Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
IMPROVING THE QUALITY OF VOCATIONAL TRAINING FOR
RURAL LABORERS IN CHAU DOC CITY, AN GIANG PROVINCE
Trần Thị Thu Trang
Học viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Chiến lược phát triển kinh tế đất nước nói chung và phát triển kinh tế nông thôn nói riêng luôn
gắn với sự phát triển của nguồn lực con người. Vì vậy, nguồn nhân lực cần phải qua đào tạo để
phát triển toàn diện hơn, một trong những mảng đào tạo đặc biệt cần thiết hiện nay là đào tạo
nghề cho lao động nông thôn. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chủ trương được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2009 tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009. Đề
án đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và hoàn
thành mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới. Các cơ sở dạy nghề trên địa bàn
thành phố Châu Đốc đã có nhiều mô hình đào tạo nghề và hình thức dạy nghề phù hợp với tình
hình thực tế của người dân địa phương. Thông qua nguồn số liệu thứ cấp thu thập được từ các
cơ quan quản lý công tác đào tạo nghề của thành phố Châu Đốc và nguồn số liệu sơ cấp thu
thập từ phỏng vấn thực tế các đối tượng có liên quan đến công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn. Từ đó, đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT và các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT tại thành phố Châu Đốc. Trong
thời gian qua công tác đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Châu Đốc đã đạt được những kết
quả nhất định. Bước đầu đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động, nhu cầu sử
dụng lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, các lớp đào tạo nghề trên địa bàn thành phố đã góp phần nâng cao trình độ tay nghề
và nhận thức của lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu việc làm cho các doanh nghiệp sử dụng
lao động. Từ kết quả đó làm cơ sở để đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt
động đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố trong thời gian tới.
Từ khóa: Đào tạo nghề; cơ sở dạy nghề; lao động nông thôn; chất lượng đào tạo nghề; giải
quyết việc làm.
ABSTRACT
The national economic development strategy in general and the rural economic development in
particular are always associated with the development of human resources. Therefore, human
resources need to be trained to develop more comprehensively, one of the special training
fields currently needed is vocational training for rural workers. Vocational training for rural
labor is a policy approved by the Prime Minister in 2009 in Decision No. 1956 / QD-TTg of
November 27, 2009. The project has contributed to creating jobs, improving the quality of
human resources for rural areas and fulfilling the objectives of the national new rural
construction program. Vocational training institutions in Chau Doc city have many vocational
training models and vocational training forms suitable to the actual situation of the local
people. Through secondary data collected from the vocational training management agencies
113
of Chau Doc city and primary data sources collected from actual interviews with subjects
related to training craft for rural workers. Since then, assess the status of improving the quality
of vocational training for rural laborers and the factors affecting the quality of vocational
training for rural laborers in Chau Doc city. In the past time, vocational training in Chau Doc
city has achieved certain results. Initially meeting the vocational training needs of workers, the
labor use needs of production, business, service and enterprise establishments. The research
results show that vocational training courses in the city have contributed to improving the skill
level and awareness of rural workers to meet job requirements for employers. From these
results, it is a basis for proposing solutions to contribute to improving the quality of vocational
training activities for rural workers in the city in the future.
Keywords: Vocational training; vocational sites; rural labor; quality of vocational training; jobs.
“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự
nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp,
các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất
lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để
phát triển đào tạo nghề cho lao động nông
thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công
bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi
lao động nông thôn, khuyến khích, huy động
và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào
tạo nghề cho lao động nông thôn”.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
là một trong những chiến lược quan trọng,
góp phần giảm nghèo và an sinh xã hội.
Ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa
học, công nghệ, nhiều ngành sản xuất mới
xuất hiện đòi hỏi trình độ tay nghề và độ
chính xác cao. Bên cạnh việc dạy nghề
ngắn hạn đáp ứng nhu cầu xã hội thì việc
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
cũng cần được chú trọng hơn nữa. Đây là
nguồn nhân lực hết sức quan trọng, có năng
suất lao động và trình độ tay nghề cao,
Trong thời gian qua công tác đào tạo
mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài, bền vững. nghề (ĐTN) trên địa bàn thành phố Châu
Đốc đã đạt được những kết quả nhất định.
Để thực hiện được mục tiêu này, ngoài
Bước đầu đáp ứng được nhu cầu học nghề
việc các cơ sở đào tạo chủ động, tích cực
của người lao động, nhu cầu sử dụng lao
chuẩn bị thì các cơ quan quản lý Nhà nước
động của các cơ sở sản xuất kinh doanh,
cũng cần có chiến lược quy hoạch mạng
dịch vụ, doanh nghiệp. Với phương châm
lưới cơ sở dạy nghề (CSDN) và xây dựng
cơ cấu ngành nghề, góp phần định hướng
phát huy tối đa nguồn lực hỗ trợ từ Trung
ương, địa phương và các tổ chức, doanh
cho cơ sở đào tạo. Đồng thời, có chính sách
nghiệp trong và ngoài thành phố. Châu Đốc
khuyến khích, mở rộng và nâng cao chất
đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể nhằm
lượng đào tạo nghề, tránh tình trạng “thừa
khắc phục những hạn chế về chất lượng đào
thầy thiếu thợ” như hiện nay.
tạo nghề đối với lao động nông thôn
Từ thực tiễn trên, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày
27/11/2009 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề
cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Đề
án đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và
hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia
xây dựng nông thôn mới. Đề án đã thể hiện
rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta:
(LĐNT) như: Liên kết đào tạo nghề với các
doanh nghiệp; xây dựng mô hình dạy nghề
mới; tổ chức dạy nghề lưu động tại các cơ sở
và phường - xã và kể cả ở các huyện, thị lân
cận. Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu
tiến hành đánh giá chất lượng công tác đào
tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn
thành phố Châu Đốc. Từ đó, tìm ra một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công
114
tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên sa sông Hậu bồi đắp. Địa hình thấp dần theo
địa bàn thành phố trong thời gian tới.
hướng Đông Bắc - Tây Nam. Ở trung tâm
có Núi Sam đột khởi lên giữa đồng bằng tạo
nên cảnh quan độc đáo. Phía đông có sông
Châu Đốc và sông Hậu, phía Tây có kênh
Vĩnh Tế chạy song song với biên giới
Campuchia, nối liền với thị xã Hà Tiên. Địa
hình chia cắt bởi các kênh rạch ngang dọc.
Với địa hình đa dạng, Châu Đốc có điều
kiện phát triển về thương mại, dịch vụ, du
lịch và nông nghiệp.
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LĐNT
- Đối với Quyết định 1956/QĐ-TTg thì
lao động nông thôn là những người từ đủ 15
tuổi đến 60 tuổi (đối với nam), 55 tuổi (đối
với nữ), có trình độ học vấn và sức khỏe
phù hợp với nghề cần học, bao gồm:
+ Người lao động có hộ khẩu thường
trú tại xã;
Nông nghiệp là một ngành đã hình
thành và phát triển từ rất lâu đời ở thành
phố. Loại hình nông nghiệp đô thị là một
thế mạnh của thành phố. Thành phố Châu
Đốc ngày nay còn là trung tâm du lịch của
tỉnh An Giang và Đồng bằng sông Cửu
Long, là thành phố đồng bằng đặc biệt có
sông, có núi với phong cảnh tự nhiên hấp
dẫn và nhiều di tích lịch sử - văn hoá được
xếp hạng cấp Quốc gia và cấp địa phương
(cấp Tỉnh); địa điểm du lịch phong phú đa
dạng được trải đều và liên hoàn trên toàn
thành phố.
+ Người lao động có hộ khẩu thường
trú tại phường, thị trấn đang trực tiếp làm
nông nghiệp hoặc thuộc hộ gia đình có đất
nông nghiệp bị thu hồi.
Trong các đối tượng nêu trên, ưu tiên
đào tạo nghề cho người lao động thuộc diện
hưởng chính sách ưu đãi người có công với
cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận
nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết
tật, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất
nông nghiệp, ngư dân.
- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
là thực hiện đào tạo theo nhu cầu học nghề
của lao động nông thôn, nhu cầu sử dụng
lao động của doanh nghiệp và yêu cầu của
thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với
chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, quy hoạch xây dựng nông thôn mới,
đáp ứng nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông
nghiệp và giảm nghèo bền vững.
Với tiềm năng là một thành phố du lịch
nên thương mại - dịch vụ của thành phố là
một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế
thành phố.
3.2. Đặc điểm của LĐNT ở thành
phố Châu Đốc
Theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ, thì đối tượng LĐNT
ở thành phố Châu Đốc chủ yếu tập trung ở
khu vực thành thị, chỉ một số ít là ở nông
thôn (thuộc 02 xã nông thôn mới Vĩnh Tế,
Vĩnh Châu và phường Vĩnh Nguơn). Vì
Châu Đốc là một thành phố du lịch, tâm
linh từ xưa đến nay nên hầu hết LĐNT ở
thành phố Châu Đốc thường sinh sống bằng
các nghề phục vụ cho thương mại - dịch vụ
- du lịch như: Mua bán nhỏ, phục vụ buồng,
bàn, lễ tân ở các nhà trọ, khách sạn, nhà
hàng hoặc các quán ăn, uống trên địa bàn.
Và đặc biệt là làm theo thời vụ Lễ hội Vía
Bà Chúa xứ Núi Sam. Còn đối với ở vùng
nông thôn thì chủ yếu làm nông nghiệp, các
III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO
TẠO NGHỀ CHO LĐNT TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
3.1. Tổng quan về thành phố Châu Đốc
Châu Đốc là thành phố trực thuộc tỉnh
An Giang, là đô thị loại hai, sát biên giới
Việt Nam với Vương quốc Campuchia.
Dân cư thành phố Châu Đốc sinh sống tập
trung ở khu vực ven sông Hậu, ven Quốc lộ
91, tại các phường trung tâm thành phố, tại
các khu dân cư ... với cơ cấu dân số trẻ, dân
cư đô thị chiếm gần 80%. Châu Đốc thuộc
vùng đồng bằng của tỉnh An Giang do phù
115
đối tượng trong độ tuổi lao động thường đi dài, nhưng đại đa số LĐNT chỉ nhận thấy
lao động ở các tỉnh khác như: Bình Dương, cái lợi trước mắt chứ không dự tính cho
Tp. Hồ Chí Minh, … nơi có nhiều khu công tương lai, chính vì thế việc tham gia học
nghiệp, ở lại chỉ còn người già và trẻ em. nghề còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn. Đây
Vả lại, Châu Đốc cũng là thành phố có chính là vấn đề nan giải của chính quyền
chiều dài biên giới giáp với nước bạn địa phương thành phố Châu Đốc cũng như
Campuchia nên việc đi lại mua bán qua các cơ sở dạy nghề hiện nay. Vì vậy, việc
biên giới cũng khá thuận lợi, vì thế một số vận động, làm thay đổi nhận thức người
LĐNT cũng sinh sống bằng nghề này.
dân, cũng như nâng cao chất lượng công tác
ĐTN cho LĐNT trên địa bàn Châu Đốc
hiện nay và những năm tiếp theo là hết sức
cần thiết.
Nhìn chung, trên địa bàn thành phố
Châu Đốc, việc tìm kiếm công việc để sinh
sống hàng ngày cho LĐNT không thiếu, thu
nhập lại cao, tuy nhiên không mang tính lâu
Hình 1. Sự phân bố dân cư trên địa bàn thành phố Châu Đốc
có nhu cầu học nghề dài hạn phải đi đến các
cơ sở đào tạo bên ngoài thành phố làm cho
chi phí học tập cũng như khả năng quay về
làm việc tại thành phố sau khi tốt nghiệp là
rất thấp. Lao động qua đào tạo nghề ngắn
hạn năm 2016 là 1.204 lao động, năm 2017
đào tạo nghề cho 1.251 lao động, năm 2018
là 1.408 lao động, tăng bình quân là
8,2%/năm. Số lao động được đào tạo tại
doanh nghiệp bình quân hằng năm tăng
39,65% với số lao động được đào tạo năm
2016 là 403 lao động, năm 2018 tăng lên
747 lao động.
3.3. Kết quả đào tạo
Được sự quan tâm của các cấp, các
ngành cùng với sự chủ động đầu tư trang
thiết bị, mở rộng các ngành nghề, hình thức
đào tạo và đặc biệt là sự chuyển biến tâm lý
về nghề nghiệp của người dân và lao động
nên số lượng và chất lượng đào tạo nghề
của thành phố Châu Đốc được tăng lên qua
các năm. Kết quả đào tạo nghề qua các năm
thể hiện qua bảng 2.
Qua bảng ta thấy số lượng lao động
được đào tạo dài hạn trên địa bàn thành phố
là chưa có. Đây là một bất cập cần sớm
được giải quyết. Hiện nay những lao động
Kết quả đào tạo nghề cho thấy thành
phố cần sớm khắc phục tình trạng đào tạo
116
nghề dài hạn. Số lượng lao động qua đào đáp ứng được cho thị trường lao động. Đào
tạo nghề ngắn hạn bao gồm đào tạo nghề tại tạo nghề ngắn hạn mặc dù được triển khai ở
Trường trung cấp nghề Châu Đốc, Trung nhiều cơ sở đào tạo với số lượng đông
tâm dịch vụ việc làm, tại các cơ sở sản xuất nhưng nếu nhìn mặt bằng chung thì con số
của DN năm 2016 chiếm 103,8% và đến này khá khiêm tốn. Nhiệm vụ chính của
năm 2018 chiếm 102,77%. Trong đó chủ Trường trung cấp nghề Châu Đốc là đào tạo
yếu lao động được đào tạo tại các cơ sở sản nghề ngắn hạn cho lao động nhưng do điều
xuất trên địa bàn thành phố. Số lượng lớn kiện của trường còn hạn chế nên số lượng
lao động còn lại chỉ dừng lại ở tập huấn, lao động được đào tạo ở trường còn khá
trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng ở các lớp thấp. Các lao động được đào tạo nghề ngắn
học tại cộng đồng.
hạn ở đây chủ yếu được đào tạo tại các DN
sản xuất hoặc các địa phương trên địa bàn
thành phố.
Mặc dù qua mỗi năm, lao động qua đào
tạo nghề trên địa bàn thành phố có tăng lên
về số lượng, tuy nhiên chất lượng thì chưa
Bảng 2: Số lượng lao động được đào tạo trên địa bàn thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
(2016 - 2018)
2016
2017
2018
Tốc độ phát triển (%)
S
T
T
Chỉ tiêu
SL
CC
(%)
SL
CC
(%)
SL
CC
(%)
Bình
17/16
18/17
(người)
(người)
(người)
quân
Tổng
số
lao động
1.204
103,8
1.251
102,54
1.408
102,77
103,9
112,5
108,2
qua
tạo
đào
Dạy nghề
dài hạn
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Dạy nghề
ngắn hạn
1.204
103,8
1.251
102,54
1.408
102,77
103,9
112,5
108,2
Dạy
tại
trường
trung cấp
nghề
544
167
123,64
139,2
475
88
95
528
133
117,33
110,83
87,32
52,69
111,16
99,24
2
Dạy
Trung tâm
dịch
việc làm
tại
73,33
151,14 143,42
108,58 139,65
vụ
Dạy
doanh
nghiệp
tại
403
67,17
688
114,67
747
93,38
170,72
(Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH thành phố Châu Đốc)
Đối với các doanh nghiệp trên địa bàn chung số lượng đào tạo nghề ở các doanh
thành phố, trong những năm qua đã đào tạo nghiệp giữ ở mức ổn định khoảng 180 lao
một số lượng lao động khá lớn, góp phần động/năm, với các nghề đào tạo như: May
không nhỏ trong tổng số lao động qua đào công nghiệp, nghiệp vụ lễ tân, nghiệp vụ
tạo nghề của thành phố. Qua 03 năm, nhìn bếp, nghiệp vụ phục vụ buồng, nghiệp vụ
117
phục vụ các nhà hàng, quán ăn ở nông thôn, sản xuất nhằm đạt năng suất, hiệu quả cao.
... Với hình thức dạy nghề ở các doanh Kết quả, hằng năm bình quân đã bồi dưỡng
nghiệp đã góp phần không nhỏ trong công được cho khoảng 450 LĐNT.
tác giải quyết việc làm cho người LĐNT,
3.4. Đánh giá hiệu quả và chất lượng
tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân
đào tạo
có thể kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và
phát triển du lịch tại địa phương.
Trong 3 năm từ 2016 đến 2018
Trường Trung cấp nghề Châu Đốc đã đào
tạo được tổng số 570 lao động học trong
03 ngành là: Kỹ thuật phục vụ nhà hàng,
quán ăn nông thôn; xây dựng dân dụng và
may công nghiệp. Tay nghề của người lao
động được Trường Trung cấp nghề Châu
Đốc đánh giá được thể hiện trong hình 3:
Ngoài dạy nghề tại các cơ sở đào tạo
nghề, tại các doanh nghiệp, thì tại các
phường, xã của thành phố hằng năm đã tổ
chức nhiều lớp học tại cộng đồng để người
nông dân có thể trao đổi kinh nghiệm trong
sản xuất và được tập huấn chuyển giao
công nghệ, ứng dụng các tiến bộ mới vào
Hình 3. Đánh giá tay nghề của người lao động tại Trường Trung cấp nghề Châu Đốc sau
các khóa đào tạo.
Ta thấy trong tổng số lao động đã qua gắng của Trường Trung cấp nghề Châu Đốc
đào tạo tại Trường Trung cấp nghề Châu trong quá trình truyền đạt kiến thức cho học
Đốc trong 3 năm 2016 - 2018 có kết quả sau viên.
khi học được đánh giá khá tốt. Số lao động
Chương trình dạy nghề cho lao động
được đánh giá có chất lượng tay nghề sau
nông thôn đã mang lại một số kết quả khả
đào tạo Khá và tốt chiếm 84,6% trong tổng
quan: Góp phần tích cực vào việc nâng cao
số lao động được đào tạo. Số lao động có tay
chất lượng nguồn lực lao động tại địa
nghề được đánh giá là trung bình chiếm
phương, tạo điều kiện cho người trong độ
15,1% và số lao động có tay nghề yếu chiếm
tuổi lao động thuộc nhiều trình độ đều được
0,3%. Kết quả đó đạt được là nhờ sự cố gắng
học nghề.
học tập của người lao động cũng như sự cố
118
Bảng 4: Kết quả hoạt động dạy nghề cho LĐNT tại TPCĐ từ 2016 - 2018
Số học viên
Năm
Theo cấp trình độ
Tổng số
học viên
Sơ cấp
Dạy nghề dưới 3 tháng
2016
2017
2018
Tổng
1.204
1.251
1.408
6.041
75
60
1.129
1.191
1.348
3.668
60
195
Đến cuối năm 2018, tỷ lệ lao động
nông thôn đã qua đào tạo nghề tại thành
phố Châu Đốc là 68%.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC HIỆN NAY
VÀ TRONG NHỮNG NĂM TIẾP
THEO
Bên cạnh những ưu điểm, thực trạng
đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại
thành phố Châu Đốc vẫn còn một số hạn
chế, yếu kém chậm khắc phục nên đã ảnh
hưởng đến chất lượng và hiệu quả dạy
nghề, cụ thể như:
4.1. Các giải pháp từ phía Nhà nước
và chính quyền địa phương
- Tuyên truyền sâu rộng về vai trò, ý
- Sự phối hợp giữa các ngành chức nghĩa của đào tạo nghề đối với sự phát triển
năng với cơ sở ĐTN và các doanh nghiệp của xã hội… là nhiệm vụ thường xuyên,
có lúc chưa chặt chẽ.
liên tục của các cấp ủy, Đảng, chính quyền
và toàn xã hội.
- Công tác tuyên truyền vận động ở một
số địa phương chưa được thường xuyên, sâu
- Nâng cao nhận thức của các cấp, các
rộng; nhận thức về học nghề để có việc làm ngành, xã hội, của cán bộ, công chức xã và
của người lao động chưa cao.
lao động nông thôn về vai trò của đào tạo
nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu
nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực nông thôn.
- Nhiều lao động nông thôn có trình độ
học vấn thấp phải làm thuê kiếm sống hàng
ngày, nên rất khó trong việc vận động tham
gia học nghề.
- Triển khai thực hiện tốt và kịp thời
các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nhằm
tạo điều kiện cho người lao động thuộc hộ
nghèo, LĐNT, người dân tộc thiểu số, bộ
đội, công an phục viên, xuất ngũ, người
thuộc đối tượng chuyển đổi nghề, phụ nữ
mất việc làm, lao động các xã đặc biệt
khó khăn, … có điều kiện tham gia học
nghề.
- Nguồn kinh phí phục vụ cho công tác
dạy nghề chưa đáp ứng so với nhu cầu kế
hoạch. Vốn đầu tư cho các chương trình dự
án bị lãng phí do công tác đào tạo nghề cho
lao động còn nhiều bất cập, hiệu quả đầu tư
chưa cao. Chậm trễ và thiếu hụt trong việc
đưa các trang thiết bị đầu tư cho đào tạo
nghề vào sử dụng.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám
sát, đánh giá tình hình thực hiện các mục
tiêu, chỉ tiêu đào tạo đã đề ra; tình hình
quản lý và sử dụng kinh phí đầu tư để
nâng cao chất lượng và hiệu quả GDNN.
Ở thành phố Châu Đốc, doanh nghiệp
trên địa bàn chủ yếu là vừa và nhỏ nên sức
hút lao động còn thấp, chủ yếu là sử dụng
lao động phổ thông nên việc phối hợp giải
quyết việc làm sau đào tạo còn gặp khó
khăn.
119
góp phần vào giải quyết vấn đề đào tạo nghề
cho LĐNT.
4.2. Nâng cao nhận thức xꢀ hội về vai
trò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát
triển kinh tế - xꢀ hội
- Các CSDN cần định kỳ điều chỉnh lại
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đề chương trình đào tạo theo hướng xác định
án sâu rộng đến người lao động ở khắp các mục tiêu đào tạo phù hợp với yêu cầu
vùng nông thôn của thành phố, đăc biệt là TTLĐ; xác định tỷ lệ phù hợp giữa lý
ở vùng đặc biệt khó khăn.
thuyết và thực hành, đặc biệt ưu tiên nhiều
thời gian dạy thực hành để nâng cao kỹ
năng nghề cho người học. Do đó, trong
chương trình đào tạo cần căn cứ đặc thù
nghề để xác định thời gian, phương pháp và
hình thức đào tạo để quá trình đào tạo luôn
gắn liên với thực tế lao động sản xuất.
- Nâng cao trình độ văn hóa và định
hướng nghề cho lao động nông thôn
- Cần điều tra, thống kê số lượng lao
động nông thôn cần đào tạo, số lượng nghề
có thể đào tạo. Điều tra, xác định rõ nhu
cầu, mong muốn được đào tạo của người
lao động nông thôn. Gắn kết nhu cầu với kế
hoạch đào tạo giúp người lao động hiểu rõ
quyền và lợi ích họ có được sau khi được
đào tạo.
- Giáo trình, tài liệu học tập cũng là
một trong những hạn chế trong ĐTN cho
LĐNT, ngoài đảm bảo cung cấp đủ số
lượng giáo trình, tài liệu các môn học của
mỗi chương trình đào tạo cho các học viên,
cần phải thay đổi cách xây dựng, cách trình
bày nội dung để người học dễ tiếp cận và
tiếp thu được kiến thức. Phải có những
phương pháp đào tạo cụ thể, đa dạng hóa
hình thức đào tạo phù hợp với nội dung, đối
tượng giảng dạy.
- Chính sách tạo việc làm cho người
lao động sau đào tạo cần được tỉnh hỗ trợ
hơn nữa, tăng cường triển khai thường
xuyên các chương trình về đào tạo nghề cho
người lao động.
4.3. Mở rộng hình thức và ngành
nghề đào tạo; đổi mới nội dung, chương
trình đào tạo phù hợp với tình hình phát
triển hiện nay của địa phương
4.4. Tăng cường đầu tư cơ sở vật
chất, bổ sung trang thiết bị, phương tiện
phục vụ cho giảng dạy, học tập
Hiện nay, nhu cầu học nghề của bộ
phận LĐNT bao gồm nhiều đối tượng,
nhiều lứa tuổi khác nhau với mong muốn
được học những ngành nghề sau này có cơ
hội tìm kiếm việc làm với mức thu nhập
cao. Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ đào
tạo nghề cho LĐNT cần tích cực rà soát,
tìm hiểu nhu cầu đối tượng, lứa tuổi có nhu
cầu học nghề, đồng thời cần phải nắm bắt
rõ nhu cầu tuyển dụng lao động của DN
trên địa bàn và các vùng lân cận để có chiến
lược phát triển các hình thức và ngành nghề
đào tạo đáp ứng được nhu cầu đó.
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ
thuật cho đào tạo nghề là một giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
lao động, tạo điều kiện cho học viên có thể
học tập, phát huy được năng lực bản thân,
nhờ đó chất lượng lao động được nâng lên,
đáp ứng được nhu cầu xã hội.
4.5. Nâng cao chất lượng, số lượng
đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo
nghề
Giáo viên là yếu tố quyết định đến chất
lượng đào tạo. Do đó muốn nâng cao chất
lượng đào tạo nghề, giải pháp quan trọng là
phải nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ
giáo viên. Cần lên kế hoạch cụ thể về đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, ngoại
ngữ, tin học… cho đội ngũ giáo viên.
Bên cạnh đó nội dung, hình thức đào tạo
nghề cũng cần thay đổi sao cho phù hợp với
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành
phố. Có như vậy mới tạo sự tin tưởng và thu
hút được lực lượng LĐNT đến học nghề,
120
Để thực hiện được các giải pháp trên trên địa bàn thành phố Châu Đốc tôi có một
thì cần có nguồn kinh phí để đầu tư và phát số kết luận như sau:
triển. Hiện nay trường thực hiện đào tạo
Thứ nhất: Vai trò của nâng cao chất
hoàn toàn miễn phí cho người lao động tại
lượng đào tạo nghề, đặc biệt là nâng cao
địa phương nên tất cả các khoản chi phí và
chất lượng ĐTN cho LĐNT là vô cùng
hoạt động của trường hoàn toàn đến từ
quan trọng đối với quá trình phát triển KT -
nguồn hỗ trợ đầu tư của Nhà nước và đầu tư
XH của thành phố Châu Đốc.
của tỉnh, thành phố.
Thứ hai: Những năm qua, công tác
ĐTN của thành phố Châu Đốc đã đạt được
những kết quả nhất định. Trong 3 năm 2016
4.6. Tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát trong quá trình đào tạo nghề
Cần có sự quan tâm và giám sát chặt - 2018 bình quân mỗi năm thành phố đào
chẽ từ các cấp lãnh đạo. Luôn theo dõi và tạo nghề cho khoảng 1.204 LĐNT, tăng
kiểm tra thường xuyên công tác đào tạo bình quân 11,2%/năm. Tuy nhiên, công tác
nghề cho lao động nông thôn. Nhanh chóng ĐTN cho LĐNT cũng còn rất nhiều tồn tại,
rút kinh nghiệm những mặt chưa tốt trong yếu kém cần sớm giải quyết. Hiện nay, các
quá trình đào tạo để kịp thời có những CSDN của thành phố chưa mở rộng các
phương án hiệu quả hơn.
hình thức dạy nghề nhất là dạy nghề dài hạn
hiện nay chưa mở lớp; các ngành nghề đào
tạo còn rất hạn chế, do đó chưa đáp ứng
được nhu cầu của thị trường lao động. Hình
thức đào tạo dài hạn của thành phố hiện nay
vẫn chưa được triển khai, lao động của thành
phố được đào tạo tại các lớp học sơ cấp từ 1
đến 3 tháng và các lớp học tại cộng đồng với
thời gian dưới 3 tháng chiếm tỷ lệ trên 90%.
Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng lao động trên địa bàn thành phố
Châu Đốc.
4.7. Đào tạo nghề gắn với giải quyết
việc làm cho người lao động
Tạo việc làm mới và giải quyết việc
làm thêm cho người lao động chịu tác động
trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật và công nghệ. Yêu cầu về chất lượng
lao động của các DN cũng ngày càng khắt
khe hơn, do đó để có thể giải quyết việc làm
cho LĐNT cần tiến hành nâng cao chất
lượng đào tạo nghề cho LĐNT.
Giải quyết được việc làm cho người lao
động sau khi đào tạo là một việc làm hết
sức có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội hiện nay và trong thời gian tới của
thành phố. Công tác đào tạo nghề gắn liền
với giải quyết việc làm sẽ là động lực thúc
đẩy người lao động có nhu cầu học nghề
cao hơn, họ có thể yên tâm học tập, phát
huy hết khả năng và ý thức, trách nhiệm của
bản thân, từ đó chất lượng lao động sẽ được
nâng cao; các cơ sở sản xuất kinh doanh sẽ
tận dụng được nguồn nhân lực tại địa
phương đảm bảo về số lượng và chất lượng
giúp yên tâm sản xuất kinh doanh.
Thứ ba: Đề tài đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
lao động nông thôn thành phố Châu Đốc -
Tỉnh An Giang. Giải pháp mà đề tài đưa ra
phù hợp với tình hình phát triển chung của
thành phố Châu Đốc. Các giải pháp trên
góp phần hạn chế những tồn tại, khó khăn,
yếu kém mà công tác đào tạo nghề trên địa
bàn đang gặp phải. Khi triển khai công tác
đào tạo nghề trong những năm tới thì cần
lựa chọn và ưu tiên những giải pháp trọng
yếu và phù hợp với tình hình cụ thể của
từng giai đoạn phát triển.
V. KẾT LUẬN
Từ quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về
công tác đào tạo nghề và nâng cao chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
121
TÀI LIỆU THAM KHẢO
. Niên giám thống kê thành phố Châu Đốc năm 2016, 2017 và 2018, NXB thống kê.
. Sở Lao động - TB&XH An Giang (2018), Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông
thôn năm 2018 theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 về phê
duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Họ tên
: Trần Thị Thu Trang
Đơn vị
Điện thoại
Email
: Trường Trung cấp nghề Châu Đốc
: 0939 936336
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TS. Trần Đăng Thịnh
122
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_chat_luong_cong_tac_dao_tao_nghe_cho_lao_dong_nong.pdf

