Nghiên cứu nâng cao hiệu quả gia nhiệt bề mặt khuôn bằng khí nóng

NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIA NHIỆT  
BỀ MẶT KHUÔN BẰNG KHÍ NÓNG  
RESEARCHING ON IMPROVING THE EFFICIENCY OF HEATING  
MOLD’S SURFACE BY USING HOT AIR  
Đỗ Thành Trung 1), Nguyễn Tình 2)  
1Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
2Học viên cao học trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Đề tài: “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả gia nhiệt bề mặt khuôn bằng khí nóng” nhằm nâng cao  
khả năng gia nhiệt và phân bố nhiệt độ đồng đều. Phương pháp gia nhiệt bằng khí nóng có nhiều  
ưu điểm hơn so với các phương pháp gia nhiệt khác như gia nhiệt bằng nước, gia nhiệt bằng  
điện, điện từ ... bởi vì nó có tốc độ gia nhiệt nhanh hơn. Quá trình giải nhiệt nhanh chóng, kết  
cấu thiết bị đơn giản. Rất thuận lợi cho việc chế tạo vận hành, dễ tự động hóa.  
Kết quả của đề tài cho thấy việc sử dụng tấm chắn khí khi gia nhiệt cho nhiệt độ cũng như sự  
đồng đều về nhiệt độ trên các vị trí của tấm insert được nâng cao hơn so với trường hợp không  
sử dụng tấm chắn khí. Kết quả sẽ là cơ sở thực tiễn để xử lý nâng cao hiệu quả gia nhiệt và sự  
phân bố nhiệt trong quá trình gia nhiệt cho khuôn đặc biệt là ở các loại khuôn có các sản phẩm  
của vi khuôn và cũng là cơ sở lý thuyết cho những nghiên cứu sâu hơn cho tương lai ngành vi  
khuôn ở Việt Nam.  
Từ khóa: Khuôn ép nhựa, mật độ điền đầy, gia nhiệt khí nóng.  
ABSTRACT  
Topic: “Researching on improving the efficiency of heating mold’s surface by using hot air", by  
improving efficiency of heating mold’s surface, the heating ability and the evenly temperature  
distribution are improved. Comparing to other heating methods such as: heating by using water,  
electric, electricity, etc. the hot air heating method has many advantages, because this method  
has a faster heating rate. Quick cooling process, simple equipment structure result in  
convenience for manufacturing, operation, factory automation easily.  
The result of the thesis shows that the efficiency of heating by using air shield when heating as  
well as the evenly distribution of temperature on positions of the insert are increased more than  
not using the air shield. The result will be the practical basis for improving the heating efficiency  
and the evenly distribution of temperature during the heating process for molding, especially in  
molds with microform products and this is also the theoretical basis for further studies on the  
future of microform industry in Vietnam.  
Key word: Plastic injection molds, filling density, hot air heating.  
I. GIỚI THIỆU  
Sản phẩm nhựa hiện nay rất đa dạng, từ  
II. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU  
Một số nghiên cứu:  
đơn giản đến phức tạp, từ kích thước lớn  
đến kích thước nhỏ. Với sự phát triển như  
hiện nay của xã hội, yêu cầu mới được đặt  
ra là việc chế tạo các sản phẩm nhựa bằng  
công nghệ ép phun với bề dày nhỏ hơn 01  
mm như các chip sinh học, các thiết bị  
quang học…  
Trong quá trình điền đầy nhựa vào  
khuôn đặc biệt với sản phẩm thành mỏng,  
những lớp nhựa tiếp xúc với cổng phun  
nhựa của khuôn (bề mặt cổng phun ở nhiệt  
độ thấp) sẽ đông lại. Quá trình đông lại ở  
bề mặc tiếp xúc với cổng phun nhựa sẽ  
làm giảm áp lực của dòng nhựa và hạn chế  
dòng chảy vào lòng khuôn làm cho nhựa  
sẽ không điền đầy được lòng khuôn.  
- Để khắc phục các khuyết tật cho sản  
phẩm nhựa phương pháp gia nhiệt là một  
trong những phương pháp quan trọng trong  
việc giải quyết vấn đề này. Hiện nay có rất  
nhiều phương pháp: gia nhiệt bằng điện trở,  
gia nhiệt bằng chất lỏng, gia nhiệt bằng khí  
nóng,…  
Shia-Chung Chen và các cộng sự [1]  
nghiên cứu phát triển hệ thống kiểm soát  
nhiệt độ khuôn sử dụng phương pháp gia  
nhiệt bằng khí và ứng dụng phương pháp  
trong các vi khuôn. Kết quả đạt được: Việc  
0
0
gia nhiệt và giải nhiệt từ 60 C đến 100 C,  
0
0
0
110 C, 120 C và trở về 60 C bằng khí có  
thời gian của 1 chu kỳ ngắn hơn so với dùng  
nước gia nhiệt và giải nhiệt cho khuôn (hình  
2).  
Shia-Chung Chen và các cộng sự [2]  
nghiên cứu, đánh giá tính khả thi của hệ  
thống gia nhiệt bằng khí cho quá trình ép  
phun gia nhiệt bề mặt khuôn. Kết luận: Việc  
gia nhiệt bằng khí nóng có tốc độ tăng nhiệt  
bề mặt khuôn từ 60 0C lên 120 0C trong vòng  
2 giây (nghĩa là tốc trung bình là 30 0C/giây)  
0
và cần 34 giây để trở về 60 C. Trong khi  
dùng các chất gia nhiệt khác phải mất tới 267  
giây để thực hiện một chu trình (hình 3).  
S.-Y. Yang và các cộng sự [3] nghiên  
cứu phương pháp gia nhiệt khuôn ép nhựa  
với các sản phẩm thành mỏng. Kết quả đạt  
được: Việc gia nhiệt cho khuôn phun ép  
nhựa đối với sản phẩm thành mỏng có kết  
cấu nhiều lòng khuôn sẽ làm tăng khả năng  
điền đầy lòng khuôn phun ép nhựa, cụ thể ở  
- Gia nhiệt bằng chất lỏng và gia nhiệt  
bằng điện trở có khuyết điểm: sau quá trình  
ép khuôn cần giải nhiệt với thời gian tương  
đối dài, yêu cầu kết cấu khuôn phức tạp.  
0
những mức nhiệt độ ban đầu từ 70 C đến  
- Trong đó, gia nhiệt bằng khí nóng  
có rất nhiều ưu điểm như: có thể gia nhiệt  
linh hoạt ở nhiều vị trí, quá trình gia nhiệt  
xảy ra nhanh và các thiết bị đơn giản nên  
có thể tự động hóa được. Việc điều khiển  
cài đặt nhiệt độ đơn giản và giá thành rẻ  
hơn so với một số phương pháp gia nhiệt  
khác.  
0
110 C thì sự ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn  
đối với khả năng điền đầy là không rõ rệt,  
thậm chí còn thấp hơn so với kết cấu 1 lòng  
khuôn (74,68 % so với 82,86 %), nhưng từ  
120 0C trở lên tỷ lệ % điền đầy của kết cấu 4  
lòng khuôn tăng lên nhanh và sẽ điền đầy  
hoàn toàn tất cả các lòng khuôn khi nhiệt độ  
đạt mức 140 0C (hình 4).  
Vì vậy tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu  
nâng cao hiệu quả gia nhiệt bề mặt khuôn  
bằng khí nóng” để nhằm nâng cao tốc độ  
gia nhiệt cho bề mặt khuôn và khả năng  
phân bố nhiệt độ đồng đều cao nhất.  
Shia-Chung Chen và các cộng sự [4]  
nghiên cứu sự thay đổi nhiệt độ khuôn để cải  
thiện chất lượng bề mặt của các bộ phận ép  
vi khuôn bằng cách sử dụng hệ thống gia  
nhiệt bằng khí. Kết quả đạt được: Nhiệt độ  
khuôn cao hơn, nhiệt độ nóng chảy cao hơn,  
và tốc độ phun nhanh hơn tất cả sẽ nâng cao  
chất lượng bề mặt của sản phẩm ép phun.  
Các độ nhám bề mặt của chi tiết đúc có thể  
được giảm từ 25 μm đến 6,5 μm với sự gia  
0
0
tăng nhiệt độ khuôn từ 100 C đến 160 C.  
Tuy nhiên, khi nhiệt độ đạt đến một mốc  
0
quan trọng của giá trị khoảng 180 C, độ  
nhám trung bình bề mặt của một phần đúc  
tiến về mức khoảng 5 μm. Đồng thời, các  
phần bọt nhựa PC có thể được loại bỏ hoàn  
Hình 1: Phương pháp gia nhiệt bằng  
khí  
0
toàn nếu nhiệt độ khuôn cao hơn 160 C  
(hình 5).  
Th.S Nguyễn Hộ [16] đã nghiên cứu  
ảnh hưởng của phương pháp gia nhiệt  
bằng khí nóng đến khả năng điền đầy lòng  
khuôn sản phẩm nhựa dạng thành mỏng  
(hình 6). Kết quả đạt được: Ở cùng một  
chế độ phun như nhau, cùng một chiều  
dày như nhau nhưng ở những nhiệt độ bề  
mặt khuôn khác nhau thì quá trình điền  
đầy lòng khuôn sẽ khác nhau và cụ thể là  
tăng nhiệt độ bề mặt lòng khuôn lên thì  
khả năng điền đầy lòng khuôn sẽ tăng lên  
với những mức khác nhau.  
Hình 5: Ảnh hưởng của tốc độ dòng chảy  
phun tới độ nhám bề mặt trong đúc ép phun  
khuôn thành mỏng [4]  
Hình 6: So sánh khả năng điền đầy lòng  
khuôn của sản phẩm nhựa thành mỏng với  
vật liệu PP [16]  
III. MÔ TẢ THÍ NGHIỆM VÀ MÔ  
PHỎNG  
Hình 2: So sánh thời gian một chu kỳ  
gia/giải nhiệt bằng khí và bằng nước giải  
nhiệt khác [1]  
Để kiểm chứng ý tưởng rằng liệu “tấm  
chắn khí” có đạt hiệu quả tăng nhiệt độ và  
cải thiện sự phân bố vùng nhiệt được đồng  
đều khi kết hợp với phương pháp gia nhiệt  
bằng khí nóng. Ta sẽ khảo sát ảnh hưởng của  
nhiệt độ trên tấm insert 50 x 50 x 2 mm (hình  
7), với nhiệt độ đầu vào là 400 °C, thời gian  
gia nhiệt 20 s.  
Với tấm insert có kích thước như trên,  
tác giả sẽ thiết kế mẫu “tấm chắn khí” là:  
hình tròn đường kính 50 mm cao H mm, bên  
trong rỗng có thành dày 2 mm và có lỗ thông  
khí với khối gia nhiệt đường kính 12 mm, có  
X lỗ thoát khí đường kính 2 mm phân bố đều  
trên “tấm chắn khí” .(Giá trị H là 5, 10, 15  
mm, Giá trị X với “tấm chắn khí” tròn là 3,  
6, 12 lỗ thoát khí).  
Hình 3: So sánh các thay đổi nhiệt độ do  
gia nhiệt bằng khí và nước nóng. (một  
chu kỳ nóng / làm mát) [2]  
Với thiết kế như trên ta sẽ khảo sát được  
3 yếu tố là: Chiều cao khối khí, khoảng cách  
phun, số lỗ thoát khí và phân bố lỗ thoát khí  
trên mẫu, từ đó lấy cơ sở để đưa ra kết luận  
về ảnh hưởng các yếu tố trên đến nhiệt độ và  
vùng phân bố nhiệt.  
Nguyên lý hoạt động: Khí nóng sẽ đi từ  
bộ gia nhiệt qua “tấm chắn khí” gia nhiệt  
cho tấm insert và thoát ra tại lỗ thoát khí.  
Hình 4: Ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn  
đến khả năng điền đầy lòng khuôn [3]  
Vì điều kiện thí nghiệm và một số chắn khí tròn có khoảng cách phun 3 mm, chiều  
vấn đề khác mà ta chỉ có thể dừng lại ở  
nghiên cứu “tấm chắn khí tròn” để làm  
tiền đề cho các loại insert tròn, ovan.  
cao khối khí 10 mm  
Hình 7: Bản vẽ tấm insert vuông  
IV. SO SÁNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ  
MÔ PHỎNG VÀ THỰC NGHIỆM  
Sau khi tiến hành mô phỏng và thực  
nghiệm với các trường hợp ở bảng 1 và bảng  
2 đề tài thu được kết quả:  
Bảng 1: Các trường hợp thí nghiệm của  
tấm chắn khí tròn 3 lỗ thoát khí  
Qua biểu đồ 1 và 5 so sánh ảnh hưởng  
của khoảng cách phun đối với “tấm chắn  
khí” dạng tròn. Thì nhiệt độ của các trường  
hợp có “tấm chắn khí” luôn cao hơn và đều  
hơn so với không có “tấm chắn khí” khoảng  
80 °C – 120 °C và 60 °C – 110 °C.  
Qua biểu đồ 2 và 6 so sánh ảnh hưởng  
của chiều cao khối khí đối với “tấm chắn  
khí” dạng tròn. Thì nhiệt độ của các trường  
hợp có “tấm chắn khí” luôn cao hơn và đều  
hơn so với không có “tấm chắn khí” khoảng  
70 °C – 90 °C và 60 °C – 80 °C.  
Qua biểu đồ 3 và 7 so sánh ảnh hưởng  
của số lỗ thoát khí trên mặt trên đối với “tấm  
chắn khí” dạng tròn. Thì nhiệt độ của các  
trường hợp có “tấm chắn khí” luôn cao hơn  
và đều hơn so với không có “tấm chắn khí”  
khoảng 50 °C – 90 °C và 50 °C – 80 °C.  
Qua biểu đồ 4 và 8 so sánh ảnh hưởng  
của số lỗ thoát khí trên mặt bên đối với “tấm  
chắn khí” dạng tròn. Thì nhiệt độ của các  
trường hợp có “tấm chắn khí” luôn cao hơn  
và đều hơn so với không có “tấm chắn khí”  
khoảng 60 °C – 80 °C và 40 °C – 60 °C.  
Qua các biểu đồ 9, 10, 11 và 12:  
+ Hình dạng các đường nhiệt trên biều đồ  
đều là hình đường cong parabol.  
+ Đường nhiệt biểu diễn kết quả thí nghiệm  
và kết quả mô phỏng chênh lệch khá nhỏ.  
+ Sự chênh lệch nhiệt độ max - min giữa các  
trường hợp thí nghiệm và mô phỏng gần  
bằng nhau.  
Bảng 2: Các trường hợp thí nghiệm của tấm  
Biểu đồ 1: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng  
vị trí trên insert do sự ảnh hưởng của  
khoảng cách phun trong quá trình mô  
phỏng  
Biểu đồ 4: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng  
vị trí trên insert do sự ảnh hưởng của số lỗ  
thoát khí trên mặt bên trong quá trình mô  
phỏng  
Biểu đồ 2: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng  
vị trí trên insert do sự ảnh hưởng của  
khoảng cách chiều cao khối khí trong quá  
trình mô phỏng  
Biểu đồ 5: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng vị  
trí trên insert do sự ảnh hưởng của khoảng  
cách phun trong quá trình thực nghiệm  
Biểu đồ 3: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng  
vị trí trên insert do sự ảnh hưởng của số lỗ  
thoát khí trên mặt trên trong quá trình mô  
phỏng  
Biểu đồ 6: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng vị  
trí trên insert do sự ảnh hưởng của khoảng  
cách chiều cao khối khí trong quá trình thực  
nghiệm  
Biểu đồ 7: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng  
vị trí trên insert do sự ảnh hưởng của số lỗ  
thoát khí trên mặt trên trong quá trình  
thực nghiệm  
Biểu đồ 10: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng vị  
trí trên insert do sự ảnh hưởng của khoảng  
cách chiều cao khối khí trong mô phỏng và  
thực nghiệm  
Biểu đồ 8: Sự thay đổi nhiệt độ theo  
từng vị trí trên insert do sự ảnh hưởng của  
số lỗ thoát khí trên mặt bên trong quá  
trình thực nghiệm  
Biểu đồ 11: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng vị  
trí trên insert do sự ảnh hưởng của số lỗ  
thoát khí trên mặt trên trong mô phỏng và  
thực nghiệm  
Biểu đồ 9: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng  
vị trí trên insert do sự ảnh hưởng của  
khoảng cách phun trong mô phỏng và thực  
nghiệm  
Biểu đồ 12: Sự thay đổi nhiệt độ theo từng vị  
trí trên insert do sự ảnh hưởng của số lỗ  
thoát khí trên mặt cạnh bên trong mô phỏng  
và thực nghiệm  
phương án cuối cùng trước khi đưa vào thực  
tiển sản xuất.  
V. KẾT LUẬN  
Qua quá trình khảo sát “tấm chắn  
khí” hình tròn với các khoảng cách phun,  
số lỗ thoát khí, vị trí phân bố lỗ thoát khí  
và chiều cao khối khí khác nhau đề tài đạt  
được các kết quả như sau:  
Qua đó kết quả nghiên cứu cho thấy:  
- Sử dụng tấm chắn khí có 6 lỗ thoát khí mặt  
trên với khoảng cách phun là 3 mm và chiều  
cao khối khí là 10 mm sẽ cho nhiệt độ gia  
nhiệt và sự đồng đều về nhiệt độ trên tấm  
insert là tốt nhất so với các trường hợp còn  
lại  
+ Trong các khoảng cách phun 3, 5, 7  
mm thì khoảng cách phun 3 mm cho kết  
quả nhiệt độ cao nhất, 7 mm cho kết quả  
nhiệt độ thấp nhất. Khoảng cách phun  
7mm cho sự đồng đều về nhiệt độ của bề  
mặt insert tốt nhất và khoảng cách phun  
3mm cho kết quả về sự đồng đều bề mặt  
thấp nhất.  
- Việc sử dụng tấm chắn khí khi gia nhiệt  
cho thấy nhiệt độ cũng như sự đồng đều về  
nhiệt độ trên các vị trí của tấm insert được  
nâng cao hơn so với trường hợp không sử  
dụng tấm chắn khí.  
+ Trong quá trình mô phỏng và thí  
nghiệm để tìm ra số lỗ thoát khí tối ưu  
cho “tấm chắn khí” tròn, kết quả nghiên  
cứu cho thấy số lỗ thoát khí càng ít thì  
nhiệt độ càng cao nhưng áp suất càng lớn  
và sự đồng đều nhiệt độ bề mặt càng thấp  
và ngược lại.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Shia-Chung Chen, Jen-An Chang, Ying-  
Chieh Wang and Chun-Feng Yeh,  
Development of Gas-Assisted Dynamic Mold  
Temperature Control System and Its  
Application for Micro Molding, ANTEC,  
2008, pp. 2208-2212.  
+ Qua quá trình thí nghiệm và mô phỏng  
đề tài cho biết được vị trí phân bố lỗ thoát  
khí mặt trên cho kết quả nhiệt độ và phân  
bố nhiệt tốt nhất cho tấm cần gia nhiệt  
bởi vì khi phân bố mặt trên thì dòng khí  
di chuyển với quãng dường dài nhất và  
thuận lợi nhất trước khi thoát ra ngoài.  
[2] Shia-Chung Chen, Rean-Der Chien, Su-  
Hsia Lin, Ming-Chung Lin, Jen-An Chang  
Shia-Chung Chen, Rean-Der Chien, Su-Hsia  
Lin and Ming-Chung Lin, Feasibility  
evaluation of gas-assisted heating for mold  
surface temperature control during injection  
molding  
process,  
International  
+ Vùng thể tích khí chứa trong “tấm  
chắn khí” cũng gây ảnh hưởng rất lớn  
đến nhiệt độ cũng như sự phân bố nhiệt  
độ bề mặt tấm gia nhiệt. Nếu thể tích khí  
chứa càng lớn thì nhiệt độ càng thấp  
nhưng phân bố nhiệt càng đồng đều và  
ngược lại. Trong 3 trường hợp thí nghiệm  
với chiều cao thể tích khí 5, 10, 15 mm  
kết quả cho thấy 5 mm là tốt nhất về  
nhiệt độ.  
Communications in Heat and Mass Transfer,  
vol 36, 2009, pp. 806-812.  
[3] S.-Y. Yang, S.-C. Nian, S.-T. Huang and  
Y.-J. Weng, A study on the microinjection  
molding of multi-cavity ultra-thin parts,  
Polymers Advances Technologies, 2011.  
[4] Shia-Chung Chen, Yu-Wan Lin, Rean-  
Der Chien and Hai-Mei Li, Variable Mold  
Temperature to Improve Surface Quality of  
Microcellular Injection Molded Parts Using  
Induction Heating Technology, Advances in  
Polymer Technology, Vol. 27, 2008, No. 4,  
pp. 224–232.  
+ Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vị trí  
trên tấm insert trong trường hợp có tấm  
chắn khí đồng đều hơn trong trường hợp  
không có tấm chắn khí.  
[5] B. Sha, S. Dimov, C. Griffiths and M.S.  
+ Nhiệt độ gia nhiệt tấm insert trong  
trường hợp có tấm chắn khí sẽ cao hơn so  
với nhiệt độ gia nhiệt tấm insert trong  
trường hợp không có tấm chắn khí.  
Packianather….  
Investigation  
of  
microinjection moulding: Factors affecting  
the replication quality, Journal of Materials  
Processing Technology, 2007, pp. 284–296.  
+ Sự chênh lệch giữa mô phỏng so với  
thực nghiệm là không đáng kể. Cho nên  
ta có thể dùng mô phỏng để tìm ra  
phương án tối ưu cho việc nâng cao hiệu  
quả gia nhiệt bề mặt khuôn để đưa ra  
[6] Shia-Chung Chen, Wen-Ren Jong, Jen-  
An Chang and Hsin-Shu Peng…. Simulation  
and verification on rapid mold surface  
eating/cooling  
using  
electromagnetic  
induction technology, 4th International  
Conference on Heat Transfer, Fluid  
Mechanics and Thermodynamics Cairo,  
Egypt, 2005.  
cycle injection molding process,” Materials  
& Design, 2010, Vol. 31, No. 7, pp. 3426 –  
3441.  
[15] S. Liparoti, A. Sorrentino and G.  
Titomanlio, “Fast cavity surface temperature  
evolution in injection molding: control of  
cooling stage and final morphology  
analysis,” RSC Advances, 2016, Vol. 6, pp.  
99274 – 99281.  
[7] L. Zema, G. Loreti, A. Melocchi, A.  
Maroni, and A. Gazzaniga, “Injection  
molding and its application to drug  
delivery,” Journal of Controlled Release,  
2012, Vol. 159, No. 3, pp. 324–331.  
[8] M. V´azquez and B. Paull, “Review on  
recent and advanced applications of  
monoliths and related porous polymer gels  
in micro-fluidic devices,” Analytica  
Chimica Acta, 2010, Vol. 668, No. 2,  
pp.100–113.  
[16] S. Liparoti, A. Sorrentino and G.  
Titomanlio, “Fast cavity surface temperature  
evolution in injection molding: control of  
cooling stage and final morphology  
analysis,” RSC Advances, 2016, vol. 6, pp.  
99274–99281.  
[9] M.-S. Huang and Y.-L. Huang, “Effect  
of multi-layered induction coils on  
efficiency and uniformity of surface  
heating,” International Journal of Heat  
and Mass Transfer, 2010, Vol. 53, No. 11-  
12, pp. 2414–2423.  
[17] Nguyễn Hộ, Nghiên cứu ảnh hưởng của  
phương pháp gia nhiệt bằng khí nóng đến  
khả năng điền đầy lòng khuôn sản phẩm  
nhựa dạng thành mỏng, trường Đại học sư  
phạm kỹ thuật TP.HCM, 2015.  
[18] ThS. Trần Minh Thế Uyên, PGS.TS.  
Phạm Sơn Minh, Experimental Study on  
External Air Heating for an Injection  
Molding Process, trường Đại học sư phạm kỹ  
thuật TP.HCM, 2019.  
[10] S.-C. Nian, C.-Y. Wu and M.-S.  
Huang, “Warpage control of thin-walled  
injection molding using local mold  
temperatures”,  
International  
Communications in Heat and Mass  
Transfer, 2015, Vol. 61, No. 1, pp. 102–  
110.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Nguyễn Tình  
Đơn vị: Công tác tại công ty TNHH  
IIDAMOLD Việt Nam.  
[11] S. Meister and D. Drummer,  
“Affecting the ageing behaviour of  
Điện thoại: 038 602 3068  
injection-moulded  
microparts  
using  
variothermal mould tempering,” Advances  
in Mechanical Engineering, 2013, Vol.  
2013, Article ID407964, pp. 7.  
[12] F. Baruffi,M. Calaon, and G.Tosello,  
“Effectsofmicro-injection  
moulding  
process parameters on accuracy and  
precision of thermoplastic elastomer micro  
rings,” Precision Engineering, 2018, Vol.  
51, pp. 353–361.  
[13] M.-C. Jeng, S.-C. Chen, P. S. Minh,  
J.-A. Chang and C.-S. Chung, “Rapid  
mold temperature control in injection  
molding by using steam heating,”  
International Communications in Heat  
and Mass Transfer, 2010, Vol. 37, No. 9,  
pp. 1295 - 1304.  
[14] W. Guilong, Z. Guoqun, L. Huiping  
and G. Yanjin, “Analysis of thermal  
cycling efficiency and optimal design of  
heating/ cooling systems for rapid heat  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 10/01/2024 19180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu nâng cao hiệu quả gia nhiệt bề mặt khuôn bằng khí nóng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_nang_cao_hieu_qua_gia_nhiet_be_mat_khuon_bang_khi.pdf