnh tiền lương của võ  
quan vẫn còn thừa thì sẽ được thân nhân ở nhà lĩnh hoặc được truy lĩnh sau.  
Ðối với các võ quan đi đánh giặc, ngoài tiền lương bổng họ còn được cấp phát thêm  
tiền và gạo. Ðịnh lệ này bắt đầu được thực hiện vào năm Minh Mạng thứ 15 (1834).  
Ngoài ra, võ quan còn được ban cấp thêm quần áo ấm vào mùa đông cùng với sâm quế,  
thuốc viên để phòng khi ốm đau.  
Dưới thời Nguyễn, chế độ ưu đãi cho võ quan bị trận thương, trận vong được đặc biệt  
quan tâm, nhất là trong thời gian trị vì của vua Tự Ðức.  
Ðối với các võ quan bị tai nạn gió bão khi tham gia công sai sẽ được nhà nước cấp  
cho một số tiền nhất định. Theo định lệ được thực hiện từ năm Gia Long năm thứ 14  
(1815) thì tất cả các võ quan bị gặp nạn gió bão “không kể còn mất đều được cấp tiền: cai  
đội được cấp 30 quan, phó đội 20 quan, đội trưởng 15 quan” [8; tr.912].  
Ðối với các quan lại bị trận vong, trận thương khi thực hiện nhiệm vụ, triều Nguyễn  
trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn về tài chính nhưng vẫn cố gắng duy trì chính sách trợ  
cấp tài chính cho những đối tượng này.  
Dưới thời Tự Ðức, triều đình không chỉ phải đối mặt với các cuộc nổi dậy của nông  
dân mà còn phải chống lại sự xâm lược của thực dân phương Tây xâm lược. Ðể khuyến  
khích và động viên tinh thần quân sĩ, vua Tự Ðức đã ban hành chế độ ban cấp cho các võ  
quan tham gia chiến trận bị thương.  
Năm Tự Ðức thứ 12 (1859), triều đình thực hiện ban cấp cho các quan võ đi đánh  
trận bị thương, trong đó quan viên bị trọng thương được cấp 10 quan, quan viên bị thương  
nhẹ cấp 6 quan tiền. Một năm sau đó (1860), triều đình lại có quy định ban cấp cho các võ  
quan đi đánh dẹp những cuộc nổi dậy của dân tộc thiểu số. Theo đó, võ quan bị trọng  
thương thì được cấp 6 quan, suất đội 4 quan; bị thương nhẹ, quan viên được cấp 4 quan,  
suất đội cấp 3 quan.  
123  
Vũ Thị Nga  
Năm Tự Ðức thứ 19 (1866), triều đình có quy định cụ thể hơn về chế độ đãi ngộ đối  
với võ quan cầm quân đi đánh giặc Tây dương (tức quân Pháp). Quy định nêu rõ, nếu võ  
quan bị trọng thương là Chánh, Phó Đề đốc thì được cấp 20 quan tiền; Chánh, Phó Lãnh  
binh thì được 18 quan; Đốc binh được 16 quan; Suất đội được 12 quan; Đội trưởng được  
10 quan. Trong trường hợp chỉ bị thương nhẹ thì Chánh, Phó Đề đốc được cấp 18 quan;  
Chánh, Phó Lãnh binh được cấp 16 quan; Đốc binh được 14 quan; quan viên được 12  
quan; Suất đội được 10 quan và Đội trưởng được 8 quan.  
Trong trường hợp các võ quan bị tử trận, triều đình nhà Nguyễn cũng đã có quy định  
cụ thể về truy cấp tước vị, tập ấm cùng với những biện pháp hỗ trợ tài chính về tiền tuất.  
Năm Tự Ðức thứ 11 (1858), lệ tập ấm của triều đình quy định, trường hợp võ quan bị  
chết khi tham gia chiến trận thì ngoài một người con (em, cháu) của họ được hưởng lệ tập  
ấm thì cha mẹ của võ quan bị trận vong cũng được nhà nước cấp dưỡng.  
Vào các năm Tự Ðức thứ 12 (1859) và Tự Ðức thứ 15 (1862) sau đó, triều đình lại  
đổi lệ tập ấm thành lệ cấp tuất gấp đôi, nhưng không được ấm thụ và miễn đi lính. Võ  
quan từ Tam phẩm trở lên, nếu phải đi đánh giặc, không may trận vong hoặc lâm bệnh  
chết tùy theo phẩm hàm ngoài tiền được truy cấp, mỗi người còn được cấp một bộ mũ  
áo để thờ. Ðặc biệt đến năm Tự Ðức thứ 18 (1865), triều đình ban hành chế độ ân tuất  
cụ thể cho võ quan bị trận vong, đối tượng áp dụng từ Chánh tam phẩm trở lên (không  
kể tại chức hay hưu trí, chết bệnh hoặc chết trận) đều được cấp áo chầu triều cùng với  
một số tiền hỗ trợ nhất định tùy theo phẩm trật cao thấp. Theo đó, cao nhất là quan  
Chánh nhất phẩm được 800 quan, thấp nhất là quan Tòng cửu phẩm, thuộc nhiêu được  
10 quan. Năm Tự Ðức thứ 29 (1876), triều đình tiếp tục ra định lệ tăng tiền tuất cho võ  
quan trận vong, theo đó tiền tuất của các phẩm trật đều được tăng lên, ví dụ như chức  
Chánh Nhất phẩm được tăng từ 800 quan lên 900 quan; chức Tòng cửu phẩm được tăng  
10 quan lên 15 quan.  
Ðối với võ quan đương nhiệm bị chết, triều Nguyễn còn ban hành quy định về chế độ  
tiền tuất. Năm Gia Long thứ 5 (1806), triều đình quy định: “Chánh nhất phẩm tiền tuất  
400 quan, tòng nhất phẩm 300 quan, chánh nhị phẩm 200 quan, tòng nhị phẩm 100 quan,  
chánh tam phẩm 70 quan, tòng tam phẩm 40 quan, chánh tòng tứ phẩm 30 quan, chánh  
tòng ngũ phẩm 25 quan, chánh tòng lục phẩm 20 quan, chánh tòng thất phẩm 15 quan,  
chánh tòng bát phẩm 10 quan, chánh tòng cửu phẩm 5 quan” [8; tr.676-677]. Ðến năm  
Gia Long thứ 9 (1810), nhà Nguyễn tiếp tục thực hiện đổi định lệ tiền ân tuất cho các  
quan viên văn võ, theo đó, võ quan từ Tòng tứ phẩm trở xuống, tiền cấp tuất sẽ giảm đi  
so với trước. Cụ thể: “Tòng tứ phẩm 28 quan, ngũ phẩm 25 quan, tòng ngũ phẩm 23  
quan, lục phẩm 20 quan, tòng lục phẩm 18 quan, thất phẩm 15 quan, tòng thất phẩm 13  
quan, bát phẩm 10 quan, tòng bát phẩm 8 quan, cửu phẩm 5 quan, tòng cửu phẩm 4  
quan” [8; tr.789].  
b. Khen thưởng  
Ngoài chế độ lương được nhà nước quy định, và những khoản chi dùng thường xuyên  
được nhận, võ quan còn được nhận một khoản tiền không nhỏ đó là tiền thưởng. Dưới  
triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời vua Tự Ðức, nhà nước ban hành nhiều quy định về việc  
khen thưởng cho võ quan có thành tích và lập công trong chiến đấu.  
124  
Chế độ đãi ngộ đối với võ quan trong quân đội của vương triều Nguyễn giai đoạn…  
Hàng năm, quan lại triều Nguyễn còn được nhận một khoản tiền bổng lộc của vua  
ban được gọi là ân bổng. Dưới thời Gia Long và Minh Mạng, việc quy định mức bổng lộc  
của quan lại không được ghi cụ thể. Ðến năm Tự Ðức thứ 8 (1855), sách Ðại Nam thực  
lục cho biết, nhà vua thực hiện tăng ân bổng cho quan ở kinh thành. Mỗi năm tăng cho  
Chánh nhất phẩm 100 quan, Tòng nhất phẩm 90 quan, Chánh nhị phẩm 80 quan, Tòng nhị  
phẩm 70 quan, Chánh tam phẩm 60 quan, Tòng tam phẩm 50 quan, Chánh tứ phẩm 40  
quan, Tòng tứ phẩm 35 quan, Chánh ngũ phẩm 30 quan, Tòng ngũ phẩm 25 quan, Chánh  
lục phẩm 20 quan, Tòng lục phẩm 18 quan, Chánh tòng thất phẩm 16 quan, Chánh tòng  
bát phẩm 14 quan, Chánh tòng cửu phẩm 12 quan. Năm Tự Ðức thứ 14 (1861), nhà vua  
cho rằng do nhà nước tiêu dùng vào việc quân quán tốn kém nên tạm đình tiền ân bổng  
quan vãn, võ từ ngũ phẩm trở lên. Riêng ở kinh thành thì ân bổng của võ quan hàm chánh  
lục phẩm trở xuống vân được ban cấp như lệ cũ.  
Ngoài bổng lộc quy định, các vua triều Nguyễn còn ban hành chế độ thưởng cho các  
võ quan có thành tích trong luyện tập và chiến đấu. Từ năm Gia Long thứ 13 (1814), nhà  
Nguyễn đã ban hành chế độ thưởng thi bắn cho các quan. Người xuất sắc nhất (bắn 3 phát  
trúng đích) thì được thưởng một cái áo kép vải, một quần trừu nam và 20 quan tiền; người  
bắn 2 phát trúng đích và 1 phát vào khuyên tròn thì được thưởng 1 cái áo kép vải, một  
quần sại nam và 15 quan tiền; người bắn 1 phát trúng đích 2 phát trúng vòng tròn thì được  
thưởng 1 cái áo kép vải 1 quần sại và 10 quan tiền; người bắn 3 phát trúng vòng tròn được  
thưởng 1 áo kép vải, một quần sại và 5 quan tiền; người bắn 2 phát trúng vòng tròn được  
thưởng 1 áo kép vải, một quần sại và người bắn 1 phát trúng vòng tròn thì được thưởng 1  
áo kép vải, một quần vải.  
Ðến năm Tự Ðức thứ 35 (1882), triều đình lại thực hiện chế độ thăng thưởng cho các  
quan quân từng tham gia đi đánh giặc lâu ngày từ 4-5 năm trở lên, có chém bắt được giặc.  
Riêng những người không bắt chém được giặc mà từng ở quân thứ đến 6-7 năm cũng đều  
được nhà nước khen thưởng.  
Vua Tự Ðức đặc biệt quan tâm tới võ quan lập được công lao lớn, khi thắng trận trở  
về nhà Nguyễn tổ chức lễ mừng công và thực hiện ban thưởng đặc biệt cho các võ quan.  
Năm Tự Ðức thứ 33 (1880), tin thắng trận báo lên, nhà vua thực hiện thưởng cho quân  
thứ ở biên giới phía Bắc. Từ Thống đốc đến Lãnh binh đều thưởng áo quần, bạc lạng có  
thứ bậc khác nhau; Đốc binh đến Hiệp quản đều gia thưởng bạc lạng; Cai suất đội đến  
binh đinh được sai phái đi cố sức làm việc được thưởng chung tất cả là 20.000 quan  
tiền). Trong các võ quan được nhà vua khen thưởng có những trường hợp tiêu biểu như  
Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn… Ðây là những võ quan lập được nhiều chiến công,  
như trường hợp của Nguyễn Tri Phương - người từng cầm quân đi đánh quân Xiêm,  
bình định Cao Miên. Sách Ðại Nam thực lục có ghi lại: Năm 1845, Nguyễn Tri Phương  
được vua Thiệu Trị ban thưởng “gia hàm Hiệp biện Ðại học sĩ, quân công một cấp, kỷ  
lục ba thứ, thẻ bài đeo bằng ngọc đẹp có chữ “Cát tường phước thọ”, dây rủ xuống có  
xâu san hô, nhẫn trân châu, cẩn vàng mặt kim cương, kim tiền hạng to có chữ "Vạn tuế  
vĩnh lại" có dây rủ xuống, khánh vàng ghi công, mỗi thứ một chiếc” [9; tr.760]. Ðến  
năm 1847, ông lại được triều đình ban thưởng “1 chiếc nhẫn ngọc kim cương hạng lớn,  
chung quanh khảm ngọc trân châu bịt vàng của nhà vua thường dùng, 1 cái bài đeo có  
dây tua xâu ngọc san hô tốt, có chữ “Cát tường Phước trạch”, 1 đồng kim tiền hạng lớn  
125  
Vũ Thị Nga  
có dây tua có chữ “Vạn thế vĩnh lại”, 1 đồng kim tiền hạng vừa, có dây tua có chữ  
“Long vân khế hội” [9; tr.794].  
Cũng như các quan lại khác, võ quan còn được ban thưởng trong các ngày lễ lớn như  
ngày tết, mừng thọ, mừng được mùa, mừng thắng trận). Trong các buổi lễ này, võ quan  
được ban yến tiệc, tiền, bạc cùng 1 hoặc 2 tháng lương.  
2.1.3. Đặc ân của nhà nước giành cho võ quan đương nhiệm và gia đình  
Dưới triều Nguyễn, võ quan được nhà nước giành cho số đặc ân trong đó có giảm  
tuổi đối với võ quan đương nhiệm ốm yếu, xin nghỉ công việc quá lâu hoặc già yếu không  
thể kham nổi việc công. Những trường hợp trên, dưới triều vua Tự Ðức (1853), nếu tuổi  
đã trên 60, cho phép giữ nguyên hàm về quê hưu dưỡng; nếu chưa đến 60 tuổi, thì phải  
giáng 1 cấp và buộc phải về quê dưỡng bệnh. Một năm sau đó, nhà Nguyễn điều chỉnh độ  
tuổi thực hiện chế độ hưu dưỡng đối với võ quan già yếu là 50 tuổi.  
Ngoài chế độ giảm số tuổi về hưu so với quy định thì quan viên (trong đó có võ  
quan) còn được nộp tiền để giảm nhẹ hoặc chuộc tội. Quy định này được đặt ra năm Tự  
Ðức thứ 17 (1864) với nội dung ghi rõ: “võ từ tam phẩm đến suất đội, người nào phải  
đình thăng hoặc giáng cấp, thì cứ quyên 500 quan, miễn cho đình thăng 1 năm khai  
phục 1 cấp. Người nào bị cách lưu, thì cứ quyên 500 quan, miễn cho cách lưu, cũng  
được khai phục 1 cấp; nhưng vẫn phải giáng lưu. Nếu muốn khai phục lại tất cả, thì tính  
xem người ấy có mấy phẩm, so tính là mấy cấp, cứ mỗi cấp quyên tiền 500 quan, khi  
nào đủ số, mới được khai phục. Người nào nhân việc công, không phải là tham tang tí  
túi tội nặng, mà bị cách chức không được làm nữa, thì quyên từ 2.000 quan trở lên, đợi  
Chỉ lượng cho khai phục 2 cấp; cứ 1.000 quan lại cho khôi phục thêm 1 cấp” [10;tr.874].  
Ngoài ra, võ quan từ Thất phẩm, nếu pham tội, tùy theo mức độ nặng nhẹ triều Nguyễn  
cho nộp tiền để chuộc tội (đánh bằng roi cho là hình thức nhẹ nhất cho nộp 5 tiền, mức  
nặng như đình thăng, đình bổ quan phải nộp số tiền lớn (1 năm chuộc 100 quan, 2 năm  
150 quan, 3 năm 200 quan).  
Không chỉ quan tâm đến chế độ đối với các võ quan đương nhiệm mà cả gia đình họ  
cũng được nhà nước quan tâm và cho hưởng những đặc ân. Năm Gia Long thứ 7 (1808),  
triều đình có quy định các quan viên văn võ, từ Tứ phẩm trở lên thì các con đều được ghi  
làm quan viên tử; quan viên tử con quan văn võ Nhất, Nhị, Tam phẩm được miễn binh  
đao và thuế thân; quan viên tử con quan văn võ Tứ phẩm được miễn binh đao. Dưới triều  
vua Minh Mạng (1826) cho con các quan võ đăng sách Hoa danh: con quan Chánh tòng  
nhất phẩm 3 người; con quan Chánh nhị phẩm thì 2 người; con quan Tòng nhị phẩm đến  
Tòng tam phẩm và Chánh phó quản cơ Ngũ thuỷ thuộc Thuỷ quân thì đều 1 người. Khi  
được ghi vào sách hoa danh những người con của võ quan được cấp lương hàng tháng:  
“Nhất phẩm mỗi tháng cấp tiền 3 quan gạo 2 phương; con quan nhị phẩm, tam phẩm tiền  
2 quan gạo 2 phương; con quan tứ phẩm tiền 2 quan gạo 1 phương 15 bát” [11; tr.507].  
Bên cạnh đó, dưới thời vua Tự Ðức vào các năm 1854, 1871, triều đình đã ban hành  
quy định về tập ấm của con quan lại sau khi cha mất. Quan lại sau khi mất thì con cái  
được vào Anh Danh Giáo dưỡng hoặc được vào học Quốc Tử Giám sau đó đến 20 tuổi  
thì được xem xét và đến năm 25 tuổi tùy năng lực mà bổ nhiệm cho đi làm việc quan.  
Năm Tự Ðức thứ 18 (1865), triều đình quy định những võ quan viên được ghi nhận  
có công lao đánh giặc thì con cháu họ sẽ được nhà nước cấp lương bổng cho đi học. Ðặc  
126  
Chế độ đãi ngộ đối với võ quan trong quân đội của vương triều Nguyễn giai đoạn…  
biệt, năm Minh Mạng năm thứ 5 (1824), nhà vua còn đặt lệ cấp tiền cho viên tử con quan  
võ chết: “con quan nhất phẩm mỗi tháng cho tiền 2 quan gạo 2 phương, con quan nhị, tam  
phẩm giảm đi một phần tý, con quan tứ phẩm giảm đi một nửa” [11; tr.341].  
Không chỉ có những chính sách đối với con cái các quan viên mà đối với cha mẹ của  
họ, nhà Nguyễn cũng thực hiện một số ưu đãi thể hiện đạo lí của nhà nước phong kiến  
tiêu biểu là trong những dịp lễ tết và những ngày lễ lớn của đất nước, không chỉ gia ân  
bổng lộc cho hoàng tộc, những người có công trạng lớn và quan lại trong triều mà còn  
thực hiện việc ban thưởng cho cha mẹ quan viên.  
2.2. Chế độ đãi ngộ với võ quan về hưu  
Chế độ đãi ngộ đối với võ quan dưới triều Nguyễn trên thực tế còn được áp dụng cho  
đối tượng là những võ quan về hưu. Về chế độ lương bổng cho võ quan về hưu, tùy theo  
phẩm trật và độ tuổi mà nhà nước cho hưởng chế độ cấp dưỡng hàng tháng bằng tiền và  
bằng gạo. Quy định của triều đình Tự Ðức năm thứ 32 (1879) nêu rõ: võ quan Tam phẩm  
được cấp 3 quan tiền và 1 phương gạo; quan Ngũ phẩm được cấp 1 quan 5 tiền và 1  
phương gạo; các quan Lục, Thất phẩm thì được cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo; các quan  
hàng Bát, Cửu phẩm hàng tháng được cấp cho 5 tiền, nửa phương gạo. Võ quan được  
hưởng chế độ này cho đến cuối đời.  
Bên cạnh đó, các võ quan hưu trí có nhiều công lao cũng được triều đình thường  
xuyên thăm hỏi, xét và ban thưởng. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), triều đình thực hiện việc  
thưởng tiền cho các quan viên hưu trí với tổng là 29 người trong đó có các võ quan từ  
Tam phẩm trở lên. Các viên quan này tùy theo công trạng mà được thưởng từ 100 quan  
đến 40 quan. Chế độ này còn được duy trì thực hiện vào năm Tự Ðức năm thứ 12 (1859).  
Ngoài ra, các võ quan về hưu khi chết còn được nhà nước cấp tiền tuất. Các quan  
viên từ Tòng tam phẩm trở lên, trừ những người từng bị giáng hay bắt về hưu đều được  
hưởng chế độ cấp tuất giống như võ quan đương nhiệm.  
Theo quy định của triều đình nhà Nguyễn thì từ năm Tự Ðức năm thứ 7 (1854), võ  
quan từ Chánh tứ phẩm trở xuống, nếu người nào vì đi trận bị thương đã cho về quê, cấp  
nửa lương thì chiếu theo phẩm hàm cấp cho một nửa tiền tuất. Ðối với võ quan Tam phẩm  
trở lên chết trong lúc về chịu tang hoặc nghỉ dài hạn thì không được hưởng chế độ cấp  
tuất này. Cùng với quy định như vậy, võ quan thời Nguyễn còn được nhà nước cho phép  
mang theo triều phục khi về hưu, khi chết được liệm bằng triều phục ấy.  
Trong các lễ lớn của dân tộc như ngày Tết, lễ mừng thọ cho nhà vua và thái hậu, võ  
quan về hưu cũng được ban yến tiệc hoặc vải lụa.  
3. Kết luận  
Thông qua tìm hiểu nội dung những chính sách đãi ngộ của triều Nguyễn đối với các  
võ quan đương thời, có thể rút ra một số nhận xét dưới đây:  
Một là, chính sách đãi ngộ đối với võ quan của triều Nguyễn là chính sách khá toàn  
diện đáp ứng đời sống vật chất cũng như tinh thần của các võ quan, đồng thời thể hiện  
được sự coi trọng của nhà nước đối với võ quan, phản ánh vai trò của bộ phận này đối với  
sự ổn định của tình hình chính trị - xã hội trong nước cũng như huy động sức mạnh của  
quân đội trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm.  
127  
Vũ Thị Nga  
Hai là, những chính sách đãi ngộ dành cho võ quan, nhất là đối với những võ quan đi  
làm nhiệm vụ bị trận thương, trận vong là kịp thời, phù hợp. Những chính sách này có tác  
dụng không nhỏ trong việc động viên tinh thần của đội ngũ võ quan - những người luôn  
xung trận, đi đầu lãnh đạo binh lính trong mỗi trận đánh và có vai trò không nhỏ đối với  
việc khẳng định sức mạnh thực lực của lực lượng quân đội.  
Ba là, không chỉ quan tâm đến võ quan đương nhiệm, nhà Nguyễn còn có các chính  
sách đãi ngộ, quan tâm và thể hiện sự tri ân đối với các võ quan đã nghỉ hưu. Chính sách  
này không chỉ đảm bảo đời sống kinh tế của võ quan khi về hưu mà còn thể hiện phần nào  
tính nhân đạo, nhân vãn trong chính sách dùng người, trọng đãi công thần của các vua  
triều Nguyễn.  
Bốn là, chính sách đãi ngộ dành cho võ quan dưới triều Nguyễn đương nhiên không  
tránh khỏi những hạn chế, đặc biệt là chính sách lương đối với quan lại, trong đó có võ  
quan dưới triều vua Tự Ðức. Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, việc giảm lương  
của đội ngũ quan lại nói chung và võ quan nói riêng dù sao cũng ảnh hưởng ít nhiều đến  
đời sống vật chất và tinh thần chiến đấu của họ, dù đây không hẳn đã là yếu tố quyết định  
thành bại, thắng thua quân đội triều Nguyễn trước sự xâm lược của thực dân phương Tây.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trung tâm bảo tồn cố đô Huế và tạp chí Xưa -Nay, 2002. Những vấn đề lịch sử về  
triều đại cuối cùng ở Việt Nam. Nxb Thuận Hóa, tr201-203.  
[2] Huỳnh Công Bá, 2014. Định chế hành chính và quân sự triều Nguyễn (1802-1885).  
Nxb Thuận Hóa.  
[3] Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Phương Nga, 2016. Thủy quân nhà Nguyễn thời vua  
Minh Mạng. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 10 (107)/2016, tr.46-56.  
[4] Hà Duy Biển, 2015. Định mức lương bổng của quan lại bộ binh dưới triều Minh  
Mạng. Tạp chí Lịch sử quân sự, số 278, tr51-56.  
[5] Hà Duy Biển, 2016. Cách thức tính toán và chi cấp lương bổng đối với quan lại bộ  
Binh triều Minh Mạng (1820 - 1840). Tạp chí Lịch sử quân sự, số 291 (3/2016),  
tr.46-53.  
[6] Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2005. Khâm định Đại nam hội điển sự lệ tục biên, tập  
III. Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.138-141.  
[7] Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2004. Ðại Nam thực lục (bản dịch), tập III. Nxb Giáo  
dục, Hà Nội, tr.161.  
[8] Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2004. Đại Nam thực lục (bản dịch), tập I. Nxb Giáo dục,  
Hà Nội, tr.912, 676-677, 789.  
[9] Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2007. Đại Nam thực lục (bản dịch), tập VI. Nxb Giáo  
dục, Hà Nội, tr.760, 974.  
[10]Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2007. Đại Nam thực lục (bản dịch), tập VII. Nxb Giáo  
dục, Hà Nội, tr.874.  
[11]Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2004. Ðại Nam thực lục (bản dịch), tập II. Nxb Giáo  
dục, Hà Nội, tr.507, 341.  
128  
Chế độ đãi ngộ đối với võ quan trong quân đội của vương triều Nguyễn giai đoạn…  
ABSTRACT  
Compensation and benefits package for military mandarins  
in the army of The Nguyen Dynasty in the period of 1802 – 1884  
Vu Thi Nga  
Faculty of Cultural Heritage, Hanoi University of Culture  
Compensation and benefit package for military mandarins is one of the important  
policies in building and consolidating the army under Nguyen dynasty. Military  
mandarins under Nguyen dynasty did not only receive salary and bonus as mandarins in  
the dynasty, but also enjoyed special privileges of the state, due to the job’s particular  
characteristics such as the regime for the dead, wounded people in the battlefield. These  
policies reflected not only the income of military mandarins, but also partly reflected the  
economic and political situation of the Nguyen dynasty.  
Keywords: Army, Nguyen dynasty, military mandarins, salary and bonus.  
129  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 9100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chế độ đãi ngộ đối với võ quan trong quân đội của vương triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfche_do_dai_ngo_doi_voi_vo_quan_trong_quan_doi_cua_vuong_trie.pdf