Ngọ môn - Biểu tượng vĩnh hằng của cố đô Huế
Phan Thanh Hꢀi: Ngꢁ m“n - biꢂu tꢃꢄng vꢅnh hꢆng....
NGỌ MÔN -
64
BIỂU TƯỢNG VĨNH HẰNG CỦA CỐ ĐÔ HUẾ
TS. PHAN THANH HꢀI*
TÓM TẮT
Từ góc nhìn lịch sử và văn hóa kiến trúc, cùng những đối sánh, bài viết đã đi đến khẳng định và lý giải một
số vấn đề về triết lý kiến trúc của Ngọ môn - một kiệt tác kiến trúc, một biểu tượng văn hóa gắn liền với kinh
thành Huế xưa cũng như Cố đô Huế hiện nay.
Từ khóa: Cố đô Huế; Ngọ môn; biểu tượng.
ABSTRACT
From the perspective of history and architecture culture and comparison, the paper determines and ex-
plains some issues on architecture philosophy of Ngọ môn (gate of noon) - an architecture masterpiece, cultural
symbol of the past and present Huế citadel.
Key words: Huế citadel; Ngọ môn; symbol;
Việt Nam, có lẽ không có nhiều nơi như Huế hảo. Có lẽ, chỉ ở Huế mới có sự kết hợp tuyệt vời
có được sự giàu có về biểu tượng văn hóa giữa các biểu tượng như vậy. Với con mắt tinh đời,
Ởvùng đất, thậm chí có những nơi người ta
thể coi là biểu tượng của vùng đất này. Nếu không
kể sông Hương - núi Ngự là những thực thể tự
nhiên, thì cầu Trường Tiền, tháp Phước Duyên, Ngọ
môn là những biểu tượng văn hóa có ý nghĩa rất
độc đáo.
Tháp Phước Duyên là biểu trưng của cõi Phật, là
thế giới thiền, bởi Huế từng nổi danh là Thiền kinh-
kinh đô của Phật giáo trong nhiều thế kỷ.
Ngọ môn là biểu tượng của chốn cung đình, của
văn hoá cung đình mà Huế với tư cách là đất Thần
kinh cũng tồn tại trong hàng thế kỷ.
nguyên Tổng Giám đốc Unesco M’Bow đã nhận ra
không thể tìm ra biểu tượng riêng cho mình. Huế điều đó:“Huế thực hiện được sự tổng hợp giữa đạo
có sông Hương, núi Ngự; có chùa Thiên Mụ, cầu và đời trong kiến trúc, tổng hợp được cổ xưa và
Trường Tiền và đặc biệt là Ngọ môn..., tất cả đều có hiện đại; qua đó cố đô cổ kính chung sống với
thành phố trẻ ngày nay”1.
Riêng đối với Ngọ môn, người xưa đã xem công
trình này là một kiệt phẩm, xứng đáng để tham dự
vào vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời - tức Thiên - Địa,
để tạo thành sự “Thái hoà” tuyệt diệu mà không
chút mặc cảm. Bài thơ khắc trên Ngọ môn đã nói
lên niềm tự hào ấy:
“Bất đãi trùng môn khai,
Dĩ vô nhất ẩn xứ.
Nghiên sy khả thị nhân,
Động triệt kham gia nhữ”.
Cầu Trường Tiền, dù đã có trên trăm năm tuổi,
là biểu tượng của văn minh hiện đại, đồng thời là
nhịp nối uyển chuyển giữa quá khứ với hiện tại,
giữa cổ - kim, xưa - nay…
Tạm dịch:
Cửa cung không đợi mở,
Bởi cần giấu diếm chi.
Xấu đẹp đều phô bày
Ngọ môn 5 cửa. Cầu 6 vài (vì). Tháp 7 tầng. Các
con số 5 - 6 - 7 (tổng là 18) - theo quan niệm Đông
phương thì thật đẹp và là biểu trưng của sự hoàn
Làm đẹp thêm người thay!
1. Việc xây dựng
Thường là khi xây dựng một căn nhà, chiếc cửa,
bao giờ cũng được làm sau cùng để người ta có dịp
chỉnh trang, trau chuốt cho hợp ý nhất “cái đóng -
* Giám đꢀc Trung tâm Bꢁo tꢂn Di tích Cꢀ đô Huꢃ
Sꢇ 1 (50) - 2015 - Di sꢀn vꢈn h‚a vꢉt thꢂ
mở” của nơi mà mình cư ngụ, gắn bó suốt cả cuộc vòng tay rộng mở để đón khách muôn phương...
đời, thậm chí là rất nhiều đời, nhiều thế hệ. Ngọ Nhưng điểm khác nhau quan trọng nhất giữa Đoan
môn cũng vậy. Chiếc cửa này được xây dựng sau khi môn và Ngọ môn là cấu tạo và ý nghĩa của hai công
hoàng đế Minh Mạng hoàn chỉnh việc quy hoạch, trình này. Theo quy chế thành trì Trung Hoa, được
sắp xếp lại toàn bộ Hoàng thành và Tử Cấm thành, quy định trong Khảo Công ký, Đoan môn với 2 lối đi
một công cuộc đã được thực hiện từ trước đó hơn trổ hai bên chỉ là chiếc cửa dành cho Chư hầu, còn
chục năm2. Việc xây dựng Ngọ môn được khởi công Ngọ môn với 5 lối đi thực sự là chiếc cửa của bậc
vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833), sau khi triệt hạ hoàng đế7!
65
Nam Khuyết đài và điện Càn Nguyên ở bên trên3.
Về mặt cấu trúc, có thể chia tổng thể kiến trúc
Thự Thượng thư Bộ Binh Lê Văn Đức, vị đại thần sau Ngọ môn làm 2 phần chính: phần nền đài, với 5
này đã có công lao lớn trong việc tìm ra cuộc đất để chiếc cửa trổ xuyên qua và phần lầu Ngũ phụng -
xây dựng Hiếu lăng, được chỉ định làm người chỉ một công trình đồ sộ được đặt ngay trên phần nền
huy công trường. Một khối lượng khổng lồ gạch, đài này.
đá, ngói, gỗ, vôi, mật và cả xà đồng, đinh sắt đã
được huy động để xây dựng chiếc cửa lớn nhất của
2.1. Phần nền đài
Đây thực sự là một đài cao, xây vượt lên trên mặt
Hoàng cung. Chất lượng xây dựng Ngọ môn cũng nền chung khoảng hơn 5m. Bình diện đài có hình
được xếp vào hàng đặc biệt. Vữa xây được gia thêm chữ U vuông góc, đáy dài 57,96m và mỗi cánh dài
rất nhiều mật so với bình thường4. Triều đình còn 27,50m8, diện tích tổng cộng mặt nền chừng
cho chi cả dầu trẩu để làm keo dán ghép các lớp 1.400m2. Vật liệu xây dựng đài chủ yếu là gạch vồ,
gạch đá bên ngoài để tăng độ bền vững và tính mỹ đá thanh và vữa tam hợp, cùng những thanh đồng
thuật của công trình. Riêng tại 3 chiếc cửa vòm thau dùng làm xà chịu lực ở trên 3 cửa giữa. Trổ
cuốn chính giữa trổ xuyên qua nền đài, các xà đồng xuyên qua thân đài là 5 chiếc cửa, trong đó có 3 cửa
lớn đã được dùng để gia cường sức chịu lực, một ở giữa đặt song song với nhau, là Ngọ môn (chính
việc chưa hề có tiền lệ trong xây dựng trước đó5.
giữa), Tả Giáp môn (bên trái) và Hữu Giáp môn (bên
Chính sự đầu tư lớn lao đó đã tạo nên một Ngọ phải). Hai cửa bên được trổ xuyên qua lòng mỗi
môn tuyệt vời, một chiếc cửa đẹp chưa từng có! Và, cánh chữ U nên cũng có hình gấp khúc tựa những
điều đặc biệt là dù trải qua hơn 170 năm lịch sử, với đường hầm chạy xuyên suốt từ trong ra ngoài,
bao biến động thăng trầm của Cố đô, Ngọ môn vẫn đoạn chính song song với 3 cửa ở giữa nhưng khi ra
tồn tại vững vàng, hiên ngang như thuở ban đầu hết cánh chữ U thì bẻ thẳng góc vào phía trục
nhờ sự quan tâm chăm sóc đặc biệt của những thế chung của Hoàng cung, toàn bộ chiều dài của
hệ người Huế và cả bạn bè bốn phương6.
đường hầm này khoảng 25m. Hai cửa bên này được
gọi là Tả Dịch môn và Hữu Dịch môn. Điểm đặc biệt
2.Cấu trúc Ngọ môn
Ngọ môn là một chiếc cửa đặc biệt, bởi nó của 2 chiếc cửa có lối đi hình chữ L này là mỗi cửa
không đơn thuần là một chiếc cửa thành, mà còn đều được bố trí thêm một cửa sổ hình tròn trang trí
là một lễ đài quan trọng bậc nhất của triều Nguyễn. hình chữ Thọ cách điệu trên bức tường ngoài thân
Cấu trúc của Ngọ môn, vì vậy cũng rất đặc biệt.
đài. Mỗi cửa sổ này có đường kính 87cm, được đặt
Trên nền Nam Khuyết đài xưa, triều Nguyễn đã chéo một góc 300, tương ứng với đoạn bẻ vuông
cho xây dựng một chiếc cửa thành mới là Ngọ môn, góc của lối đi, nhằm tăng cường ánh sáng cho
với bình diện thoáng, nhìn ngỡ như tương tự. đường hầm. Phía trên của 5 lối đi này đều xây kiểu
Nhưng, trên thực tế, cấu trúc của Ngọ môn khác xa vòm cuốn, phần lớn ốp bằng đá thanh, riêng ở hai
Nam Khuyết đài! Hiện nay, ba mặt Đông - Tây - Bắc đầu ba lối đi giữa có hệ thống xà đồng hình khối
của Hoàng thành Huế vẫn còn các Khuyết đài. Đó là chữ nhật đặt ngang dọc, tiết diện xà, loại lớn
những cấu trúc được đặt lồi hẳn ra bên ngoài tường khoảng 16cm x 13cm, loại nhỏ khoảng 13cm x
thành và không có cửa trổ xuyên qua. Có lẽ, Nam 8,5cm; mỗi xà dài từ 2,3m đến 5,4m. Đây là hệ
Khuyết đài cũng có bình diện tương tự các Khuyết thống xà nhằm gia cường khả năng chịu lực của
đài này nhưng lại có trổ 2 cửa ở hai bên, mang tên thân đài, bởi bên trên nó còn có cả hệ thống kiến
là Tả Đoan môn và Hữu Đoan môn. Ngọ môn, trái trúc đồ sộ của lầu Ngũ phụng. Cách bố trí hệ thống
lại, cấu trúc cũng được đặt lồi ra phía ngoài tường xà đồng này căn cứ vào vị trí chịu lực của thân đài,
thành, nhưng lại tạo nên một mặt nền hình chữ U, chủ yếu là các vị trí đặt hệ thống cột trụ ngoài của
với phần bụng - lõm đặt hướng ra phía ngoài. Cấu lầu Ngũ phụng. Theo thống kê của nhà nghiên cứu
trúc này khiến nhiều người liên tưởng đó là một Phan Thuận An, cửa giữa có 24 thanh xà đồng, hai
Phan Thanh Hꢀi: Ngꢁ m“n - biꢂu tꢃꢄng vꢅnh hꢆng....
cửa bên mỗi cửa có 23 thanh, tổng cộng có 70 lang được nâng cấp. Toàn bộ 9 toà lầu này được liên
thanh9. Bên ngoài các thanh xà đồng này có bọc kết với nhau hết sức khéo léo từ hệ thống khung
một lớp đồng dát mỏng và được mài bóng qua thời nhà đến mái lợp. Trong 9 toà lầu này chỉ duy nhất có
gian. Phía trước cửa chính giữa, ở phía trên có một toà lầu chính giữa lợp bằng ngói ống màu vàng- tức
ô hộc hình chữ nhật, trong gắn hai chữ Hán lớn ngói hoàng lưu li, 8 toà còn lại mái đều lợp ngói
“Ngọ môn”. Tương truyền, các chữ này vốn được thanh lưu li (màu xanh); vì vậy mà Ngọ môn mới có
bọc vàng, nhưng nay chỉ thấy hai chữ bằng đồng10... “một lầu vàng, tám lầu xanh”.
66
Về kích thước của các cửa của Ngọ môn, sách
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐ ĐNHĐSL) của 1,14m, xây ngay trên phần nền đài (vốn đã cao hơn
Nội các triều Nguyễn có ghi rõ: 5m). Toàn bộ phần nền nhà này được xây bó vỉa rất
Lầu Ngũ phụng được dựng trên một nền cao
"Cửa xây bằng gạch đá, cửa giữa cao 1 trượng 3 chắc chắn bằng gạch vồ và đá thanh, mặt nền lát
thước 3 tấc, rộng 8 thước 2 tấc; 2 cửa Tả Hữu Giáp gạch hoa xi măng kiểu Pháp (vốn xưa lát gạch Bát
môn đều cao 1 trượng 2 thước 4 tấc 5 phân, rộng 6 Tràng tráng men).
thước 3 tấc; 2 cửa Tả Hữu Dịch môn đều cao 7 thước
6 tấc, rộng 6 thước 3 tấc; chiều cao tổng thể của cửa gỗ lim, được sơn son thếp vàng, trong đó có 48 cây
từ mặt nền lên là 1 trượng 4 thước 9 tấc"11.
cột phía trong ăn xuyên qua cả hai tầng. Hệ thống
Bộ khung của lầu Ngũ phụng gồm 100 cây cột
Hệ thống bậc cấp để từ mặt đất đi lên nền đài cột và bộ khung gỗ đủ chắn chắn để đỡ toàn bộ 9
được bố trí ở hai bên thân đài và nằm hẳn về phía bộ mái khá lớn của ngôi lầu này và hầu như chưa
sau. Đây cũng là phần được bố trí lùi vào phía từng bị gió bão xô ngã, kể cả cơn bão năm Thìn
trong so với bức tường trước của Hoàng thành, (1904) làm gãy cả cầu Trường Tiền. Con số 100 cây
phần này rộng 5,25m. Cách bố trí này thật khéo cột cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập.
và hầu như không ảnh hưởng đến hình khối của Phan Thuận An cho rằng, đó là tổng của Hà Đồ và
thân đài. Mỗi hệ thống bậc cấp gồm 21 bậc, làm Lạc Thư trong Kinh Dịch, biểu hiện của sự hài hoà
hoàn toàn bằng đá thanh, mỗi bậc cao 22cm. Bao “âm dương nhất thể”12; Liễu Thượng Văn thì kiến
quanh phần trên nền đài là hệ thống nữ tường giải đó là biểu trưng của sức mạnh trăm họ (bách
(lan can) được trang trí bằng nhiều kiểu gạch hoa tính), biểu hiện của tư tưởng “dân vi bản” của các
đúc rỗng, tráng men màu.
vua triều Nguyễn13.
2.2. Hệ thống lầu Ngũ phụng
Tầng lầu bên dưới của Ngũ Phụng lâu phần
Gọi là lầu Ngũ phụng vì toà nhà được ví như 5 lớn đều để trống, chỉ trừ tòa nhà chính giữa là có
con chim phụng hoàng đang đậu liền nhau. Tất hệ thống cửa - kiểu “thượng kính hạ bản” ở mặt
nhiên, đây chỉ là cách gọi hình tượng lấy từ điển tích trước và che ván/vách ở các mặt còn lại để bảo
xưa, còn trên thực tế, lầu Ngũ phụng là cả một tổ đảm cho sự kín đáo của nơi thiết ngự tọa mỗi khi
hợp kiến trúc gồm 9 chiếc lầu được ghép nối tiếp vua ngồi dự lễ. Ở hai cánh hai bên, theo nguyên
liền mạch với nhau. Ca dao của Huế có câu:
"Ngọ môn năm cửa chín lầu,
tắc truyền thống: “tả chung, hữu cổ”, gian ở góc
bên trái cánh chữ U đặt chuông, gian ở góc bên
Một lầu vàng, tám lầu xanh, ba cửa thẳng, hai phải đặt trống. Chiếc trống hiện nay là chiếc trống
cửa quanh.."
đã được phục chế, còn chiếc chuông hiện còn vẫn
Qủa là đã mô tả thật chính xác và sinh động cấu là chiếc chuông nguyên thuỷ, cao gần 4 thước
trúc của lầu Ngũ phụng.
(1,8m), nặng 1.359 cân (815kg), do vua Minh
Chín ngôi lầu này đều gồm hai tầng, kiểu thức Mạng sai đúc vào năm 182214.
khá đồng nhất dù quy mô khác nhau. Xét về thực
Trái lại ở tầng trên thì che chắn kín, mặt trước
chất, Ngũ Phụng lâu gồm 5 toà lầu chính và 4 toà lầu giữa dựng cửa lá sách, chung quanh dựng ván,
lầu phụ, chia thành 3 dãy xếp thẳng góc với nhau, nhưng có trổ nhiều cửa sổ với kiểu dạng khá phong
trong đó, dãy chính là phần giữa, tức nằm ngay đáy phú, như hình tròn, hình rẻ quạt, hình chiếc khánh...
chữ U. Trong dãy chính giữa này, phần trung tâm là
Chính hệ thống các cửa sổ này cùng với hệ
một toà lầu kiểu 3 gian 2 chái có chiều cao vượt hẳn thống lan can con tiện bằng gỗ ở tầng lầu trên và
so với các ngôi lầu còn lại; nối qua hai bên là 2 dãy lan can bằng gạch hoa đúc rỗng ở nữ tường bao
lầu phụ, thực chất là những đoạn hành lang được quanh nền đài làm cho tổng thể kiến trúc Ngọ môn
nâng cấp để tương xứng với ngôi lầu. Hai dãy hai trở nên nhẹ nhàng, thanh tú. Họa sĩ Phạm Đăng Trí
bên cánh, mỗi dãy gồm 2 toà lầu chính và 1 toà lầu đã có một nhận xét thật tinh tế:
phụ. Về thực chất, lầu phụ này cũng là những hành
"Các bao lơn và lan can bằng gỗ chạy vòng
Sꢇ 1 (50) - 2015 - Di sꢀn vꢈn h‚a vꢉt thꢂ
quanh lầu gợi ta nhớ đến một
chuỗi hạt huyền, làm nổi bật
lên các cánh cửa chạm trổ của
toà lầu chính giữa và các cửa
sổ dạng mặt nguyệt, chiếc
quạt, cái khánh... của mặt sau
67
các toà lầu ở hai bên...
Các nhà kiến trúc xưa của
chúng ta đã biết làm mất đi sự
đơn điệu do tính đều đặn
bằng những biến tấu kết hợp
với các tỉ lệ phù hợp. Họ đã
phân bố những không gian
đóng (mái, tường, cửa), các
không gian thưa (lan can) với
các không gian trống (những
dãy cột thoáng nhìn thấy
được cả trời xanh). Mục đích
Ngꢁ m“n (Cꢇ ꢊ“ Huꢋ) - ꢌnh: Tꢃ liꢍu Cꢎc Di sꢀn vꢈn h‚a
thơ Ngũ ngôn để trang trí theo lối nhất thi nhất
họa. Có thể khẳng định, đây là những bài thơ rất
hay; và, hơn thế, chúng đã thay người xưa nói lên
rất nhiều điều. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu 8
bài thơ trên theo thứ tự từ trước ra sau.
- Mặt trước: thứ tự các bài từ phải qua trái (theo
cách đọc chữ Hán xưa) như sau:
Bài 1:
của một sự phân bố như vậy, ngoài yếu tố thẩm
mỹ, theo tôi còn nhằm để tạo cho Ngọ môn mang
dáng vẻ một con chim đang dang cánh nhưng lại
đậu vững chắc trên một tảng đá vững chãi"15.
Trên hệ thống mái của lầu Ngũ phụng cũng
được trang trí rất công phu và tinh tế. Ở bờ nóc và
bờ quyết đều trang trí hình rồng, giao (long) đắp
bằng vôi vữa và sành sứ; cũng như ở mái điện Thái
hòa, có thể xem đây là giang sơn của các loài rồng
(dù tên công trình là lầu Ngũ phụng). Chính giữa bờ
nóc toà lầu giữa là bình hồ lô bằng pháp lam sắc
vàng rực rỡ; dải bờ nóc ngay bên dưới được trang trí
các ô thơ và các vật quý trong bát bửu, hoặc hoa lá
biểu trưng cho tứ quý, tứ thời… theo kiểu“nhất thi
nhất họa”. Ở các ô hộc khác thuộc bờ nóc, bờ quyết
và các đầu hồi của mái lầu còn được trang trí nhiều
hình ảnh rồng, giao (long), dơi ngậm kim tiền, hoa
lá..., càng làm cho phần mái công trình có vẻ nhẹ
nhàng và duyên dáng.
“Bất đãi trùng môn khai,
Dĩ vô nhất ẩn xứ16.
Nghiên sy khả thị nhân,
Động triệt kham gia nhữ”.
Dịch nghĩa:
Cửa cung không đợi mở
Bởi chẳng cần giấu diếm điều chi.
Xấu đẹp đều có thể phô bày,
Càng làm tăng thêm vẻ đẹp của sông Hương,
núi Ngự.
Bài 2:
“Phương chiểu sinh văn tảo,
Trường đê thực Thuấn hoa.
Tuy tầm thường cảnh trí,
Dữ cổ triết giao gia”.
Dịch nghĩa:
Nhìn chung, với cách cấu trúc và trang trí độc
đáo, Ngọ môn tuy là một công trình kiến trúc đồ sộ,
có chiều cao đáng kể nhưng người xưa đã tạo cho
nó một vẻ đẹp thanh nhã và duyên dáng rất đặc
biệt. Điều đáng nói nhất là công trình này rất hoà
hợp với cảnh quan xung quanh, với sông Hương,
núi Ngự... Với giá trị ấy, có thể xếp Ngọ môn vào
hàng những công trình kiến trúc nghệ thuật xuất
sắc nhất của triều Nguyễn nói riêng và kiến trúc cổ
Việt Nam nói chung.
Trong ao vuông tảo dệt thành hoa gấm,
Trên bờ đê dài trồng hoa bông cẩn (hoa dâm bụt).
Cảnh trí tuy có vẻ tầm thường,
Nhưng có thể giao hoà với những gì cổ xưa.
Bài 3:
3. Thơ văn trên Ngọ môn
“Vân tế huyền17 sơ thướng,
Ảnh tà thể vị viên.
Hà tu tam ngũ dạ,
Trên dải bờ nóc của gian chính giữa lầu Ngũ
phụng, tức tại vị trí gần như cao nhất của Ngọ môn,
ở cả hai mặt trước, sau, người xưa đã dùng 08 bài
Dĩ chiếu mãn sơn xuyên”.
Phan Thanh Hꢀi: Ngꢁ m“n - biꢂu tꢃꢄng vꢅnh hꢆng....
Dịch nghĩa:
“Liên trì trình diễm sắc,
Quế điện tống thanh hương.
Viễn lâm ngưng ngọc lộ,
Tiêu Hán diệu kim quang”.
Dịch nghĩa:
Ao sen đương khoe sắc,
Vầng trăng non tựa cánh cung treo trên mây,
Bóng trăng còn chưa tròn.
Nhưng chẳng cần đợi rằm đến,
Ánh trăng đã chiếu khắp cả non sông.
Bài 4:
68
“Xảo18 tượng gia ngôn lặc,
Côn cương danh cửu tri.
Âm tiêu dương trưởng hậu,
Thiên đạo thái lai thì”.
Cung quế ngào ngạt hương thơm.
Những giọt sương đọng trên lá cây trong ngự
uyển,
Cung điện nhà vua sáng rực ánh vàng.
Dịch nghĩa:
Người thợ khéo tạc nên những lời hay ý đẹp,
Như vậy, âm hưởng chủ đạo của các bài thơ trên
là sự ca ngợi triều đại mới - tức triều Nguyễn, ca
Như danh tiếng trường cửu của núi Côn Cương ngợi vẻ đẹp của cung điện, của kiến trúc, những sản
vậy.
phẩm được sáng tạo bởi bàn tay con người. Qua 8
Âm khí tiêu tan nhường chỗ cho dương khí bừng bài thơ này, người xưa đã tự hào khẳng định, những
dậy,
Trên Thiên đạo vận thái đã đến.
gì do mình sáng tạo ra (mà tiêu biểu là Ngọ môn)
hoàn toàn xứng đáng để hoà nhập vào vẻ đẹp của
- Mặt sau: Thứ tự các bài từ phải qua trái như sau: tự nhiên, hoà vào Thiên - Địa để tạo nên sự hài hoà
Bài 1:
tuyệt đối giữa trời, đất và con người. Vì vậy, trên một
góc độ nào đó có thể xem 8 bài thơ này là sự biểu
thị một cách rất hàm súc, rất văn học tư tưởng“Thái
hòa”của người phương Đông.
“Bản căn tùng Bắc19 địa,
Chi cán lộ Nam thiên.
Khai hoa ưng chiếu hải,
Mạt diệp ấm hà xuyên”.
Dịch nghĩa:
4. Ngọ môn trong cái nhìn so sánh
Có một thực tế đã từng tồn tại trong thời gian
không phải là ngắn, là các nhà nghiên cứu của
chúng ta vẫn thường đem Ngọ môn của Huế ra để
so sánh với Thiên An môn của Hoàng cung Bắc
Cây có gốc rễ từ đất Bắc,
Nhưng cành lá thì vươn che khắp cả trời Nam.
Hoa nở ra soi bóng trên biển cả,
Lá trên ngọn cây đủ che bóng mát cả muôn sông Kinh, Trung Quốc. Sự so sánh này đã tạo nên một
suối.
sự ngộ nhận, một sự nhầm lẫn cần được cải chính:
cấu trúc Ngọ môn theo bình diện hình chữ U là
hoàn toàn của Huế, một sáng tạo riêng của chúng
ta! Có lẽ, vì Thiên An môn quá nổi tiếng và là cửa
chính mặt Nam của Hoàng thành Bắc Kinh nên ít ai
còn nhớ ra rằng, trong Hoàng cung Bắc Kinh còn
có một cửa cũng mang tên là Ngọ môn và đây mới
là chiếc cửa chúng ta nên đem ra để so sánh với
Bài 2:
“Phong chí nhiệt hà chỉ20,
Phiến huy mạc thích nhiên.
Mạn vân vi tiểu vật,
Hành đạo tế thời hiền”.
Dịch nghĩa:
Gió thổi không làm hết cái nóng,
Lấy quạt mà quạt cũng không xoá hết cái nóng Ngọ môn của Huế.
nực. Ngọ môn Bắc Kinh là cửa chính mặt Nam của Tử
Chớ nói rằng đây chỉ là vật nhỏ,
Đây là cái giúp cho người hiền hành đạo nghĩa.
Bài 3:
“Lục diệp niên niên mậu,
Chu hoa nguyệt nguyệt tân.
Kham xưng thiên thượng vật,
Chiếm21 tận thế gian xuân”.
Dịch nghĩa:
Lá xanh tốt quanh năm,
Hoa đỏ tháng nào cũng nở.
Xem đó là phẩm vật trên thượng giới,
Chiếm chọn sắc xuân của thế gian.
Bài 4:
Cấm thành (nay thường gọi là Cố cung), được xây
dựng từ đầu thế kỷ XV, dưới triều Minh, được giữ
nguyên cấu trúc qua triều Thanh và hầu như không
thay đổi cho đến tận ngày nay. Xét về chức năng,
Ngọ môn Bắc Kinh rất giống Ngọ môn Huế vì trên
rất nhiều phương diện Hoàng thành Huế dưới thời
Nguyễn có nhiều điểm tương đồng với Tử Cấm
Thành triều Minh - Thanh. Theo Trung Quốc cổ đại
kiến trúc từ điển, Ngọ môn Bắc Kinh có bình diện
hình chữ U, cao hơn 35,6m. Cấu trúc cửa gồm 2
phần: phần nền đài cao hơn 12m có 5 cửa ra vào bố
trí theo kiểu“minh tam ám ngũ”(nhìn trước thấy 3,
nhìn sau thấy 5); phần lầu Ngũ phụng gồm 5 tòa
Sꢇ 1 (50) - 2015 - Di sꢀn vꢈn h‚a vꢉt thꢂ
kiến trúc lớn nối liền nhau, mái lầu lợp ngói hoàng của đá thanh xen với màu nâu xám của gạch đã
lưu li... Như vậy, về hình thức và cấu trúc Ngọ môn nhuốm màu thời gian; các cột gỗ của lầu Ngũ
Bắc Kinh có vẻ rất giống Ngọ môn Huế. Điều này có Phụng ở phần giữa dù được sơn thếp nhưng
vẻ như sẽ làm nhiều người giật mình hoặc cảm thấy không quá nổi bật do tỉ lệ chiếm không gian nhỏ,
69
không hài lòng nhưng đây lại là sự thật!
lại được “điều hoà” bởi hai mảng trên dưới... Bởi
Nhưng theo chúng tôi, không có gì đáng buồn vậy, khi đứng trước Ngọ môn Huế người ta luôn
cả nếu Ngọ môn của Huế có nhiều nét tương đồng có cảm giác nó là một công trình cân đối, xinh xắn
với Ngọ môn Bắc Kinh. Ở bên cạnh một nền văn mà dung dị, rất dễ hòa đồng.
hoá vĩ đại và có sức ảnh hưởng rất lớn như Trung
- Thứ ba, về cách phối trí với không gian xung
Hoa thì mối giao lưu văn hóa cũng là chuyện bình quanh, Ngọ môn Huế cũng rất khác Ngọ môn Bắc
thường. Điều đáng nói là bên cạnh những nét Kinh. Ngay trước mặt cửa là ao Kim Thuỷ chạy
tương đồng mang tính chất bề ngoài ấy, Ngọ môn vòng quanh, có 3 chiếc cầu đá bắc ngang; dưới ao
Huế vẫn có những nét rất riêng, rất độc đáo và có sen, trên bờ trồng nhiều loại cây, mà ngày xưa
không lẫn vào đâu được. Và, chính những cái riêng, có lẽ nhiều nhất là hoa bông bụt (Trường đê thực
cái độc đáo này mà Ngọ môn Huế mới trở thành thuấn hoa - thơ trên Ngọ môn). Đặc biệt, ngay
một biểu tượng của đất Cố đô.
phía sau cửa Ngọ môn là chiếc hồ vuông Thái
- Thứ nhất, có thể khẳng định, cái khác của Ngọ Dịch, quanh bờ trồng nhiều hoa sứ, dưới có sen
môn Huế với Ngọ môn Bắc Kinh là vị trí và vai trò và các loại rong rêu (Phương chiểu sinh văn tảo -
của mỗi cửa: Ngọ môn Huế là cửa chính của Hoàng thơ trên Ngọ môn). Hoàng đế đi vào Hoàng cung
thành, là chiếc cửa lớn nhất của khu vực này, còn qua cửa chính đều phải bước qua chiếc cầu Trung
Ngọ môn Bắc Kinh là cửa chính của Tử Cấm Thành Đạo bắc ngang chiếc hồ này. Cách phối trí như
và về quy mô, nó luôn luôn xếp sau Thiên An môn- trên hoàn toàn không thấy ở Ngọ môn Bắc Kinh.
cửa chính của Hoàng thành Bắc Kinh22. Hơn nữa, do Ở phía trước chiếc cửa đồ sộ nhất của Tử Cấm
ở cung điện Trung Quốc, quy chế “tam triều ngũ thành Trung Hoa không hề có bóng mặt nước và
môn” (3 tầng sân, 5 lớp cửa) được áp dụng rất cây xanh mà chỉ là những quảng trường mênh
nghiêm ngặt nên Ngọ môn chỉ là 1 trong 5 chiếc mông lát gạch đá! Phía sau, tuy có một dòng suối
cửa đồ sộ bố trí trên trục dũng đạo của Kinh thành nhỏ chảy ngang, đoạn gần trước Thái Hoà môn,
Bắc Kinh, là Đại Thanh môn, Thiên An môn, Đoan nhưng cũng quá bé nhỏ so với một chiếc quảng
môn, Ngọ môn và Thái Hoà môn23. Trái lại, ở Hoàng trường rộng lớn lát gạch đá khác. Hoàng Lan
thành Huế không hề có quy chế “tam triều ngũ Tường, một người Hoa chính gốc trong bài khảo
môn”, nên Ngọ môn thực sự là chiếc cửa“độc chiếm” cứu công phu của mình về Huế cũng công nhận,
ở phía trước đường dũng đạo24, hơn nữa, đây là cách phối trí Ngọ môn và các cung điện của Huế
chiếc cửa duy nhất có 5 lối ra vào của Hoàng cung có những đặc trưng riêng biệt và chỉ có thể tìm
Huế thời Nguyễn. Vì vậy, Ngọ môn Huế rất nổi bật thấy ở Việt Nam26.
dù quy mô không lớn lắm.
5. Ngọ môn - biểu tượng vĩnh hằng của Cố
- Thứ hai, về tỉ lệ cấu trúc công trình, màu sắc đô Huế
công trình cùng cách trang trí hai cửa Ngọ môn
của hai nước khác nhau rất xa. Ngọ môn Bắc Kinh
5.1. Một chứng nhân lịch sử
Với chức năng là chiếc cổng chính, đồng thời
có quy mô rất lớn, riêng phần nền đài đã cao đến cũng là lễ đài phía trước Hoàng thành, trên trục
12m, phần Ngũ Phụng Lâu bên trên lại cao gần trung tâm Ngọ môn - cầu Trung đạo - điện Thái hoà,
24m nữa nên đứng trước nó, con người luôn có Ngọ môn đã từng chứng kiến rất nhiều sự kiện lịch
cảm giác thật bé nhỏ. Còn về màu sắc trang trí thì sử trọng đại của đất nước. Dưới thời Nguyễn, Ngọ
nó chỉ có 2 màu rất nóng là vàng và đỏ, nên càng môn là nơi vua Nguyễn cử hành các lễ quan trọng,
tạo cho người ta cái cảm giác bị trấn áp rất mạnh. như lễ Truyền lô (nêu danh các Tiến sĩ trong các khoa
Trái lại, Ngọ môn Huế có kích thước rất vừa phải, thi Hội, thi Đình); lễ Ban sóc (lễ ban lịch năm mới); lễ
tỉ lệ giữa các bộ phận công trình lại hết sức hài Duyệt binh... Chiếc cửa này cũng chỉ mở ra trong các
hòa25. Toàn bộ công trình có tổng chiều cao chưa ngày lễ; khi ấy, cửa giữa dành cho hoàng đế, Tả Giáp
đến 15m. Hơn nữa, về màu sắc và trang trí, Ngọ môn, Hữu Giáp môn dành cho quan văn, quan võ
môn của Huế đa phần đều sử dụng gam màu theo đúng nguyên tắc “tả văn, hữu võ”, hai cửa Dịch
trầm; trên mái thì “một lầu vàng tám lầu xanh”; ở môn hai bên thì dành cho binh lính và voi ngựa. Ngọ
phía dưới thì chủ yếu là màu xanh trắng tự nhiên môn đã từng chứng kiến gần như toàn bộ sự hưng
Phan Thanh Hꢀi: Ngꢁ m“n - biꢂu tꢃꢄng vꢅnh hꢆng....
Chú thích:
1- Amadou Mahta M’Bow,“Vì công cuộc bảo vệ, giữ gìn, tu
sửa và tôn tạo di sản văn hoá của thành phố Huế”, in trong sách
Huế - Di sản văn hoá thế giới, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô
Huế xuất bản năm 1999, tr.19.
2- Ngay sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng đã bắt đầu tiến
hành quy hoạch sắp xếp lại khu Hoàng thành, đầu tiên là việc
dời Hưng Tổ miếu về phía sau và xây dựng Thế Tổ miếu (năm
1821) làm nơi thờ các đời vua Nguyễn. Sau đó, công việc này
kéo dài liên tục hơn chục năm trời, đến năm 1833, khi mọi việc
tương đối hoàn chỉnh vua Minh Mạng mới cho hạ giải Nam
Khuyết đài để dựng Ngọ môn.
phế của triều đại nhà Nguyễn. Chiếc cửa này từng là
niềm kiêu hãnh của triều Nguyễn, nhưng cũng từng
mang dấu ấn của nỗi nhục mất chủ quyền khi người
Pháp buộc vua Nguyễn phải tháo bỏ hệ thống ngạch
cửa ở 3 lối đi giữa để cho xe ô tô Tây chạy qua (đến
nay “dấu ấn” này vẫn còn). Và, ngày 30 tháng Tám
năm 1945, tại lễ đài Ngọ môn, vị hoàng đế cuối cùng
của triều Nguyễn đã đọc chiếu thoái vị, chính thức
chấm dứt hơn ngàn năm thống trị của chế độ quân
chủ tại Việt Nam.
70
5.2. Một biểu tượng không thể phai mờ trong
lòng người Huế
3- Căn cứ vào tư liệu của triều Nguyễn, Nam Khuyết đài
được xây dựng vào năm 1804, năm 1806 mới xây ở bên trên
đài điện Càn nguyên, hai cửa ra vào đặt hai bên, gọi là Tả Đoan
môn và Hữu Đoan môn. Cửa này tồn tại đến năm 1833 thì bị
triệt giải, nhường chỗ cho Ngọ môn.
4- Trong sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ (KĐHĐSL) có
ghi rõ những quy định của Bộ Công triều Nguyễn về thành
phần của các loại vữa xây, đặc biệt là lượng mật mía trong vữa.
Nhưng đến khi xây Ngọ môn thì lại có sự phá lệ - tăng lượng
mật lên để đảm bảo tính bền chắc của công trình:“Lại chuẩn y
lời tâu xây dựng cửa Ngọ môn, công trình quan trọng vôi mật
cần dùng chiểu biện quá lệ, cứ 100 cân vôi chế 7cân mật; nay
cộng 5 cửa, chỗ xây đắp hình bán nguyệt, cứ 100 cân vôi thêm
1 cân mật cho được bền vững thêm. Lại xây đắp đá thanh, thì
chỗ mặt ngoài phiến đá giáp nhau, chi dầu trẩu ra cho thợ chế
luyện để nề trát". Bản dịch của Viện Sử học. Nxb. Thuận Hoá,
Huế 1993, tr.127.
Đối với chế độ quân chủ nhà Nguyễn ngày xưa,
Ngọ môn là chiếc cửa hướng Nam để nhà vua
khẳng định ngôi vị thiên tử, để “Thánh nhân Nam
diện hướng minh nhi trị”(bậc Thánh hướng về phía
Nam, về lẽ sáng để cai trị thiên hạ). Ngọ môn cũng
là công trình tiêu biểu của kiến trúc cung đình
Nguyễn về quy mô, phong cách, vật liệu xây dựng...
Bởi vậy, nói đến Ngọ môn tức là nói đến triều
Nguyễn, đến kinh đô Huế, đến Hoàng cung với
cung son gác tía...
Nhưng còn hơn thế, Ngọ môn đã trở thành
niềm tự hào của người Huế. Một công trình kiến
trúc tuyệt vời được gắn liền với một không gian
tuyệt vời của tự nhiên. Không rõ từ bao giờ,
nhưng hẳn đã từ rất lâu, Ngọ môn đã đi vào ca
dao xứ Huế, để rồi hầu như mỗi người dân cố đô
đều thuộc nằm lòng:
Ngọ môn 5 cửa 9 lầu,
5- Sách KĐHĐSL cũng có ghi rõ về điều này:
Cột cờ 3 cấp, Phu Văn lâu 2 từng (tầng).
Hay:
Ngọ môn 5 cửa 9 lầu,
"Lại chỉ truyền rằng, lần này nghĩ dựng cửa Ngọ môn, thì
giá gác ngang trên cửa giữa và 2 cửa Tả Hữu Giáp môn, đều làm
bằng đồng cho được bền mãi. Chuẩn cho Ty Võ khố lượng chi
của công ra, giao đốc công chiểu lĩnh đúc đúng theo cách thức
tới kỳ đem làm. Lại chỉ truyền rằng: Trước đã sắc cho bộ (Công)
xét các hạng đá dài cần dùng làm cửa Ngọ môn, chia đưa 2 tỉnh
Thanh Hoá, Quảng Nam tìm lấy mà làm, rồi trước hết đem công
sức khó dễ phúc tư cho Bộ biết. Nay căn cứ Bộ tâu, hai tỉnh ấy
nói, đá núi sản xuất chỉ dài 5,6 thước thôi; đến như các hạng
dài hơn 10 thước 8 tấc đều khó tìm thấy được... Vả lại lần này
xây cửa Ngọ môn, để lại lâu dài, phàm chỗ nên dùng đá dài đã
chuẩn cho làm bằng đồng, về 2 hạng ấy phải làm hai hạng gấp
tức thì đình chỉ. Còn đá hạng ngắn nên đi tìm mua chuẩn cho
đều chuẩn theo như Bộ đưa sức làm đủ số, cốt ở trong năm,
chuẩn vận chuyển đến nộp, đến kỳ cần dùng". (Sđd, tr. 125)
6- Thực ra Ngọ môn cũng đã được tu bổ rất nhiều lần trong
thời Nguyễn. Năm 1923, vua Khải Định từng cho hạ giải toàn
bộ phần lầu Ngũ Phụng để tu bổ một cách toàn diện. Từ năm
1945 đến nay, Ngọ môn cũng được tu bổ một số lần. Gần đây
nhất, vào năm 1990, thông qua Unesco, Chính phủ Nhật Bản đã
tài trợ cho Huế 100.000 USD để trùng tu công trình này.
Một lầu vàng, 8 lầu xanh, 3 cửa thẳng, 2 cửa
quanh.
Sinh em ra phận gái,
Hỏi không chốn kinh thành thì để làm chi
Có một sự kiện khiến rất nhiều người Huế quan
tâm: Ngày 19 tháng 12 năm 2003, Chính quyền
thành phố Huế chính thức công bố biểu tượng của
Thành phố. Đó là hình ảnh của mái lầu Ngũ phụng
và cầu Trường Tiền đan xen, hoà lẫn trong nhau.
Hoạ sĩ Nguyễn Thiện Đức27, một người con của Huế
sau bao nhiêu năm nghiền ngẫm đã sáng tạo ra
biểu tượng độc đáo này. Đối với nhiều, rất nhiều
người Huế, trong đó có tôi, thì đó thực sự là một
món quà vô giá dành cho quê hương!
Và, như vậy, từ thời điểm ấy, cùng với cầu
Trường Tiền, Ngọ môn đã “chính danh”, đường
hoàng trở thành biểu tượng của cố đô Huế./.
P.T.H
Sꢇ 1 (50) - 2015 - Di sꢀn vꢈn h‚a vꢉt thꢂ
7- Trước kia chúng tôi đã tưởng rằng, việc vua Gia Long xây
Đoan môn với 2 lối đi (tức dùng số chẳn - số âm) là do ảnh
hưởng của phương Tây, tương tự cách trổ 4 cửa mặt trước của
kinh thành, nhưng khi xem lại Khảo Công ký thì thấy cách thức
xây cửa thành như vậy là áp dụng theo quy chế dành cho Chư
hầu. Vua Minh Mạng không bằng lòng với cách thức này và đã
cho triệt giải Đoan môn để xây Ngọ môn. Xem thêm Phan
Thanh Hải, “Cổng/cửa trong kiến trúc cung đình Huế”, Tạp chí
Nghiên cứu & Phát triển, số 4/2003.
8- Số đo này chúng tôi dựa trên kết quả khảo sát thực tế
có tham khảo bản vẽ mặt bằng Ngọ môn của Nguyễn Phúc
Chiêm Nguyên, được KTS. Nguyễn Bá Lăng giới thiệu trên Tạp
chí Xây dựng, số đặc biệt về kiến trúc Việt Nam. Sài Gòn, 1967,
tr. 16 - 17.
9- Phan Thuận An,“Nghệ thuật kiến trúc Ngọ môn”In trong
Sông Hương dòng chảy văn hoá, Nxb. Văn hoá Thông tin, 2003,
tr. 349. Điều này cũng phù hợp với các thông tin từ sách KĐĐN-
HĐSL: “Lại chuẩn y lời tâu: Sang năm làm cửa Ngọ môn, ở cửa
giữa và hai cửa tả hữu, trên nên dùng xà đồng, cộng 70 chiếc,
nên làm cho vừa phải để được vững bền; sức cho đốc công lĩnh
đồng đỏ và chì, dùng phép tam thất, đúc thành xà ngang 58
chiếc, mỗi chiếc dài 10 thước 5 tấc, mặt 3 tấc, dày 4 tấc. Về cái
giá thẳng ở hai đầu để đở xà ngang 12 chiếc, mặt 3 tấc, dày 2
tấc, làm theo phép tứ lục, để rút bớt lại; đều dự làm trước, để
kịp khởi công làm”. Nội các triều Nguyễn, KĐ ĐNHĐSL, Q.209.
Bản dịch của Viện sử học. Nxb. Thuận Hoá, Huế 1993, T. 13, tr.
126 -127.
10- Thái Văn Kiểm trong Cố đô Huế (Nha Văn hoá, Bộ Quốc
gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr. 46), cho biết, mỗi chữ
Hán này “cao 0m365, rộng 0m38, dầy 0m008, nguyên có bọc
vàng thật”. Nhưng phần bọc vàng này bị quân gian gỡ trộm
vào ngày 10/12/1943.
11- Nội Các triều Nguyễn, KĐ ĐNHĐSL, Q.209, Sđd, T. 13, tr.
116 - 117. Dưới thời Nguyễn, 1 trượng =10 thước và mỗi thước
tương đương 42,4cm. Xin tham khảo thêm Phan Thanh Hải,“Hệ
thống thước đo Việt Nam thời Nguyễn”, Nghiên cứu Huế, tập 5
(2003).
12- Phan Thuận An, Nghệ thuật kiến trúc Ngọ môn, Sđd, tr.
352 - 353.
13- Liễu Thượng Văn,“Ngọ môn - một biểu tượng của cố đô
Huế”; Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 17/1996 và Tạp chí Sông Hương,
số 10/1996.
16- Tác giả Huỳnh Minh Đức trong sách Từ Ngọ môn đến
điện Thái Hòa đã viết và phiên âm nhầm chữ Xứ thành chữ Hư,
chữ Động thành chữ Đổng, chép chữ Triệt thành chữ Triệt, chữ
Kham thành chữ Tham - Sđd, tr. 17.
71
17- Huỳnh Minh Đức trong bài này chép nhầm chữ Huyền
thành chữ Huyền – Sđd, tr.18.
18- Huỳnh Minh Đức trong bài này chép và phiên âm nhầm
chữ Xảo thành chữ Công, chữ Hậu thành chữ Hậu - Sđd, tr.19.
19- Huỳnh Minh Đức trong bài này chép và phiên âm nhầm
chữ Bắc thành chữ Thử - Sđd, tr.19.
20- Huỳnh Minh Đức trong bài này chép và phiên âm nhầm
các chữ Phiến thành chữ Bá; chữ Mạn thành chữ Mạc; chép sai
chữ Chỉ thành Chỉ , chữ Vi thành Vi - Sđd, tr. 20.
21- Huỳnh Minh Đức trong bài này chép nhầm chữ Chiếm
? thành chữ Chiếm?
22- Xem thêm: Phan Thanh Hải,“Vài suy nghĩ về cách bài trí
cung điện Bắc Kinh và cung điện Huế”, Tạp chí Di sản văn hoá,
số 3/2003, tr. 41 - 45 và tr. 85.
23- Trong 5 cửa này, xét về quy mô, Ngọ môn chỉ đứng trên
Thái Hoà môn - chiếc cửa duy nhất trong 5 cửa này làm theo
kiểu tam quan, với 3 lối đi, các cửa còn lại đều làm theo kiểu
ngũ quan/ngũ môn, với 5 lối đi; hơn nữa, so với 3 chiếc cửa còn
lại, Ngọ môn cũng có 5 cửa nhưng bố trí kiểu “minh tam ám
ngũ”- nhìn phía trước như một tam quan chứ không trình ra cả
5 cửa kiểu hình chữ nhất có vẻ hùng vĩ hơn như Thiên An môn,
Đoan môn...
24- Xem thêm bài khảo cứu của Hoàng Lan Tường, “Sơ
khảo về quy hoạch thành thị Huế, Quốc đô của Việt Nam thế kỷ
XIX”, Tạp chí Di sản văn hoá, số 3/2003, tr. 30.
25- Cố hoạ sĩ Phạm Đăng Trí đã từng đo đạc rất công phu
để chứng minh rằng, các tỉ lệ cấu trúc của Ngọ môn Huế đều
đạt đến tỉ lệ vàng theo quy chuẩn của kiến trúc phương Tây.
Khi nhận xét về Ngọ môn, ông đã viết:“Ngọ môn mang dấu ấn
của Huế, những kích thước phù hợp đã tạo ra sự hài hòa giữa
kiến trúc và con người, giữa Ngọ môn và núi Ngự, ngọn núi có
một độ cao vừa phải, giữa Ngọ môn và sông Hương nước trong
vắt, giữa Ngọ môn và phong cảnh xinh đẹp của khu vực... Sự
xếp đặt của các khối được xây dựng khác nhau, cùng với hiệu
quả của sự duyên dáng, nét nhẹ nhàng, những đường nét
ngang chiếm ưu thế kết hợp với những đường thẳng đứng để
tạo thành sự cân bằng".
14- Chiếc chuông này có khắc một bài minh, phần lời do
các vị quan ở Hàn Lâm viện, gồm Hoàng Kim Hoán, Ngô Thế
Mỹ và Ngô Du biên soạn; Nguyễn Thảng viết chữ. Ty Võ khố
phụ trách việc đúc chuông. Về nội dung bài minh, Huỳnh Minh
Đức trong sách Từ Ngọ môn đến điện Thái Hoà (Nxb. Trẻ, 1994)
đã dịch và giới thiệu, tr. 22 - 26.
Xem thêm: Phạm Đăng Trí, Ngọ Mon, la Porte du Midi aux
proportions ideales (Ngọ môn, chiếc cửa của những con số lí
tưởng), Sđd, tr. 47 - 76. Bản dịch của Thúy Vy.
26- Hoàng Lan Tường, Sơ khảo về quy hoạch thành thị Huế,
Quốc đô của Việt Nam thế kỷ XIX, Sđd, tr. 31.
27- Hoạ sĩ Nguyễn Thiện Đức hiện là giảng viên của trường
15- Phạm Đăng Trí, Ngọ Mon, la Porte du Midi aux propor-
tions ideales (Ngọ môn, chiếc cửa của những con số lí tưởng).
Etudes Vietnamiennes, 1986, tr. 47 - 76. Bản dịch của Thuý Vy.
Đại học Nghệ thuật Huế.
(Ngày nhận bài: 08/01/2015; Ngày phản biện đánh giá:
11/01/2015; Ngày duyệt đăng bài: 19/01/2015).
Bạn đang xem tài liệu "Ngọ môn - Biểu tượng vĩnh hằng của cố đô Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ngo_mon_bieu_tuong_vinh_hang_cua_co_do_hue.pdf

