Huế trong tâm thức Nam bộ hay là ký ức lưu dân

86  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
ĐẤT NƯỚC - NHÂN VẬT  
HUẾ TRONG TÂM THỨC NAM BỘ  
HAY LÀ KÝ ỨC LƯU DÂN  
Lê Công Lý*  
Quá trình Nam tiến của người Việt diễn ra khá sớm, ngay từ năm 1306, khi  
vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân nước Chiêm  
Thành để đổi lấy châu Ô và châu Lý (nay là vùng đất Quảng Bình, Quảng Trị và  
Thừa Thiên Huế). Đến triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), vị vua lừng lẫy  
trong lịch sử phong kiến Việt Nam, công cuộc Nam tiến được đẩy mạnh hơn bao  
giờ hết. Đến năm 1471, biên giới Đại Việt kéo dài đến hết tỉnh Phú Yên ngày nay.  
Vùng đất từ đèo Hải Vân tới Phú Yên được vua đặt là thừa tuyên Quảng Nam, và  
tăng cường di dân Việt từ miền Bắc vào để lập nghiệp.  
Đến năm 1558, khi chúa Nguyễn Hoàng túng thế xin vào trấn thủ Thuận Hóa,  
rồi gầy dựng lực lượng để chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, thì quá trình Nam  
tiến ở Đàng Trong buộc phải được đẩy mạnh hơn bao giờ hết để tạo hậu phương  
chống lại Đàng Ngoài.  
Do đó, bước sang các thế kỷ XVII và XVIII, chúa Nguyễn dùng kế tàm thực  
(tằm ăn lá dâu) lần lượt thâu nạp từng vùng đất phía Nam của Chân Lạp và di dân  
người Việt đến lập nghiệp mà các mốc quan trọng là:  
- Năm 1623 chúa Nguyễn Phúc Nguyên lập 2 trạm thu thuế ở Sài Gòn và  
Bến Nghé.  
- Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho di dân Hoa kiều lập Biên Hòa đại  
phố và Mỹ Tho đại phố.  
- Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu phái quan Chưởng cơ Nguyễn Hữu  
Cảnh vào kinh lược đất Gia Định, sắp đặt bộ máy hành chánh cấp dinh trấn, lập  
huyện Phước Long thuộc dinh Trấn Biên và huyện Tân Bình thuộc dinh Phiên Trấn.  
- Năm 1732 chúa Nguyễn Phúc Thụ dựng dinh Long Hồ. Dinh Long Hồ quản  
trị châu Định Viễn (vùng đất Tân An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Sa Đéc  
hiện nay).  
- Năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát thâu nạp đất Tầm Phong Long (nay  
là tỉnh An Giang).  
*
Chi hội Văn nghệ dân gian tại Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.  
87  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
Cùng thời điểm này, triều đình chúa Nguyễn lại bắt đầu suy thoái, quyền thần  
Trương Phúc Loan lộng hành, quân Trịnh nhân cơ hội đó vượt Sông Gianh vào  
Nam xâm lấn. Rồi Tây Sơn khởi nghĩa. Vùng đất miền Trung vốn khắc nghiệt lại  
sa vào nội chiến khốc liệt giữa nhiều tập đoàn phong kiến: Trịnh > < Nguyễn; Tây  
Sơn > < Nguyễn; và nội bộ nhà Tây Sơn cũng xâu xé nhau.  
Tình huống muôn vàn khó khăn như thế ở miền Trung cộng với điều kiện  
thiên nhiên và xã hội ưu đãi ở phía Nam chính là chất xúc tác đẩy lưu dân Việt từ  
miền Trung làm cuộc Nam tiến lần thứ 2 để đi tìm con đường sống.  
Các đoàn lưu dân này chủ yếu từ vùng Thuận Hóa - Quảng Nam. Họ phải di  
vào Nam để tránh cái họa chiến tranh và thiên tai hạn hán, bão lụt ác nghiệt của  
miền Trung. Họ thường đi bằng ghe bầu men theo bờ biển để vào Nam, theo các  
cửa sông để vào đất liền rồi len lỏi theo các con rạch tự nhiên tìm đến các giồng cát  
cao ráo để khai hoang lập nghiệp. Ban đầu hầu hết đồng bằng Tây Nam Bộ, nhất là  
vùng trũng Đồng Tháp Mười còn hoang vu, nước đọng quanh năm do chưa có kênh  
rạch thoát nước, do đó các đoàn di dân phải chọn các giồng đất cao ráo để định cư.  
Cư dân Việt ở Nam Bộ hiện nay chủ yếu là hậu duệ của các nhóm lưu dân  
này. Tổ tiên họ ra đi từ miền Trung, nơi có Huế là thủ phủ, nên trong tâm thức  
truyền đời họ luôn hướng về Huế như là nguồn cội.  
Các đoàn lưu dân chủ yếu là nông dân, ngư dân (một số là tù phạm, lính đào  
ngũ, quan lại bị biếm, Nho sĩ hỏng thi…) nên họ vốn có tâm lý bám đất bám làng,(1)  
nhưng vì tình thế bắt buộc phải ra đi. Khi vừa đến xứ lạ quê người, họ luôn cảm  
thấy bất an:  
Ra đi dao bảy giắt lưng,  
Ngó sông sông rộng, ngó rừng rừng cao.  
(Ca dao)  
Thậm chí luôn phập phồng lo sợ:  
Tới đây xứ sở lạ lùng,  
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.  
(Ca dao)  
Do đó, tuy ở vùng đất mới nhưng họ vẫn hoài niệm về cố hương, thể hiện trên  
nhiều khía cạnh.(2)  
1. Tâm thức Huế qua địa danh  
Nỗi nhớ quê khiến lưu dân đã “gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến  
di dân”,(3) họ thường lấy tên làng quê cũ để đặt tên cho thôn làng vừa lập ở vùng  
đất mới.  
88  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
Thật vậy, ngay từ những đợt lưu dân đầu trên đất Đồng Nai - Gia Định (nay  
là Nam Bộ) đã thấy xuất hiện ở đây nhiều địa danh cũ của Huế.  
Thời  
điểm(4)  
Địa danh tương ứng  
Địa danh ở Nam Bộ & địa chỉ  
ở miền Trung  
(1)  
(2)  
(3)  
An Hòa (lân), tổng (tg) Bình Trị, huyện (h) Bình Dương, phủ  
(p) Tân Bình, trấn (tr) Phiên An. Ngoài ra còn 33 địa danh  
trùng tên này. Nay: tên nhiều xã, phường ở Nam Bộ.  
Làng An Hòa, tg. An Hòa, h.  
Hương Trà, p. Thừa Thiên  
(1774).(5)  
Thời  
Gia Long  
An Lộc (thôn), tg. Bình Trị, h. Bình Dương, p. Tân Bình, tr.  
Phiên An.  
Ngoài ra còn 11 địa danh trùng tên này. Nay: tên thị trấn  
(TT.), h. Bình Long, t. Bình Phước.  
Thôn An Lộc, tg. Dã Lê, h.  
Phú Vang, p. Thừa Thiên  
(1776).  
Thời  
Gia Long  
Làng An Ninh Thượng, An  
Ninh Hạ, tg. An Ninh, h.  
Minh Mạng Hương Trà, p. Thừa Thiên  
(1774).  
An Ninh (thôn), tg. Bình Cách Trung, h.Thuận An, p. Tân  
Bình, t. Gia Định. Ngoài ra còn 10 địa danh trùng tên này.  
Nay: tên xã, h. Mỹ Tú, t. Sóc Trăng.  
Thời  
An Phú (thôn), tg. Dương Hòa, h. Bình Dương, p. Tân Bình,  
tr. Phiên An. Ngoài ra còn 29 địa danh trùng tên này. Nay: tên  
nhiều xã ở Nam Bộ.  
Làng An Phú, tg. An Thành,  
Thời  
h. Quảng Điền, p. Thừa  
Gia Long  
Thiên (cuối thế kỷ XVIII).  
Làng An Thành, tg. An  
An Thành (tổng), h. Đông Xuyên, p. Tuy Biên, t. An Giang.  
Thời  
Thành, h. Quảng Điền, p.  
Ngoài ra còn 15 địa danh trùng tên này.  
Minh Mạng Thừa Thiên (cuối thế kỷ  
XVIII).  
Làng Bằng Lãng (tên gốc:  
Bình Lãng (thôn), tg. Thuận Đạo, h. Thuận An, p. Tân Bình,  
tr. Phiên An. Nay: tên ấp, TT. Tân Trụ, h. Tân Trụ, t. Long An.  
Thời  
Gia Long  
Bình Lãng), tg. Kim Long,  
h. Hương Trà, p. Thừa  
Thiên (1774).  
Làng Bình Trị, h. Kim Trà,  
p. Thừa Thiên.  
Nay: thôn Vĩnh Trị, x. Hải  
Dương, h. Hương Trà (1555).  
Bình Trị (tổng), h. Bình Dương, p. Tân Bình, tr. Phiên An.  
Ngoài ra còn 15 địa danh trùng tên này. Nay: tên phường,(6)  
Q. Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.  
Thời  
Gia Long  
Long Hồ (dinh), châu Định Viễn. Ngoài ra còn 3 địa danh  
trùng tên này. Nay: tên huyện, t. Vĩnh Long.  
Làng Long Hồ, h. Kim Trà,  
p. Thừa Thiên (1555).  
1732  
Mỹ An (thôn), tg. Thành Tuy, h. Long Thành, p. Phước Long,  
tr. Biên Hòa. Ngoài ra còn 23 địa danh trùng tên này. Nay:  
tên nhiều xã ở Nam Bộ.  
Phường Mỹ An, tg. Vi Dã, h.  
Hương Trà, p. Thừa Thiên  
(thời Gia Long).  
Thời  
Gia Long  
Phong Điền (rạch, chợ(7) [nổi]), thôn Nhơn Ái,(8) tg. Định Bảo,  
quận Châu Thành, t. Cần Thơ.  
Ngoài ra còn 2 địa danh trùng tên này. [Xem: Trường Tiền (cầu)].  
Nay: tên huyện [+ thị trấn, cùng huyện], TP. Cần Thơ; tên xã,  
h. Trần Văn Thời, t. Cà Mau.  
Huyện Phong Điền, p.  
Triệu Phong, tr. Thuận Hóa  
(1834).  
Cuối thế  
kỷ XIX  
Phú An (thôn), tg. Tân Phong, h. Tân Long, p. Tân Bình, tr.  
Phiên An.  
Ngoài ra còn 29 địa danh trùng tên này. Nay: tên nhiều xã  
ở Nam Bộ.  
Xã Phú An, tg. Phú Xuân,  
h. Hương Thủy, p. Thừa  
Thiên (cuối thế kỷ XVIII).  
Thời  
Gia Long  
89  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
(1)  
(2)  
(3)  
Phường Phú Cường, tg.  
Diêm Trường, h. Phú Vang,  
p. Thừa Thiên (cuối thế kỷ  
XVIII).  
Phú Cường (thôn), tg. Bình Điền, h. Bình An, p. Phước Long,  
t. Biên Hòa. Ngoài ra còn 4 địa danh trùng tên này. Nay: tên  
nhiều xã ở Nam Bộ.  
1808  
Phú Quý (thôn), tg. An Bảo, h. Tân An, p. Định Viễn, trấn  
Vĩnh Thanh.  
Ngoài ra còn 3 địa danh trùng tên này. Nay: tên nhiều xã ở  
Nam Bộ.  
Phường Phú Quý, tg.  
Dương Nỗ, h. Phú Vang,  
p. Thừa Thiên (cuối thế kỷ  
XVIII).  
Thời  
Gia Long  
Phú Xuân (thôn), tg. Phước Chánh, h. Phước Long, p.  
Gia Định.  
Ngoài ra còn 11 địa danh trùng tên này. Nay: tên nhiều  
xã ở Nam Bộ.  
Xã Phú Xuân, tg. Phú  
Xuân, h. Hương Thủy, p.  
Thừa Thiên (1776).  
Cuối thế  
kỷ XVIII  
Phường Phước An, tg.  
Dương Nỗ, h. Phú Vang, p.  
Thừa Thiên  
Phước An (tổng), h. Phước Long, dinh Trấn Biên, phủ Gia Định.  
Ngoài ra còn 19 địa danh trùng tên này. Nay: tên nhiều xã  
ở Nam Bộ.  
1698  
(cuối thế kỷ XVIII).  
Phước Lâm (thôn), tg. Lộc Thành, h. Phước Lộc, p. Tân  
Bình, tr. Phiên An. Ngoài ra còn 2 địa danh trùng tên này.  
Nay: tên xã, h. Cần Giuộc, t. Long An.  
Thôn Phước Lâm, tg. An  
Ninh, h. Hương Trà, p.  
Thừa Thiên (1774).  
Thời  
Gia Long  
Làng Phước Long, tg.  
Đường Pha, h. Phú Vang,  
p. Thừa Thiên (cuối thế kỷ  
XVIII).  
Phước Long (huyện), dinh Trấn Biên, p. Gia Định. Ngoài ra  
còn 17 địa danh trùng tên này. Nay: tên TX, t. Bình Phước.  
1698  
Phường Tân An, tg. Dương  
Nỗ, h. Phú Vang, p. Thừa  
Thiên (1776).  
Tân An (phủ), t. Phiên An. Ngoài ra còn 65 địa danh trùng tên  
này. Nay: tên thành phố, t. Long An.  
Thời  
Minh Mạng  
Thiên Mụ (thuộc,(9) [khố] trường biệt nạp(10)), p. Gia Định.  
Nay: chùa Thiên Mụ, x. Mỹ Lộc,(11) h. Cần Giuộc, t. Long An;  
chùa Thiên Mụ, x. Tân Trạch, h. Cần Đước, t. Long An.  
Chùa Thiên Mụ, xã Hương  
Long, TP. Huế.  
1741  
Bãi Trường Tiền (1776),  
cầu Trường Tiền, phố  
Trường Tiền, TP. Huế.  
Trường Tiền (cầu), xã Mỹ Khánh, h. Phong Điền, TP. Cần Thơ.  
Cầu nằm cạnh chợ Phong Điền.  
Thế kỷ  
XIX/ XX  
Làng Vĩnh An, tg. Phò  
Trạch, h. Hương Trà, p.  
Thừa Thiên (1774).  
Vĩnh An (tổng), châu Định Viễn. Ngoài ra còn 18 địa danh  
trùng tên này. Nay: tên nhiều xã ở Nam Bộ.  
Thế kỷ  
XVIII  
Vĩnh Lộc (thôn), tg. Lộc Thành Trung, h. Phước Lộc, p. Tân  
Bình, t. Gia Định. Ngoài ra còn 7 địa danh trùng tên này. Nay:  
tên nhiều xã ở Nam Bộ.  
Làng Vĩnh Lộc, tg. Mậu Tài,  
h. Phú Vang, p. Thừa Thiên  
(cuối thế kỷ XVIII).  
Thời  
Minh Mạng  
Vĩnh Xương (thôn), tg. Thành Tuy, h. Long Thành, p. Phước  
Long, tr. Biên Hòa.  
Ngoài ra còn 3 địa danh trùng tên này. Nay: tên xã, h. Tân  
Châu, t. An Giang.  
Làng Vĩnh Xương, tg. Vĩnh  
Xương, h. Hương Trà, p.  
Thừa Thiên (1774).  
Thời  
Gia Long  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
90  
Hình 1: Chùa Thiên Mụ, xã Tân Trạch, Cần  
Hình 2: Chùa Thiên Mụ, xã Mỹ Lộc, Cần Giuộc,  
Đước, Long An. Ảnh: Lê Công Lý.  
Long An. Ảnh: Lê Công Lý.  
Cũng có thể sự lặp lại nhiều địa danh ở Huế trên đất Nam Bộ chỉ là sự trùng  
hợp tình cờ, do tâm lý người dân và chính quyền thời nào cũng mong đợi sự yên  
ổn và phồn thịnh (thể hiện qua các từ như: An, Hòa, Ninh, Phú, Thành, Trị, v.v.).  
Nhưng với số lượng lớn (hơn 23 địa danh) được lặp lại như vậy thì chắc chắn là  
không thể hoàn toàn tình cờ mà phải có phần chủ ý, nhất là đối với các địa danh  
đặc biệt như: Phong Điền, Thiên Mụ, Trường Tiền, v.v…  
Tuy nhiên, dễ thấy rõ hơn là hiện  
tượng ở Nam Bộ hiện nay vẫn còn  
rất nhiều địa danh có yếu tố Huế.  
Chẳng hạn:  
- Cầu Huế: x. Thới Bình, h. Thới  
Bình, t. Cà Mau.  
- Cống Huế: x. Phú Cường, h. Cai  
Lậy, t. Tiền Giang.  
- Cống Huế: x. Mỹ Hạnh Đông, h.  
Cai Lậy, t. Tiền Giang.  
Hình 3: Cầu Cống Quế [Huế], xã Mỹ Hạnh Đông,  
huyện Cai Lậy, Tiền Giang. Ảnh: Lê Công Lý.  
- Hồ Tĩnh Tâm: tên khác của hồ Nước  
Ngọt, TP. Sóc Trăng, t. Sóc Trăng.  
- Kinh Huế: TT. Rạch Gốc, h. Ngọc Hiển, t. Cà Mau.  
- Kinh Huế: x. Đông Hưng, h. Cái Nước, t. Cà Mau.  
- Rạch Thầy Huế: h. Long Hồ, t. Vĩnh Long.  
- Xóm Huế: Tx. Phước Long, t. Bình Phước.  
- Xóm Huế: x. Định Bình, TP. Cà Mau, t. Cà Mau.  
- Xóm Huế: x. Khánh Bình Tây Bắc, h. Trần Văn Thời, t. Cà Mau.  
91  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
- Xóm Huế: x. Khánh Hải, h. Trần Văn Thời, t. Cà Mau.  
- Xóm Huế: x. Tân An Hội, h. Củ Chi.  
- Xóm Huế: x. Tân An Hội, h. Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.  
Các địa danh có yếu tố Huế nêu trên phần lớn do lớp cư dân đầu tiên là người  
Huế vào Nam định cư lập nghiệp. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp cư dân  
đến đó lập nghiệp không phải người Huế mà là người thuộc các tỉnh khác thuộc  
miền Trung, thậm chí thuộc miền Bắc, nhưng do trong tâm thức cư dân Nam Bộ,  
vùng đất từ Bình Thuận trở ra Bắc đều gọi chung là Huế, nên các nhóm cư dân đến  
trước vẫn gọi những người này là dân Huế. Bởi lẽ, trong suốt 400 năm Huế chính  
là kinh đô của Đàng Trong và sau đó là của cả nước. Dân Nam Bộ có đi làm quan,  
đi thi Hội hay kiện tụng, v.v. thì thường chỉ đi đến Huế là cùng. Do đó, ở Nam Bộ  
có quán ngữ đi tới Huế ý nói đi rất xa:  
Chừng gần ngoài Huế cũng gần,  
Chừng xa cách một tấm trần cũng xa.  
(Ca dao)  
Ngày xưa, một người bình thường (không phải quan lớn hay sĩ tử lai kinh ứng thí)  
mà đi ra tới Huế là chuyện không phải bình thường, sẽ trở thành kỳ tích và được  
dân gian truyền tụng. Chẳng hạn như chuyện ông già Ba Tri (Thái Hữu Kiểm) ra  
tới kinh đô Huế để khiếu kiện vào thời Minh Mạng hay chuyện bà Nguyễn Thị  
Tồn (phu nhân của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa) ra tận kinh đô Huế đánh trống kêu  
oan cho chồng vào thời Tự Đức. Ông già Ba Tri trở thành biểu tượng của dân Nam  
Bộ về tính cương trực, kiên cường, không dễ khuất phục. Bà Nguyễn Thị Tồn trở  
thành biểu tượng của liệt nữ đất phương Nam trung trinh tiết liệt với chồng, tạo  
cảm hứng để nhà văn Hoài Anh viết thành tiểu thuyết lịch sử Bùi Hữu Nghĩa - mối  
duyên vàng đá.  
2. Tâm thức Huế qua phong tục, ngôn ngữ và văn học nghệ thuật  
Theo truyền thống, người dân Nam Bộ làm nhà có cửa quay về hướng Nam  
nên bàn thờ cũng quay về hướng Nam. Khi cúng kiếng, người ta quay mặt về  
hướng Bắc (Huế)(12) là hướng cội nguồn để khấn bái. Khi đó, trên bàn thờ bài trí  
như sau: bình hoa ở phía đông (để nhận được nhiều ánh mặt trời giúp hoa nở tốt)  
còn dĩa trái cây ở phía tây, gọi là nguyên tắc “đông bình tây quả”. Sau đó, khi kênh  
rạch được khai thông thì phần lớn người dân phải cất nhà quay mặt ra kênh rạch.  
Nhiều nhà không thể quay cửa về hướng Nam được nữa nhưng cách bài trí bàn thờ  
theo nguyên tắc “đông bình tây quả” vẫn không thay đổi. Khi đó, đông được hiểu  
là phía tay phải, tây là phía tay trái của người đứng đối diện bàn thờ. Tại các thánh  
thất Cao Đài, cổng/ nhà Đông lang và Tây lang cũng được bố trí theo nguyên tắc:  
92  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
Đông lang nằm bên phải (hướng từ cổng nhìn vào), Tây lang nằm bên trái. Việc  
bảo lưu nguyên tắc này cho thấy người ta vẫn luôn hoài niệm về Huế như cái thuở  
vừa mới định cư.  
Trong quan niệm của dân gian Nam Bộ, Huế là nơi rất xa, nơi kinh thành hoa  
lệ, gắn chặt với nguồn cội tổ tiên. Đặc biệt, Huế gắn với các chúa Nguyễn, người  
đã có công mở đất phương Nam để cư dân nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Chính vì  
vậy mà năm 1777, một vị thiếu niên hoàng tộc người Huế là Nguyễn Ánh bị Tây  
Sơn truy sát, phải chạy vào Nam, mặc dù chỉ mới 15 tuổi nhưng nhờ vào tình cảm  
và sự ngưỡng vọng của dân chúng Đồng Nai - Gia Định đối với chúa Nguyễn mà  
có thể dễ dàng thu phục được đạo quân Đông Sơn lừng lẫy để làm lực lượng kháng  
cự Tây Sơn và khôi phục đất Gia Định.  
Suốt mấy trăm năm, Huế ví như là vùng “thánh địa” mà cư dân Nam Bộ  
chính là các “tín đồ” thuần thành, luôn ước mơ được một lần “hành hương” chốn  
kinh đô.(13) Do đó, đối với họ, một đấng nam nhi kiểu mẫu phải là người:  
Làm trai cho đáng nên trai,  
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng.  
(Ca dao)  
Khi Nam Bộ bị giặc Pháp giày xéo, Huế là nơi người dân gởi gắm niềm tin  
để thêm quyết tâm chống trả quân xâm lược:  
Mây giăng ải bắc(14) trông tin nhạn,  
Ngày xế non nam bặt tiếng hồng.  
(Nguyễn Đình Chiểu - Ngóng gió đông)  
Ải Bắc ngày trông tin nhạn vắng,  
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.  
(Nguyễn Đình Chiểu - Điếu Phan Thanh Giản)  
Khi yêu đương thề nguyền, họ cũng không quên dùng hình tượng chùa Thiên  
Mụ đất Thần kinh để tượng trưng cho lòng thủy chung son sắt:  
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,  
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.  
(Ca dao)  
Trên bước đường Nam tiến, có những lúc lạc loài, họ vẫn không quên nương  
tựa vào nhau, bất chấp không hề bà con thân thích, bởi dù sao cũng cùng chung  
một nguồn cội xứ Huế:  
93  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
Rồng chầu xứ Huế,  
Ngựa tế Đồng Nai.  
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài,  
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.  
(Ca dao)  
Do tâm thức luôn nhớ về cội nguồn xứ Huế nên trong các bài hát ru Nam  
Bộ và ca dao Nam Bộ nói chung thường nhắc đến Huế. Chúng tôi sưu tập được 19  
câu có cụm từ “ngoài Huế”, chẳng hạn:  
- Anh về, em chẳng dám cầm,  
Dang tay đưa bạn, ruột bầm như dưa.  
Anh về ngoài Huế lâu vô,  
Vẽ tranh họa đồ để lại cho em.  
Anh về, em túm vạt áo em la làng,  
Bỏ chữ thương, chữ nhớ lại giữa đàng cho em.  
- Rượu ngon ngoài Huế đem về,  
Dẫu anh không uống, vợ kề cũng say.  
- Trời mưa dầm dề cây khế,  
Em cảm thương người ngoài Huế mới vô .  
- Yêu nhau từ thuở má hồng,  
Đến khi má tóp lưng còng vẫn yêu.  
Phải nhơn duyên cây khế mọc ngoài Huế cũng bứng về trồng,  
Không phải nhân duyên cây cúc mọc vườn hồng cũng chẳng ham.  
Ngoài ra, ở Nam Bộ cũng rất phổ biến nhiều dị bản của bài Lý chiều chiều,  
thể hiện nỗi nhớ nhung cố quán của những người con ly hương nơi đất phương  
Nam với hình ảnh cây ngô đồng ở miền Trung:  
Chiều chiều ra đứng Tây lầu Tây,  
Tây lầu Tây, thấy cô tang tình mà gánh nước  
Tưới cây, tưới cây ngô đồng...  
Ai í xui trong lòng, trong lòng xót thương.  
Thương cô tưới cây ngô đồng.  
Chiều chiều ra đứng bên dòng sông,  
Sông dòng sông, thấy cô tang tình khuấy nước,  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
94  
Đẩy đưa, đẩy đưa con đò…  
Thương, cứ thương trong lòng, con đò sang sông.  
Mênh mông nước trôi xuôi dòng…  
Trong các thế kỷ trước ở Nam Bộ có nhiều vị thầy Nho từ miền Trung vào  
lập nghiệp, làm nghề dạy chữ Nho kiêm thầy thuốc và coi ngày,(15) được dân địa  
phương trân trọng gọi là thầy Huế, mặc dù các vị này có thể ở xứ Quảng. Dân Nam  
Bộ gọi tên các ông thầy này bằng công thức “thầy Huế + tên riêng” rất trân trọng.  
Suốt mấy trăm năm, các vị này đã đóng vai trò là người hướng dẫn tinh thần cho  
quảng đại quần chúng ở Nam Bộ vốn thường ít học nhưng rất tôn trọng trí thức.  
Đặc biệt, đến năm 1908, nổ ra Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (Trung Kỳ  
dân biến), do các lãnh tụ của Phong trào Duy Tân lãnh đạo. Thực dân Pháp ra tay  
đàn áp, các lãnh tụ phong trào đều bị bắt, người bị xử tử, kẻ bị lưu đày… Một số  
người may mắn trốn thoát chạy vào Nam mai danh ẩn tích. Do đó, đầu thế kỷ XX ở  
Nam Bộ có thêm một lực lượng đáng kể các vị thầy Huế. Họ mang theo không chỉ  
vốn Nho học và nghề thuốc mà cả tinh thần ái quốc và chí khí kẻ sĩ để trao truyền  
cho dân Nam Bộ. Nhờ vậy mà dân Nam Bộ thường vốn ít học nhưng lại thích nói  
Nho, có khuynh hướng bảo hoàng, trọng thánh hiền, mê truyện Tàu, rành điển tích  
và thích các điệu hát muồi.  
Nếu như các ông thầy Huế nói trên đã góp phần to lớn trong việc xây dựng  
nên đời sống tinh thần và văn hóa phi vật thể cho cư dân Nam Bộ thì các ông thợ  
Huế lại có đóng góp không nhỏ về văn hóa vật thể cho cư dân Nam Bộ. Thợ Huế  
là danh từ của dân Nam Bộ dùng để những người thợ từ miền Trung vào làm các  
nghề xây cất, nghề mộc, chạm khắc… Đặc biệt, trong các thế kỷ trước, các công  
trình kiến trúc lớn (thường bằng gỗ) ở Nam Bộ như dinh thự, công sở, nhà cửa quy  
mô lớn đều phải nhờ các toán thợ Huế vào làm. Có nhiều chủ nhà ở Nam Bộ nuôi  
cả toán thợ Huế hàng mấy năm trời để xây cất và chạm khắc trang trí nhà cửa.  
Về đẳng cấp, tay nghề của thợ Huế luôn cao hơn thợ Nam nên mặc dù phải  
trả chi phí cao hơn, người ta vẫn phải mời cho được thợ Huế vào làm để đảm bảo  
chất lượng công trình. Do đó mà thuật ngữ kiến trúc dân gian ở Huế và Nam Bộ  
nhìn chung là giống nhau.  
Suốt mấy trăm năm, Nam Bộ với Huế và miền Trung nói chung liên lạc nhau  
chủ yếu bằng phương tiện ghe bầu đi biển. Do đó, ở Nam Bộ, chiếc ghe bầu chính  
là biểu tượng của Huế và miền Trung. Trong các đám cúng việc lề (giỗ họ) ở Nam  
Bộ luôn có nghi thức tống tiễn ghe bầu. Người ta dùng bập dừa, bẹ chuối hay các  
vật liệu nhẹ kết thành mô hình chiếc ghe bầu, bên trên có kết hình nhân cầm chèo,  
trong khoang có gạo muối, vài loại bánh rồi thả xuống sông rạch với ý nghĩa tống  
tiễn ông bà tổ tiên trở về quê cũ ở miền Trung.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
95  
Đi ghe bầu từ Huế và miền Trung  
nói chung vào Nam Bộ phải mất  
hàng tháng trời lênh đênh trên  
biển với bao nguy hiểm rình rập.  
Có người bị chìm ghe chết đuối,  
có người bị cướp biển sát hại, có  
người chết vì bệnh, xác phải quăng  
xuống biển, có người bị lạc đường  
mất tích… Những trường hợp “có  
đi mà không có đến” như vậy thì  
dân gian Nam Bộ coi như đã “đi  
theo” Thủy đội Trường Sa(16) và  
lấy ngày ra đi làm ngày giỗ, gọi là  
cúng Thủy đạo Trường Sa.  
Hình 4: Các thức cúng việc lề họ Lê, xã Tân Hòa  
Thành, Tân Phước, Tiền Giang, có mô hình chiếc ghe  
bầu. Ảnh: Lê Công Lý.  
Dân đi biển trong các thế kỷ trước ai cũng thuộc làu 2 bài Vè thủy trình/ Vè  
các lái với bản “Hát vô” và bản “Hát ra” dài đến 356 câu thơ lục bát miêu tả thủy  
trình và kinh nghiệm đường biển từ Huế vào Sài Gòn và ngược lại:  
Bắt từ Gia Định kể ra,  
Anh em Thuận Hòa(17) ngoài Huế kể vô.  
Do có cảm tình sâu nặng với Huế và miền Trung nên dân Nam Bộ cũng rất  
yêu quý hình ảnh chiếc ghe bầu. Chúng tôi sưu tập được 15 câu ca dao Nam Bộ có  
nhắc tới ghe bầu, chẳng hạn:  
- Con quạ nó đứng đầu cầu,  
Nó kêu bớ má ghe bầu vô chưa?  
- Con ơi chớ khóc mẹ rầu,  
Bữa mai bữa mốt ghe bầu tới nơi.  
- Chim quyên đậu lái ghe bầu  
Miệng kêu bớ Bảy xuống cầu trao thơ.  
Chính nhờ mối liên hệ tuy xa xôi nhưng khăng khít đó mà đời sống tinh thần  
và văn nghệ ở Nam Bộ có nhiều nét tương đồng với Huế. Chẳng hạn, đây là bài  
hát ru ở Huế:  
Ru con, con théc cho muồi,  
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.  
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,  
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
96  
Vào đến Nam Bộ, các bà các chị chỉ sửa lời đôi chút:  
Ru con, con ngủ cho muồi,  
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.  
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,  
Mua cau chợ Vải, mua trầu chợ Dinh.  
Hay như câu hát huê tình ở Huế và Nam Trung Bộ:  
Cục đá lăn nghiêng lăn ngửa,  
Em cũng sửa cho cục đá lăn tròn.  
Giận anh nói vậy, chớ dạ em còn thương anh!  
Vào đến Nam Bộ nó được sáng tạo thêm nhiều cảnh huống để cho thấy rõ  
hơn tấm lòng son sắt của đôi lứa yêu nhau:  
Cục đá lăn nghiêng lăn ngửa,  
Tôi giơ tay tôi sửa cho nó lại lăn đứng.  
Tôi coi không xứng, tôi sửa nó lại lăn dẹp,  
Tôi thấy nó không đẹp, tôi sửa cho nó lại lăn tròn.  
Này bạn mình ơi,  
Giận thời anh nói vậy,  
Chớ dạ anh vẫn còn thương em!  
Đặc biệt, bài “Lý ngựa ô” vốn xuất phát từ đất Huế (“Ngựa ô anh thắng kiệu  
vàng/ Anh tra khớp bạc đưa nàng về dinh”) lại được truyền bá hết sức mạnh mẽ  
vào Nam Bộ với 15 bản khác nhau với nhiều tiếng đệm âm, đệm nghĩa, tiếng láy  
đưa hơi ít nhiều biến hóa.(18)  
Nhưng quan trọng hơn, có một loại hình nghệ thuật vô cùng nổi tiếng, được  
xem là đặc trưng của văn hóa Nam Bộ là đờn ca tài tử, lại có nguồn gốc từ các  
điệu ca Huế.  
Thật vậy, ông tổ của đờn ca tài tử Nam Bộ – nhạc sư Ba Đợi/ Nguyễn Quang  
Đại – vốn là một nhạc quan của cung đình Huế từng hưởng ứng phong trào Cần  
vương, sau đó đi vào Nam vào cuối thế kỷ XIX và truyền dạy nhạc Huế phối hợp  
với các câu hò điệu lý Nam Bộ làm nên loại hình đờn ca tài tử độc đáo. Chính cái  
căn cước ly hương đó làm nên âm hưởng u buồn chủ đạo của không chỉ đờn ca tài  
tử mà cả nghệ thuật cải lương sau đó.(19)  
Nhưng trước đó cũng phải kể đến vai trò của các nhà Nho đất Gia Định ra  
Huế thi Hội đã tiếp thu nhạc Huế và truyền bá vào Nam làm nên khúc dạo đầu cho  
đờn ca tài tử. Tiêu biểu là Tiến sĩ Phan Hiển Đạo, người đất Vĩnh Kim, nay thuộc  
97  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Ông là nhà Nho nhưng say mê âm nhạc. Ông  
đã đem nhạc Nam ra Huế giới thiệu và tiếp thu nhạc Huế về phổ biến lại tại quê  
nhà. Chính nhờ ông mà đất Vĩnh Kim một thời được mệnh danh là cái nôi phát tích  
đờn ca tài tử Nam Bộ. Trong Điếu cổ hạ kim thi tập (1915), Nguyễn Liên Phong có  
nhắc đến ngón đờn của Tiến sĩ Phan Hiển Đạo: “Lúc ngài ra Huế học cử nghiệp,  
thì có học đặng điệu đờn Huế cũng nhiều, đến khi thi đậu rồi, vua ban cờ, biển, áo  
mão cho về vinh quy…, tác thành môn đệ đông người…  
Khúc đờn Lưu thủy trôi dòng bích,  
Mà giọng kìm tranh điệu Huế còn”.(20)  
3. Vài nhận xét  
“Cây có cội, nước có nguồn” là cách nghĩ bình thường phổ biến của con người.  
Người Việt ở Nam Bộ có gốc gác trực tiếp ở miền Trung – nơi có Huế là thủ phủ –  
nên lẽ dĩ nhiên họ xem Huế là quê cha đất tổ. Trải qua nhiều thế hệ, ý thức đó dần trở  
thành vô thức gắn với tình cảm của cả cộng đồng và biểu hiện ra ở nhiều khía cạnh,  
từ việc tái sử dụng các địa danh cũ của Huế cho tới việc bảo lưu một phần các phong  
tục tập quán của đất Huế. Đặc biệt, Huế thường được nhắc nhớ với tình cảm thiết tha  
qua kho tàng ca dao và văn học nghệ thuật Nam Bộ như là ký ức của lưu dân.  
Ở Nam Bộ rất thường nghe hai danh từ Bắc Kỳ và Nam Kỳ nhưng rất hiếm  
khi nghe danh từ Trung Kỳ, bởi lẽ trong tâm thức của họ, người Nam Bộ không  
thấy có khoảng cách về căn cước giữa mình và miền Trung. Thay vào đó, họ gọi  
miền Trung là ngoài Huế/ xứ Huế hàm nghĩa tuy xa xôi về địa lý nhưng có sợi dây  
thân thiết về tình cảm và gốc gác ông bà.  
Chính ký ức lưu dân đó giúp dân Nam Bộ bước vào môi trường mới tuy năng  
động với nhiều mối giao lưu nhưng vẫn không quên nguồn cội. Nhờ đó mà dân  
Nam Bộ có được phong cách sống hài hòa giữa cũ và mới; trong và ngoài, phương  
Đông và phương Tây; của ta và của người; bảo tồn và phát huy…, làm nên bức  
tranh văn hóa Nam Bộ tuy đa dạng, sáng tạo mà không lai tạp, mất gốc.  
L C L  
CHÚ THÍCH  
(1) Ra đi là sự đánh liều,  
Dại như con trẻ chơi diều đứt dây. (Ca dao).  
(2) Bài Hành phương Nam của Nguyễn Bính, do đó, từ hơn nửa thế kỷ nay đã gây xao xuyến  
biết bao tâm hồn người dân đất phương Nam:  
Quê nhà xa lắc xa lơ đó,  
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.  
(3) Trường ca Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
98  
(4) Thời điểm xuất hiện tại Nam Bộ.  
(5) Đây là niên đại của tài liệu ghi nhận địa danh này.  
(6) Phường Bình Trị Đông, Phường Bình Trị Đông A, Phường Bình Trị Đông B.  
(7) Phong Điền trước hết là tên chợ:  
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền,  
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền,  
Chứ đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê. (Ca dao).  
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền là tên 4 ngôi chợ.  
(8) Theo Lê Hữu Uy trong “Làng Nhơn Ái 200 năm khai khẩn”, vào đầu thế kỷ XIX có hai dòng  
họ ông Lê Tam và ông Trần Văn Chiến từ huyện Phong Điền, Thừa Thiên đến đây lập thôn  
Nhơn Ái. http://www.ptgdtdusa.com/id1623.html, truy cập ngày 10/7/2016.  
(9) Thuộc là đơn vị hành chính sơ khai (tương đương tổng) ở những vùng mới khai phá thời  
chúa Nguyễn.  
(10) Trường biệt nạp (1741 - 1779) là các kho lúa thu thuế, nạp riêng, tính riêng ở những vùng  
còn hoang vu, do người Hoa làm cai thầu và nộp thẳng lên kho Quản Thảo thuộc dinh Điều  
Khiển đặt tại Bến Nghé. Đương thời ở vùng đất Đồng Nai - Gia Định có 9 trường biệt nạp là:  
Quản Thảo, Hoàng Lạp, Tân Thạnh, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Tam Lạch, Bả Canh, Quy An,  
Quy Hóa.  
(11) Theo “Địa bạ Minh Mạng” (1836), thôn Mỹ Lộc, tg. Lộc Thành Thượng, h. Phước Lộc, p. Tân  
An, t. Gia Định, có hơn 959 mẫu trong tổng số hơn 1.000 mẫu ruộng thuộc Thiên Mụ điền.  
(12) Như đã nói ở phần trên, trong suốt mấy trăm năm, tư duy về hướng Bắc của cư dân Nam  
Bộ chỉ đến Huế là hết, nên các tỉnh từ Quảng Trị trở ra họ cũng gọi là Huế.  
(13) Trong tiểu thuyết danh nhân “Tuổi xanh Nguyễn Đình Chiểu” của Thái Vũ (Nxb Trẻ, 2000, tr.  
204 - 208) có chương cuối mang tên Về Huế, miêu tả tâm trạng náo nức của cậu bé Nguyễn  
Đình Chiểu khi được cha chuẩn bị cho về Huế:  
“Về Huế!  
Về Huế!  
Nguyễn Đình Chiểu không thể ngờ được khi nghe hai tiếng đó từ miệng cha, ông Nguyễn  
Đình Huy.  
Về Huế!  
Chiểu như uống chung rượu ngọt ngào, thắm đậm từ hai tiếng đó. Cậu ngây ngất trong hơi  
men của quê cha, quê nội.  
Huế! Huế rộn rã trong lòng cậu với con Sông Hương mà cậu chưa thể hình dung nổi, với núi  
Ngự Bình mà cậu nghĩ là cao vời vợi.[…]  
Về Huế! Hai tiếng đó đã lôi cuốn mọi sự suy tư của Chiểu. Huế! Quê hương. […]  
Con sinh ra và lớn lên ở đất Gia Định này. Nhưng Huế, Huế vẫn là quê hương…”.  
Tâm trạng đó không riêng của Nguyễn Đình Chiểu mà chính là tâm thức chung của cư dân  
Nam Bộ.  
(14) Bắc ở đây phải hiểu là Huế, vì đây là hai câu thơ trong bài “Ngóng gió đông”, bày tỏ tâm  
trạng lòng dân Nam Bộ đang trông chờ quân triều đình Huế vào Nam dẹp giặc Pháp.  
99  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
(15) Ở Nam Bộ, coi ngày chỉ phong tục chọn lựa ngày tốt để tiến hành những việc quan trọng  
như: xuất hành, cưới gả, dựng nhà, khai trương, v.v.  
(16) Thủy đội Trường Sa là đội quân của các chúa Nguyễn có trách nhiệm khai thác các nguồn  
lợi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Họ thường có đi mà không có về nên hàng năm  
được chính quyền và dân cư đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) tổ chức cúng lễ Khao lề thế lính  
Trường Sa/ Hoàng Sa.  
(17) Làng Thuận Hòa, tg. Vĩnh Trị, h. Hương Trà (1886).  
(18) Theo Lư Nhất Vũ - Lê Giang (1983), Tìm hiểu dân ca Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,  
tr. 376 - 385.  
(19) Đặc biệt, trong 20 bản tổ của đờn ca tài tử Nam Bộ có 3 bài Nam (Nam xuân, Nam ai, Ðảo  
ngũ cung) mang giọng nhạc trầm buồn ai oán. Nhạc sĩ đờn 3 bài này thì day mặt về hướng  
html, truy cập ngày 04/7/2016.  
(20) Nguyễn Liên Phong (1915, tái bản 2013), Điếu cổ hạ kim thi tập, Cao Tự Thanh chỉnh lý và  
giới thiệu, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 69.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Chu Sa Lan, “Ông thầy Huế”, http://vnthuquan.net.  
2. Cổ Mộ (2016), “Ngọn nguồn bi cảm của vọng cổ”, Kiến thức ngày nay, số 879, ngày  
10/01/2015.  
3. Đỗ Bang chủ biên (2013), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Dân cư và Hành chính, Nxb Thuận  
Hóa, Huế.  
4. Hồ Trung Tú (2011), “Có 500 năm như thế (Bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch  
sử)”, Nxb Thời đại, Hà Nội, http://e-cadao.com.  
5. Lê Công Lý (2010), “Dấu ấn Nam tiến qua một số từ chỉ hướng trong tiếng Việt”, trong Thành  
phố Hồ Chí Minh hướng về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nhiều tác giả, Nxb Thành phố  
Hồ Chí Minh, 10/2010.  
6. Lê Hồng Chương (2007), Từ điển đơn vị hành chính Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa,  
Hà Nội.  
7. Lê Trung Hoa (2015), Từ điển địa danh Nam Bộ (bản thảo).  
8. Lư Nhất Vũ - Lê Giang (1983), Tìm hiểu dân ca Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.  
9. Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Gia Định, Nxb Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
10. Nguyễn Đình Đầu (1997), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Thừa Thiên, Nxb Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
11. Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
12. Nguyễn Lê Tuyên - Nguyễn Đức Hiệp (2013), Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ  
XIX - đầu thế kỷ XX, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
13. Nguyễn Liên Phong (1915, tái bản 2013), Điếu cổ hạ kim thi tập, Cao Tự Thanh chỉnh lý và  
giới thiệu, Nxb Văn hoá - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
14. Nguyễn Thanh Lợi (2014), Ghe bầu Nam Trung Bộ và ghe xuồng Nam Bộ, Nxb Văn hóa  
Thông tin, Hà Nội.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (144) . 2018  
100  
15. Nguyễn Văn Xuân (1967, tái bản 2002), “Khi những lưu dân trở lại”, trong Tuyển tập Nguyễn  
Văn Xuân, Nxb Đà Nẵng.  
16. Thái Vũ (1986, tái bản 2000), Tuổi xanh Nguyễn Đình Chiểu, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
TÓM TẮT  
Cư dân Nam Bộ có nguồn gốc lưu dân từ miền Trung, nơi có Huế là thủ phủ. Do đó, Huế  
thường được nhắc đến ở Nam Bộ với tình cảm sâu nặng như là quê cha đất tổ. Điều này thể hiện  
qua hàng loạt địa danh trên đất Huế được lặp lại ở Nam Bộ. Ngoài ra, yếu tố Huế cũng thể hiện  
rất rõ qua phong tục, ngôn ngữ và nghệ thuật Nam Bộ mà rõ nét nhất là nghệ thuật đờn ca tài tử.  
Chính ký ức lưu dân đó giúp Nam Bộ có phong cách sống hài hòa giữa cũ và mới, trong và  
ngoài, phương Đông và phương Tây, của ta và của người, bảo tồn và phát huy…, làm nên bức  
tranh văn hóa Nam Bộ tuy đa dạng, sáng tạo mà không lai tạp, mất gốc.  
ABSTRACT  
HUẾ IN SOUTHERNERS’ MINDS OR MEMORY OF THE EMIGRANTS  
Most of residents of Southern Vietnam originated from the Central Vietnam where Hue was  
the capital. Therefore, they often think of Hue with deep feelings as the land of their ancestors.  
This is reflected in a series of place names in Hue repeated in the South. Besides, the features  
of Hue are clearly seen in the customs, language and art of the South, the most obvious is the  
southern amateur music.  
It is the memory of the emigrants that helps the South to have a harmonious life style  
between old and new, in and out, East and West, one’s and another’s possession, preservation  
and promotion, etc.. which create a cultural identity for the South, diverse and creative but not  
miscellaneousand aracial.  
pdf 15 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 14800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Huế trong tâm thức Nam bộ hay là ký ức lưu dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhue_trong_tam_thuc_nam_bo_hay_la_ky_uc_luu_dan.pdf