Một số vấn đề về dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC  
HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP  
SOME PROBLEMS WITH COMPETENCE-BASED TRAINING  
IN VOCATIONAL EDUCATION  
Nguyễn Thị Thanh Thủy  
Học viên Cao học Trường Đại học SPKT TP.HCM  
TÓM TẮT  
Dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp, một xu hướng dạy học khá  
phổ biến hiện nay không chỉ ở nhiều nước trên thế giới mà ngay tại Việt Nam đặc biệt trong lĩnh  
vực giáo dục nghề nghiệp, mặc dù vấn đề này vẫn còn nhiều điều cần nghiên cứu.  
Dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp, một quan điểm giáo dục luôn  
luôn chú trọng vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo, không chỉ nhằm mục tiêu hình thành  
cho người học năng lực chuyên môn mà còn phát triển cho người học những năng lực khác như:  
năng lực phương pháp, năng lực xã hội và cả năng lực cá nhân. Những năng lực không tách rời  
nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự giao thoa hay kết hợp hợp lý và linh hoạt các  
năng lực này sẽ hình thành nên năng lực hoạt động nghề nghiệp. Chính nền tảng năng lực hoạt  
động nghề nghiệp đó sẽ giúp cho người học sau khi tốt nghiệp sẵn sàng tham gia vào thị trường  
lao động. Họ sẽ cảm thấy tự tin hơn, bản lĩnh hơn khi thực hiện công việc hay giải quyết các tình  
huống thực tiễn trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động nghề nghiệp của họ. Trên cơ sở  
đó, trong phạm vi bài này, người nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn đề dạy học theo định  
hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp.  
Từ khóa: dạy học; năng lực; năng lực hoạt động nghề nghiệp; dạy học theo định hướng năng  
lực hoạt động nghề nghiệp.  
ABSTRACT  
Competence-based training in vocational education, a popular trend in teaching  
methods today is not only in many countries around the world but also in Vietnam, especially in  
the field of vocational education, although this still has many issues to study.  
Competence-based training in vocational education, an educational perspective always  
focuses on the output of the training process. Its purpose aims to form learners’ professional  
competency as well as developing other competencies for them, such as, methodical competency,  
social competency, and individual competency. These competencies are not separable but have a  
close interaction with each other. The interference or a rational and flexible combination of  
these competencies will form the professional competency for learners. The foundation of that  
will help learners be ready to participate in the labor market after graduation. They will feel  
more confident and high-spirited when doing their work or solving real situations in their lives  
as well as in their professional activities. On that basis, the researcher mentioned some  
problems Competence-based training in vocational education  
Key words: training; competency; Professional action competency; Competence-based training  
in vocational education  
1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bước sang thế kỉ 21, nhu cầu của xã hội  
công nghiệp và thương mại dưới các điều kiện  
hiện hành; là khả năng thực hiện các hoạt động  
(nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo các tiêu  
chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc  
đó” [3].  
ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng trong  
tất cả các lĩnh vực. Để đáp ứng cho nhu cầu đó  
cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao có  
đầy đủ các năng lực để họ thực hiện tốt công  
việc hay giải quyết các tình huống trong cuộc  
sống cũng như trong hoạt động nghề nghiệp.  
Do vậy, các nhà giáo dục phải liên tục cải tiến,  
thay đổi, sửa sang lại các chương trình đào tạo,  
nội dung giảng dạy, phương pháp dạy học  
nhằm tạo điều kiện cho người học chủ động  
tìm kiếm tri thức, phát huy các khả năng tư  
duy, sáng tạo để vận dụng vào thực tiễn phát  
triển của xã hội.  
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM  
2.1. Dạy học  
Hình 1: Cấu trúc năng lực hoạt động  
nghề nghiệp  
Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ  
yếu nhất của nhà trường, diễn ra theo một quá  
trình nhất định từ t0 đến tn gọi là quá trình dạy  
học. Đó là một quá trình xã hội bao gồm và  
gắn liền với hoạt động dạy và hoạt động học  
trong đó học sinh tự giác, tích cực, chủ động,  
tự tổ chức, tự điều kiển và điều chỉnh hoạt  
động nhận thức của mình dưới sự điều khiển  
chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của giáo viên  
nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học  
[1].  
Trong đó:  
- Năng lực chuyên môn: năng lực về  
một lĩnh vực/môn học cụ thể. Là khả năng  
thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn (bao  
gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng  
hợp và trừu tượng; khả năng nhận biết các mối  
quan hệ thống nhất trong quá trình…).  
- Năng lực phương pháp: Là khả năng  
đối với những hành động có kế hoạch, định  
hướng mục đích trong công việc giải quyết các  
nhiệm vụ và vấn đề đặt ra. Trọng tâm của năng  
lực phương pháp là những phương pháp nhận  
thức, xử lý, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu.  
2.2. Năng lực  
Có rất nhiều các khái niệm về năng lực.  
Theo Rudolf Tippelt, ông cho rằng: “ Năng lực  
là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu  
quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ,  
vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc  
các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân  
trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh  
nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động ” [2].  
- Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được  
mục đích trong những tình huống xã hội cũng  
như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự  
phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.  
Trọng tâm của năng lực xã hội là ý thức được  
trách nhiệm của bản thân cũng như của những  
người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức; có  
khả năng thực hiện các hành động xã hội, khả  
năng cộng tác và giải quyết xung đột.  
2.3. Năng lực hoạt động nghề nghiệp (Năng  
lực thực hiện)  
Trong giáo dục nghề nghiệp (GDNN),  
năng lực hoạt động nghề nghiệp (NLHĐNN)  
có thể được định nghĩa như sau: “là sự vận  
dụng các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ  
để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chuẩn  
- Năng lực cá nhân: Là khả năng suy  
nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển  
cũng như những giới hạn của mình; phát triển  
được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng  
và thực hiện kế hoạch cho cuộc sống riêng;  
2
những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và 2.1. Chương trình đào tạo:  
động cơ chi phối các hành vi ứng xử. Nó được  
Thực trạng hiện nay cho thấy phần lớn  
tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và  
liên quan đến tư duy và hành động tự chịu  
trách nhiệm.  
các chương trình đào tạo nghề còn theo xu  
hướng tách rời lý thuyết và thực hành (dạy lý  
thuyết trước, dạy thực hành sau). Với chương  
Năng lực hoạt động nghề nghiệp là sự trình như thế sẽ mang đến những hạn chế như  
giao nhau của bốn năng lực thành phần trên. sau:  
Do vậy phát triển năng lực hoạt động nghề  
- Một là làm cho người học mất nhiều  
nghiệp chính là phát triển cả bốn năng lực  
thời gian phải tìm lại kiến thức lý thuyết trước  
thành phần trong cùng một bài dạy. Đầu tiên  
khi vận dụng vào học thực hành;  
chính là thành phần năng lực chuyên môn  
- Hai là chưa xác định rõ ràng những  
năng lực người học phải đạt được sau mỗi  
được học thông qua nội dung lý thuyết và thực  
hành giải quyết tình huống nhiệm vụ nghề  
công việc/tình huống trong bài dạy, môn học  
nghiệp. Các năng lực thành phần như năng lực  
phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá  
hay chương trình đào tạo;  
nhân sẽ được hình thành qua việc tổ chức dạy  
học của giáo viên [2].  
- Ba là chương trình còn thiếu tính liên  
kết với thực tiễn.  
2.4. Dạy học theo định hướng năng lực hoạt  
động nghề nghiệp  
Vì vậy, với chương trình đào tạo như thế  
sẽ là cho người học khó hình dung được các  
tình huống/công việc sau này trong hoạt động  
nghề nghiệp của mình nên làm hạn chế sự  
hứng thú và tích cực học tập của họ.  
Nói đến dạy học theo định hướng năng  
lực hoạt động nghề nghiệp là nói đến những  
đặc điểm sau:  
2.2. Tổ chức dạy học  
- Đây là quan điểm dạy học định hướng  
kết quả đầu ra, nghĩa là sau khi học xong  
người học có thể làm được công việc gì trong  
các hoạt động nghề nghiệp nhất định. Các  
năng lực mà người học thu nhận trong quá  
trình đào tạo phải phù hợp với công việc mà  
những người hành nghề thực tế phải làm  
và/hoặc dưới dạng các hành vi và thái độ nghề  
nghiệp.  
- Phương pháp dạy học (PPDH)  
Trong giáo dục nghề nghiệp, phần lớn  
các GV hiện nay cũng có xu hướng thường sử  
dụng các phương pháp dạy học tích cực theo  
hướng hoạt động như: thuyết trình có minh  
họa, trực quan, đàm thoại, làm việc nhóm…  
Kể cả việc GV đã chủ động kết hợp nhiều  
PPDH trong cùng bài dạy hay một buổi dạy để  
tránh sự nhàm chán, đồng thời tạo sự tích cực  
cho các hoạt động của SV. Tuy nhiên, thực  
trạng cũng cho thấy nhiều GV còn hạn chế  
trong việc vận dụng các PPDH pháp giúp SV  
phát huy những năng lực phán đoán, nhận biết,  
nghiên cứu, tư duy, sáng tạo như: công não,  
đóng vai, nghiên cứu tình huống. Đây cũng là  
những hạn chế trong việc dạy SV giải quyết  
một cách hợp lý các tình huống/công việc  
trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động  
nghề nghiệp sau này.  
- Là dạy học mở và tích cực hóa người  
học, tăng cường các hoạt động giao tiếp,  
không chỉ là giao tiếp giữa giáo viên (GV) với  
sinh viên (SV) mà ngược lại SV với GV và cả  
SV với SV nữa.  
- Cấu trúc chương trình đào tạo theo  
định hướng NLHĐNN thường thiết kế theo mô  
đun, mỗi mô đun là một vị trí hay một lĩnh vực  
hoạt động của nghề và mỗi bài dạy trong mô  
đun là một tình huống hay công việc thực tiễn  
của nghề.  
- Năng lực hoạt động nghề nghiệp  
2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC HIỆN NAY  
TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP  
3
Thực trạng cũng cho thấy trong tổ chức tư nhiều điều kiện cơ sở vật chất (trang thiết  
dạy học, các GV còn chú trọng quá nhiều vào bị, dụng cụ, phương tiện…) phục vụ cho giảng  
việc hình thành cho SV những năng lực dạy nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được hoàn  
chuyên môn mà chưa quan tâm nhiều đến việc toàn cho các công việc trong thực tiễn nghề  
giúp người học hình thành những năng lực nghiệp. Đồng thời cũng còn thiếu nhiều sự liên  
khác như: năng lực phương pháp, năng lực xã kết giữa nhà trường và các doanh nghiệp. Cho  
hội và năng lực cá nhân. Trong giáo dục nghề nên, việc tạo điều kiện cho SV học trải nghiệm  
nghiệp, NLHĐNN là sự giao thoa, kết hợp của qua việc liên kết với các nhà máy, công ty sản  
cả bốn nhóm năng lực này. Một trong bốn xuất hay doanh nghiệp hầu như chưa được các  
nhóm năng lực này bị hạn chế sẽ không thúc nhà trường quan tâm nhiều. Đây cũng là điểm  
đẩy được sự hình thành và phát triển của hạn chế của các trường nghề.  
NLHĐNN. Mặt khác, do sự hướng dẫn của  
- Vai trò của giảng viên  
GV chưa đến nơi đến chốn trong việc giúp SV  
Với đội ngũ GV hiện nay hầu như đều  
đáp ứng đầy đủ về trình độ chuyên môn và  
tự học, tự nghiên cứu để phát huy năng lực cá  
nhân hay với những yếu tố liên quan đến hoạt  
phần lớn đã được tập huấn về dạy học theo  
động làm việc nhóm (giao tiếp, hợp tác, quản  
định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp,  
lý nhóm…) dẫn đến vẫn còn một tỷ lệ đáng kể  
nhưng có rất ít GV mạnh dạn vận dụng dạy  
các SV chưa cảm thấy tự tin với công việc  
học theo quan điểm này. Mặc khác, trong tổ  
nghề nghiệp sau học tập.  
chức dạy học, nhiều GV vẫn còn chưa nhấn  
Trong các môi trường làm việc công  
mạnh đến các công việc mà SV phải thực hiện  
nghiệp và tiên tiến như hiện nay, việc sử dụng  
được ở mỗi bài học, chưa công bố rõ ràng các  
công nghệ, khả năng giao tiếp, hợp tác hay làm  
tiêu chí kiểm tra-đánh giá sản phẩm, công việc  
việc nhóm rất quan trọng. Đó chính là những  
hay những năng lực SV cần đạt được. Vì vậy,  
yếu tố thúc đẩy cho việc nhận biết tình huống  
làm cho SV thiếu tính chủ động, tích cực trong  
và giải quyết công việc. Đây cũng là những  
học tập cũng như trong việc tự đánh giá kết  
hạn chế mà GV cần phải khắc phục trong dạy  
quả học tập của mình. Việc công bố rõ ràng  
học theo định hướng NLHĐNN. Vì vậy,  
mục tiêu, nội dung, tiêu chí đánh giá, thông tin  
hướng tới là cần phải triển khai nhiều hơn nữa  
phản hồi là những nguyên tắc quan trọng trong  
các phương pháp dạy học giúp phát huy những  
dạy học theo định hướng năng lực giáo dục  
năng lực này.  
nghề nghiệp.  
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV  
Tóm lại, dạy học theo định hướng hoạt  
Các phương pháp kiểm tra, đánh giá  
động thì hầu như đã được thực hiện trong các  
trong GDNN hiện nay đôi khi còn mang tính  
trường nghề. Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt  
chất cảm tính, chủ yếu dựa trên điểm số; chưa  
động dạy học này thực sự chưa mang lại hiệu  
có tiêu chuẩn rõ ràng cho từng sản phẩm; từng  
quả cao bởi vì vẫn còn đó nhiều người học sau  
kết quả công việc; chưa đi sâu vào phân tích  
khi tốt nghiệp, họ vẫn còn chưa biết mình sẽ  
các sai, hỏng để có biện pháp phòng tránh,  
làm được công việc gì nên vẫn chưa thể tự tin  
khắc phục; còn thiếu các thông tin phản hồi  
khi nghĩ rằng sẽ giải quyết tốt các tình  
cho người học. Chính vì vậy chưa thúc đẩy  
huống/công việc trong hoạt động nghề nghiệp  
được những năng lực tự nghiên cứu, tư duy,  
của mình sau này. Nguyên nhân của thực trạng  
lập luận và sáng tạo của SV.  
này một phần do nội dung chương trình đào  
- Điều kiện cơ sở vật chất  
tạo còn thiếu tính thực tiễn, thiếu sự kết nối  
giữa lý thuyết và thực hành, thiếu cơ sở để tạo  
sự tương tác giữa SV với GV và đặc biệt là  
tương tác SV-SV. Hạn chế này giải thích cho  
việc hiện nay có rất nhiều các doanh nghiệp  
Bước vào thời đại phát triển theo xu  
hướng cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với  
những thay đổi liên tục tăng cao của nhu cầu  
xã hội. Vì vậy, mặc dù các nhà trường đã đầu  
4
vẫn cho rằng họ thiếu nguồn nhân lực bởi vì  
họ không thể tuyển dụng được người lao động  
đạt yêu cầu của họ.  
- Xác định mục tiêu bài dạy  
Mục tiêu của bài dạy phải hướng đến  
việc hình thành cho người học các thành phần  
3. VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH của NLHĐNN bao gồm: NL chuyên môn, NL  
HƯỚNG NLHĐNN TRONG GIÁO DỤC phương pháp, NL xã hội và NL cá nhân.  
NGHỀ NGHIỆP.  
- Xác định cấu trúc nội dung bài dạy  
Với thực trạng trên, để nâng cao hiệu  
Do thực hiện dạy học theo định hướng  
quả dạy học trong GDNN thì việc vận dụng  
NLHĐNN nên nội dung của bài dạy phải được  
dạy học theo định hướng NLHĐNN là điều tất  
cấu trúc theo cụ thể các công việc của nghề,  
yếu. Cụ thể với những vấn đề cẩn giải quyết  
đồng thời có sự tích hợp giữa lý thuyết và thực  
hành. Nội dung của mỗi bài học trong mô đun  
như sau:  
3.1. Thiết kế cấu trúc chương trình đào tạo là một tình huống/công việc thực tiễn của  
theo hướng mô đun định hướng NLHĐNN.  
nghề. Và như thế mỗi hoạt động học tập của  
SV sẽ hình thành nên những NL tương ứng.  
Với các mục tiêu người học cần đạt được  
về kiến thức, kỹ năng và thái độ thường không  
được tách rời nhau mà phải liên kết, tích hợp  
lại thành các thành tố và đơn vị năng lực. Vì  
vậy chương trình đào tạo phải thiết kế trên cơ  
sở liên kết lý thuyết và thực hành, thực tiễn.  
Đặc biệt với các môn học có tính chất kỹ thuật  
(đây cũng là nét đặc thù của các trường nghề).  
Các kỹ thuật không học riêng nữa mà được  
lồng ghép vào các bài chuyên môn cụ thể  
trong cùng điều kiện về không gian, thời gian  
với những trang bị cần thiết (cơ sở vật chất, tài  
liệu nghiên cứu, phương tiện nghe, nhìn...)  
nhằm giúp người học hình thành năng lực hoạt  
động nghề nghiệp. Như vậy, khi kết thúc mô  
đun, người học có thể hình dung được vị trí  
việc làm trong hoạt động nghề nghiệp của  
mình sau này. Từ đó, họ sẽ cảm thấy hứng thú  
hơn và tự tin hơn trong học tập.  
- Thiết kế kế hoạch dạy học, bao gồm:  
+ Hệ thống các công việc và tình huống  
dạy học phù hợp với tính chất công việc và  
trình độ tiếp nhận của SV. Các tình huống dạy  
học phải được lựa chọn và xây dựng từ những  
tình huống thực tiễn, hoặc mô phỏng những  
tình huống có thể xảy ra.  
+ Hệ thống các hoạt động, thao tác  
tương ứng với các tình huống và công việc dạy  
học do GV sắp xếp, tổ chức hợp lý nhằm  
hướng dẫn SV từng bước tiếp cận công việc  
một cách tích cực và sáng tạo.  
3.3. Thực hiện kế hoạch dạy học  
Việc thực hiện kế hoạch dạy học bao  
gồm các bước như sau:  
- Dẫn nhập: Dẫn nhập có ý nghĩa rất  
quan trọng đối với quá trình dạy học. Mục  
đích của dẫn nhập là giúp SV thấy được tổng  
quan của bài học, những năng lực cần đạt được  
của SV sau bài học và những kỹ năng quan  
trọng của bài học. Làm cho SV quan tâm, chú  
ý và khơi dậy được sự hứng thú, tích cực tham  
gia bài học của SV, tạo mối liên kết giữa  
những bài học trước với bài học sau.  
3.2. Về thiết kế tổ chức bài dạy:  
Dạy học theo định hướng NLHĐNN  
chính là quan điểm để thiết kế và tổ chức dạy  
học tích hợp. Nghĩa là dạy học kết hợp lý  
thuyết và thực hành. Sự tích hợp theo một thể  
thống nhất, qui định lẫn nhau, có mối quan hệ  
mật thiết, thể hiện tính liên kết và tính toàn  
vẹn. Trong mỗi bài dạy theo định hướng  
NLHĐNN, phải xác định những năng lực cụ  
thể cho người học hay là một công việc cụ thể  
cho hoạt động nghề nghiệp sau này.  
Để phần dẫn nhập có hiệu quả, GV cần  
chú ý phải tổ chức các hoạt động sao cho: tạo  
sự quan tâm, chú ý của SV; tạo sự hứng thú,  
tích cực học tập nơi SV; tạo mối quan hệ tích  
cực thông qua sự giao tiếp, hợp tác không chỉ  
Qui trình thiết kế bài dạy theo định hướng  
NLHĐNN  
5
giữa GV và SV mà ngược lại là giữa SV với cách giải quyết công việc theo phương án mới  
GV và cả giữa SV với nhau nữa.  
dựa vào kinh nghiệm trước đó nhằm đáp ứng  
với điều kiện và hoàn cảnh thay đổi sau này.  
- Giới thiệu chủ đề bài học, bao gồm  
những nội dung sau:  
+ Đánh giá kết quả thực hiện công việc  
của SV  
+ Nêu chủ đề bài học  
- Kết thúc vấn đề  
+ Xác định và diễn đạt mục tiêu bài học  
cho SV  
+ Củng cố kiến thức, củng cố kỹ năng,  
lưu ý các sai phạm mà SV thường xuyên mắc  
phải trong quá trình thực hiện, nhận xét kết  
quả thực hiện công việc của SV.  
+ Giới thiệu tổng quan về bài học  
+ Giới thiệu những vấn đề then chốt của  
bài học.  
+ Phổ biến kinh nghiệm và sáng kiến  
học tập.  
+ Giới thiệu dụng cụ, trang thiết bị, tài  
liệu học tập và nguyên phụ liệu cần thiết cho  
bài học  
+ Thông báo kết luận đánh giá đến SV  
nhằm cung cấp cho SV những thông tin phản  
hồi để giúp họ tự điều chỉnh sự thực hiện,  
đồng thời giúp họ có khả năng xác nhận quy  
trình hay sản phẩm như thế nào là đạt yêu cầu.  
- Hướng dẫn SV giải quyết vấn đề  
+ Tổ chức và hướng dẫn SV nghiên cứu  
kiến thức liên quan đến việc thực hiện công  
việc  
+ Hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu.  
+ Hướng dẫn SV trình tự các bước thực  
hiện công việc.  
Nhiệm vụ tự học của SV có vai trò rất  
quan trọng đối với việc đạt được các tiêu  
chuẩn NLHĐNN của SV. Tuy nhiên, để nhiệm  
vụ này đạt hiệu quả thì cần đến vai trò hướng  
dẫn của GV và cần có sự phối hợp tích cực  
giữa GV và SV.  
+ Tổ chức cho SV thực hiện công việc  
Tùy thuộc vào từng bước trong công  
việc và điều kiện cụ thể, GV tổ chức cho SV  
thực hiện công việc theo cá nhân hay thực hiện  
công việc theo nhóm. Vai trò tự rèn luyện của  
cá nhân ở giai đoạn này là rất quan trọng, họ  
phải bám sát phiếu hướng dẫn thực hiện công  
việc để luyện tập. Vì vậy, GV cần tổ chức cho  
SV thực hiện công việc theo nhóm để họ trao  
đổi, giúp đỡ và kiểm tra lẫn nhau. Đồng thời  
GV phải luôn giám sát, kiểm tra chặt chẽ và  
liên tục đối với quá trình thực hiện công việc  
của tất cả mọi SV nhằm phát hiện các sai hỏng  
để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời, phải đảm bảo  
sao cho SV thực hiện đúng mỗi bước.  
4. KẾT LUẬN  
Dạy học theo định hướng NLHĐNN là  
quan điểm dạy học luôn chú trọng kết quả đầu  
ra nên giúp người học chủ động hơn, tích cực  
hơn để hình thành tốt các nhóm năng lực. Sự  
kết hợp khéo léo và tinh tế những năng lực đó  
sẽ giúp cho người học hình thành được  
NLHĐNN. Để sau khi tốt nghiệp với những  
năng lực đó; họ có thể tự tin hơn, bản lĩnh hơn  
khi tiếp nhận các công việc trong hoạt động  
nghề nghiệp; làm việc tốt hơn và chất lượng  
công việc cũng sẽ cao hơn. Điều này không  
chỉ làm cho họ hài lòng với cuộc sống mà cả  
người sử dụng lao động cũng hài lòng với chất  
lượng công việc của họ.  
Điều quan trọng là SV không phải chỉ  
tập trung thực hiện theo mẫu mà chủ yếu là  
học cách thức; phương pháp phối hợp và vận  
dụng linh hoạt cũng như hợp lý các kỹ năng.  
Trên cơ sở đó, SV có thể tư duy, sáng tạo, tìm  
6
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn văn Tuấn, 2009, Tài liệu bài giảng Lý luận dạy học, Trường Đại học sư phạm kỹ  
thuật TPHCM  
[2] Nguyễn Văn Tuấn, 2017, Dạy học định hướng năng lực hoạt động - Một xu hướng mới trong  
lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Đại học SPKT TP HCM  
[3] Hướng dẫn dạy học tích hợp, 2010, Bộ Lao động Thương binh Xã hội  
[4] Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường, 2015, Lý luận dạy học hiện đại, Nhà xuất bản Đại học Sư  
Phạm Hà Nội.  
[5] Nguyễn văn Tuấn, 2010, Phương pháp dạy học tích hợp, Trường đại học Sư phạm kỹ thuật  
TPHCM.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết  
Họ tên: Nguyễn Thị Thanh Thủy  
Đơn vị: Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai  
Điện thoại: 0918284697  
Email: thanhthuycyd@gmail.com  
Xác nhận của Giáo viên hướng dẫn  
7
8
pdf 8 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 13520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ve_day_hoc_theo_dinh_huong_nang_luc_hoat_dong.pdf