Một số vấn đề về dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC
HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
SOME PROBLEMS WITH COMPETENCE-BASED TRAINING
IN VOCATIONAL EDUCATION
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Học viên Cao học Trường Đại học SPKT TP.HCM
TÓM TẮT
Dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp, một xu hướng dạy học khá
phổ biến hiện nay không chỉ ở nhiều nước trên thế giới mà ngay tại Việt Nam đặc biệt trong lĩnh
vực giáo dục nghề nghiệp, mặc dù vấn đề này vẫn còn nhiều điều cần nghiên cứu.
Dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp, một quan điểm giáo dục luôn
luôn chú trọng vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo, không chỉ nhằm mục tiêu hình thành
cho người học năng lực chuyên môn mà còn phát triển cho người học những năng lực khác như:
năng lực phương pháp, năng lực xã hội và cả năng lực cá nhân. Những năng lực không tách rời
nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự giao thoa hay kết hợp hợp lý và linh hoạt các
năng lực này sẽ hình thành nên năng lực hoạt động nghề nghiệp. Chính nền tảng năng lực hoạt
động nghề nghiệp đó sẽ giúp cho người học sau khi tốt nghiệp sẵn sàng tham gia vào thị trường
lao động. Họ sẽ cảm thấy tự tin hơn, bản lĩnh hơn khi thực hiện công việc hay giải quyết các tình
huống thực tiễn trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động nghề nghiệp của họ. Trên cơ sở
đó, trong phạm vi bài này, người nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn đề dạy học theo định
hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp.
Từ khóa: dạy học; năng lực; năng lực hoạt động nghề nghiệp; dạy học theo định hướng năng
lực hoạt động nghề nghiệp.
ABSTRACT
Competence-based training in vocational education, a popular trend in teaching
methods today is not only in many countries around the world but also in Vietnam, especially in
the field of vocational education, although this still has many issues to study.
Competence-based training in vocational education, an educational perspective always
focuses on the output of the training process. Its purpose aims to form learners’ professional
competency as well as developing other competencies for them, such as, methodical competency,
social competency, and individual competency. These competencies are not separable but have a
close interaction with each other. The interference or a rational and flexible combination of
these competencies will form the professional competency for learners. The foundation of that
will help learners be ready to participate in the labor market after graduation. They will feel
more confident and high-spirited when doing their work or solving real situations in their lives
as well as in their professional activities. On that basis, the researcher mentioned some
problems Competence-based training in vocational education
Key words: training; competency; Professional action competency; Competence-based training
in vocational education
1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bước sang thế kỉ 21, nhu cầu của xã hội
công nghiệp và thương mại dưới các điều kiện
hiện hành; là khả năng thực hiện các hoạt động
(nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo các tiêu
chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc
đó” [3].
ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng trong
tất cả các lĩnh vực. Để đáp ứng cho nhu cầu đó
cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao có
đầy đủ các năng lực để họ thực hiện tốt công
việc hay giải quyết các tình huống trong cuộc
sống cũng như trong hoạt động nghề nghiệp.
Do vậy, các nhà giáo dục phải liên tục cải tiến,
thay đổi, sửa sang lại các chương trình đào tạo,
nội dung giảng dạy, phương pháp dạy học
nhằm tạo điều kiện cho người học chủ động
tìm kiếm tri thức, phát huy các khả năng tư
duy, sáng tạo để vận dụng vào thực tiễn phát
triển của xã hội.
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
2.1. Dạy học
Hình 1: Cấu trúc năng lực hoạt động
nghề nghiệp
Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ
yếu nhất của nhà trường, diễn ra theo một quá
trình nhất định từ t0 đến tn gọi là quá trình dạy
học. Đó là một quá trình xã hội bao gồm và
gắn liền với hoạt động dạy và hoạt động học
trong đó học sinh tự giác, tích cực, chủ động,
tự tổ chức, tự điều kiển và điều chỉnh hoạt
động nhận thức của mình dưới sự điều khiển
chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của giáo viên
nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học
[1].
Trong đó:
- Năng lực chuyên môn: năng lực về
một lĩnh vực/môn học cụ thể. Là khả năng
thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn (bao
gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng
hợp và trừu tượng; khả năng nhận biết các mối
quan hệ thống nhất trong quá trình…).
- Năng lực phương pháp: Là khả năng
đối với những hành động có kế hoạch, định
hướng mục đích trong công việc giải quyết các
nhiệm vụ và vấn đề đặt ra. Trọng tâm của năng
lực phương pháp là những phương pháp nhận
thức, xử lý, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu.
2.2. Năng lực
Có rất nhiều các khái niệm về năng lực.
Theo Rudolf Tippelt, ông cho rằng: “ Năng lực
là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu
quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ,
vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc
các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân
trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh
nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động ” [2].
- Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được
mục đích trong những tình huống xã hội cũng
như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự
phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Trọng tâm của năng lực xã hội là ý thức được
trách nhiệm của bản thân cũng như của những
người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức; có
khả năng thực hiện các hành động xã hội, khả
năng cộng tác và giải quyết xung đột.
2.3. Năng lực hoạt động nghề nghiệp (Năng
lực thực hiện)
Trong giáo dục nghề nghiệp (GDNN),
năng lực hoạt động nghề nghiệp (NLHĐNN)
có thể được định nghĩa như sau: “là sự vận
dụng các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ
để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chuẩn
- Năng lực cá nhân: Là khả năng suy
nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển
cũng như những giới hạn của mình; phát triển
được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng
và thực hiện kế hoạch cho cuộc sống riêng;
2
những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và 2.1. Chương trình đào tạo:
động cơ chi phối các hành vi ứng xử. Nó được
Thực trạng hiện nay cho thấy phần lớn
tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và
liên quan đến tư duy và hành động tự chịu
trách nhiệm.
các chương trình đào tạo nghề còn theo xu
hướng tách rời lý thuyết và thực hành (dạy lý
thuyết trước, dạy thực hành sau). Với chương
Năng lực hoạt động nghề nghiệp là sự trình như thế sẽ mang đến những hạn chế như
giao nhau của bốn năng lực thành phần trên. sau:
Do vậy phát triển năng lực hoạt động nghề
- Một là làm cho người học mất nhiều
nghiệp chính là phát triển cả bốn năng lực
thời gian phải tìm lại kiến thức lý thuyết trước
thành phần trong cùng một bài dạy. Đầu tiên
khi vận dụng vào học thực hành;
chính là thành phần năng lực chuyên môn
- Hai là chưa xác định rõ ràng những
năng lực người học phải đạt được sau mỗi
được học thông qua nội dung lý thuyết và thực
hành giải quyết tình huống nhiệm vụ nghề
công việc/tình huống trong bài dạy, môn học
nghiệp. Các năng lực thành phần như năng lực
phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá
hay chương trình đào tạo;
nhân sẽ được hình thành qua việc tổ chức dạy
học của giáo viên [2].
- Ba là chương trình còn thiếu tính liên
kết với thực tiễn.
2.4. Dạy học theo định hướng năng lực hoạt
động nghề nghiệp
Vì vậy, với chương trình đào tạo như thế
sẽ là cho người học khó hình dung được các
tình huống/công việc sau này trong hoạt động
nghề nghiệp của mình nên làm hạn chế sự
hứng thú và tích cực học tập của họ.
Nói đến dạy học theo định hướng năng
lực hoạt động nghề nghiệp là nói đến những
đặc điểm sau:
2.2. Tổ chức dạy học
- Đây là quan điểm dạy học định hướng
kết quả đầu ra, nghĩa là sau khi học xong
người học có thể làm được công việc gì trong
các hoạt động nghề nghiệp nhất định. Các
năng lực mà người học thu nhận trong quá
trình đào tạo phải phù hợp với công việc mà
những người hành nghề thực tế phải làm
và/hoặc dưới dạng các hành vi và thái độ nghề
nghiệp.
- Phương pháp dạy học (PPDH)
Trong giáo dục nghề nghiệp, phần lớn
các GV hiện nay cũng có xu hướng thường sử
dụng các phương pháp dạy học tích cực theo
hướng hoạt động như: thuyết trình có minh
họa, trực quan, đàm thoại, làm việc nhóm…
Kể cả việc GV đã chủ động kết hợp nhiều
PPDH trong cùng bài dạy hay một buổi dạy để
tránh sự nhàm chán, đồng thời tạo sự tích cực
cho các hoạt động của SV. Tuy nhiên, thực
trạng cũng cho thấy nhiều GV còn hạn chế
trong việc vận dụng các PPDH pháp giúp SV
phát huy những năng lực phán đoán, nhận biết,
nghiên cứu, tư duy, sáng tạo như: công não,
đóng vai, nghiên cứu tình huống. Đây cũng là
những hạn chế trong việc dạy SV giải quyết
một cách hợp lý các tình huống/công việc
trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động
nghề nghiệp sau này.
- Là dạy học mở và tích cực hóa người
học, tăng cường các hoạt động giao tiếp,
không chỉ là giao tiếp giữa giáo viên (GV) với
sinh viên (SV) mà ngược lại SV với GV và cả
SV với SV nữa.
- Cấu trúc chương trình đào tạo theo
định hướng NLHĐNN thường thiết kế theo mô
đun, mỗi mô đun là một vị trí hay một lĩnh vực
hoạt động của nghề và mỗi bài dạy trong mô
đun là một tình huống hay công việc thực tiễn
của nghề.
- Năng lực hoạt động nghề nghiệp
2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC HIỆN NAY
TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
3
Thực trạng cũng cho thấy trong tổ chức tư nhiều điều kiện cơ sở vật chất (trang thiết
dạy học, các GV còn chú trọng quá nhiều vào bị, dụng cụ, phương tiện…) phục vụ cho giảng
việc hình thành cho SV những năng lực dạy nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được hoàn
chuyên môn mà chưa quan tâm nhiều đến việc toàn cho các công việc trong thực tiễn nghề
giúp người học hình thành những năng lực nghiệp. Đồng thời cũng còn thiếu nhiều sự liên
khác như: năng lực phương pháp, năng lực xã kết giữa nhà trường và các doanh nghiệp. Cho
hội và năng lực cá nhân. Trong giáo dục nghề nên, việc tạo điều kiện cho SV học trải nghiệm
nghiệp, NLHĐNN là sự giao thoa, kết hợp của qua việc liên kết với các nhà máy, công ty sản
cả bốn nhóm năng lực này. Một trong bốn xuất hay doanh nghiệp hầu như chưa được các
nhóm năng lực này bị hạn chế sẽ không thúc nhà trường quan tâm nhiều. Đây cũng là điểm
đẩy được sự hình thành và phát triển của hạn chế của các trường nghề.
NLHĐNN. Mặt khác, do sự hướng dẫn của
- Vai trò của giảng viên
GV chưa đến nơi đến chốn trong việc giúp SV
Với đội ngũ GV hiện nay hầu như đều
đáp ứng đầy đủ về trình độ chuyên môn và
tự học, tự nghiên cứu để phát huy năng lực cá
nhân hay với những yếu tố liên quan đến hoạt
phần lớn đã được tập huấn về dạy học theo
động làm việc nhóm (giao tiếp, hợp tác, quản
định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp,
lý nhóm…) dẫn đến vẫn còn một tỷ lệ đáng kể
nhưng có rất ít GV mạnh dạn vận dụng dạy
các SV chưa cảm thấy tự tin với công việc
học theo quan điểm này. Mặc khác, trong tổ
nghề nghiệp sau học tập.
chức dạy học, nhiều GV vẫn còn chưa nhấn
Trong các môi trường làm việc công
mạnh đến các công việc mà SV phải thực hiện
nghiệp và tiên tiến như hiện nay, việc sử dụng
được ở mỗi bài học, chưa công bố rõ ràng các
công nghệ, khả năng giao tiếp, hợp tác hay làm
tiêu chí kiểm tra-đánh giá sản phẩm, công việc
việc nhóm rất quan trọng. Đó chính là những
hay những năng lực SV cần đạt được. Vì vậy,
yếu tố thúc đẩy cho việc nhận biết tình huống
làm cho SV thiếu tính chủ động, tích cực trong
và giải quyết công việc. Đây cũng là những
học tập cũng như trong việc tự đánh giá kết
hạn chế mà GV cần phải khắc phục trong dạy
quả học tập của mình. Việc công bố rõ ràng
học theo định hướng NLHĐNN. Vì vậy,
mục tiêu, nội dung, tiêu chí đánh giá, thông tin
hướng tới là cần phải triển khai nhiều hơn nữa
phản hồi là những nguyên tắc quan trọng trong
các phương pháp dạy học giúp phát huy những
dạy học theo định hướng năng lực giáo dục
năng lực này.
nghề nghiệp.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV
Tóm lại, dạy học theo định hướng hoạt
Các phương pháp kiểm tra, đánh giá
động thì hầu như đã được thực hiện trong các
trong GDNN hiện nay đôi khi còn mang tính
trường nghề. Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt
chất cảm tính, chủ yếu dựa trên điểm số; chưa
động dạy học này thực sự chưa mang lại hiệu
có tiêu chuẩn rõ ràng cho từng sản phẩm; từng
quả cao bởi vì vẫn còn đó nhiều người học sau
kết quả công việc; chưa đi sâu vào phân tích
khi tốt nghiệp, họ vẫn còn chưa biết mình sẽ
các sai, hỏng để có biện pháp phòng tránh,
làm được công việc gì nên vẫn chưa thể tự tin
khắc phục; còn thiếu các thông tin phản hồi
khi nghĩ rằng sẽ giải quyết tốt các tình
cho người học. Chính vì vậy chưa thúc đẩy
huống/công việc trong hoạt động nghề nghiệp
được những năng lực tự nghiên cứu, tư duy,
của mình sau này. Nguyên nhân của thực trạng
lập luận và sáng tạo của SV.
này một phần do nội dung chương trình đào
- Điều kiện cơ sở vật chất
tạo còn thiếu tính thực tiễn, thiếu sự kết nối
giữa lý thuyết và thực hành, thiếu cơ sở để tạo
sự tương tác giữa SV với GV và đặc biệt là
tương tác SV-SV. Hạn chế này giải thích cho
việc hiện nay có rất nhiều các doanh nghiệp
Bước vào thời đại phát triển theo xu
hướng cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với
những thay đổi liên tục tăng cao của nhu cầu
xã hội. Vì vậy, mặc dù các nhà trường đã đầu
4
vẫn cho rằng họ thiếu nguồn nhân lực bởi vì
họ không thể tuyển dụng được người lao động
đạt yêu cầu của họ.
- Xác định mục tiêu bài dạy
Mục tiêu của bài dạy phải hướng đến
việc hình thành cho người học các thành phần
3. VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH của NLHĐNN bao gồm: NL chuyên môn, NL
HƯỚNG NLHĐNN TRONG GIÁO DỤC phương pháp, NL xã hội và NL cá nhân.
NGHỀ NGHIỆP.
- Xác định cấu trúc nội dung bài dạy
Với thực trạng trên, để nâng cao hiệu
Do thực hiện dạy học theo định hướng
quả dạy học trong GDNN thì việc vận dụng
NLHĐNN nên nội dung của bài dạy phải được
dạy học theo định hướng NLHĐNN là điều tất
cấu trúc theo cụ thể các công việc của nghề,
yếu. Cụ thể với những vấn đề cẩn giải quyết
đồng thời có sự tích hợp giữa lý thuyết và thực
hành. Nội dung của mỗi bài học trong mô đun
như sau:
3.1. Thiết kế cấu trúc chương trình đào tạo là một tình huống/công việc thực tiễn của
theo hướng mô đun định hướng NLHĐNN.
nghề. Và như thế mỗi hoạt động học tập của
SV sẽ hình thành nên những NL tương ứng.
Với các mục tiêu người học cần đạt được
về kiến thức, kỹ năng và thái độ thường không
được tách rời nhau mà phải liên kết, tích hợp
lại thành các thành tố và đơn vị năng lực. Vì
vậy chương trình đào tạo phải thiết kế trên cơ
sở liên kết lý thuyết và thực hành, thực tiễn.
Đặc biệt với các môn học có tính chất kỹ thuật
(đây cũng là nét đặc thù của các trường nghề).
Các kỹ thuật không học riêng nữa mà được
lồng ghép vào các bài chuyên môn cụ thể
trong cùng điều kiện về không gian, thời gian
với những trang bị cần thiết (cơ sở vật chất, tài
liệu nghiên cứu, phương tiện nghe, nhìn...)
nhằm giúp người học hình thành năng lực hoạt
động nghề nghiệp. Như vậy, khi kết thúc mô
đun, người học có thể hình dung được vị trí
việc làm trong hoạt động nghề nghiệp của
mình sau này. Từ đó, họ sẽ cảm thấy hứng thú
hơn và tự tin hơn trong học tập.
- Thiết kế kế hoạch dạy học, bao gồm:
+ Hệ thống các công việc và tình huống
dạy học phù hợp với tính chất công việc và
trình độ tiếp nhận của SV. Các tình huống dạy
học phải được lựa chọn và xây dựng từ những
tình huống thực tiễn, hoặc mô phỏng những
tình huống có thể xảy ra.
+ Hệ thống các hoạt động, thao tác
tương ứng với các tình huống và công việc dạy
học do GV sắp xếp, tổ chức hợp lý nhằm
hướng dẫn SV từng bước tiếp cận công việc
một cách tích cực và sáng tạo.
3.3. Thực hiện kế hoạch dạy học
Việc thực hiện kế hoạch dạy học bao
gồm các bước như sau:
- Dẫn nhập: Dẫn nhập có ý nghĩa rất
quan trọng đối với quá trình dạy học. Mục
đích của dẫn nhập là giúp SV thấy được tổng
quan của bài học, những năng lực cần đạt được
của SV sau bài học và những kỹ năng quan
trọng của bài học. Làm cho SV quan tâm, chú
ý và khơi dậy được sự hứng thú, tích cực tham
gia bài học của SV, tạo mối liên kết giữa
những bài học trước với bài học sau.
3.2. Về thiết kế tổ chức bài dạy:
Dạy học theo định hướng NLHĐNN
chính là quan điểm để thiết kế và tổ chức dạy
học tích hợp. Nghĩa là dạy học kết hợp lý
thuyết và thực hành. Sự tích hợp theo một thể
thống nhất, qui định lẫn nhau, có mối quan hệ
mật thiết, thể hiện tính liên kết và tính toàn
vẹn. Trong mỗi bài dạy theo định hướng
NLHĐNN, phải xác định những năng lực cụ
thể cho người học hay là một công việc cụ thể
cho hoạt động nghề nghiệp sau này.
Để phần dẫn nhập có hiệu quả, GV cần
chú ý phải tổ chức các hoạt động sao cho: tạo
sự quan tâm, chú ý của SV; tạo sự hứng thú,
tích cực học tập nơi SV; tạo mối quan hệ tích
cực thông qua sự giao tiếp, hợp tác không chỉ
Qui trình thiết kế bài dạy theo định hướng
NLHĐNN
5
giữa GV và SV mà ngược lại là giữa SV với cách giải quyết công việc theo phương án mới
GV và cả giữa SV với nhau nữa.
dựa vào kinh nghiệm trước đó nhằm đáp ứng
với điều kiện và hoàn cảnh thay đổi sau này.
- Giới thiệu chủ đề bài học, bao gồm
những nội dung sau:
+ Đánh giá kết quả thực hiện công việc
của SV
+ Nêu chủ đề bài học
- Kết thúc vấn đề
+ Xác định và diễn đạt mục tiêu bài học
cho SV
+ Củng cố kiến thức, củng cố kỹ năng,
lưu ý các sai phạm mà SV thường xuyên mắc
phải trong quá trình thực hiện, nhận xét kết
quả thực hiện công việc của SV.
+ Giới thiệu tổng quan về bài học
+ Giới thiệu những vấn đề then chốt của
bài học.
+ Phổ biến kinh nghiệm và sáng kiến
học tập.
+ Giới thiệu dụng cụ, trang thiết bị, tài
liệu học tập và nguyên phụ liệu cần thiết cho
bài học
+ Thông báo kết luận đánh giá đến SV
nhằm cung cấp cho SV những thông tin phản
hồi để giúp họ tự điều chỉnh sự thực hiện,
đồng thời giúp họ có khả năng xác nhận quy
trình hay sản phẩm như thế nào là đạt yêu cầu.
- Hướng dẫn SV giải quyết vấn đề
+ Tổ chức và hướng dẫn SV nghiên cứu
kiến thức liên quan đến việc thực hiện công
việc
+ Hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu.
+ Hướng dẫn SV trình tự các bước thực
hiện công việc.
Nhiệm vụ tự học của SV có vai trò rất
quan trọng đối với việc đạt được các tiêu
chuẩn NLHĐNN của SV. Tuy nhiên, để nhiệm
vụ này đạt hiệu quả thì cần đến vai trò hướng
dẫn của GV và cần có sự phối hợp tích cực
giữa GV và SV.
+ Tổ chức cho SV thực hiện công việc
Tùy thuộc vào từng bước trong công
việc và điều kiện cụ thể, GV tổ chức cho SV
thực hiện công việc theo cá nhân hay thực hiện
công việc theo nhóm. Vai trò tự rèn luyện của
cá nhân ở giai đoạn này là rất quan trọng, họ
phải bám sát phiếu hướng dẫn thực hiện công
việc để luyện tập. Vì vậy, GV cần tổ chức cho
SV thực hiện công việc theo nhóm để họ trao
đổi, giúp đỡ và kiểm tra lẫn nhau. Đồng thời
GV phải luôn giám sát, kiểm tra chặt chẽ và
liên tục đối với quá trình thực hiện công việc
của tất cả mọi SV nhằm phát hiện các sai hỏng
để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời, phải đảm bảo
sao cho SV thực hiện đúng mỗi bước.
4. KẾT LUẬN
Dạy học theo định hướng NLHĐNN là
quan điểm dạy học luôn chú trọng kết quả đầu
ra nên giúp người học chủ động hơn, tích cực
hơn để hình thành tốt các nhóm năng lực. Sự
kết hợp khéo léo và tinh tế những năng lực đó
sẽ giúp cho người học hình thành được
NLHĐNN. Để sau khi tốt nghiệp với những
năng lực đó; họ có thể tự tin hơn, bản lĩnh hơn
khi tiếp nhận các công việc trong hoạt động
nghề nghiệp; làm việc tốt hơn và chất lượng
công việc cũng sẽ cao hơn. Điều này không
chỉ làm cho họ hài lòng với cuộc sống mà cả
người sử dụng lao động cũng hài lòng với chất
lượng công việc của họ.
Điều quan trọng là SV không phải chỉ
tập trung thực hiện theo mẫu mà chủ yếu là
học cách thức; phương pháp phối hợp và vận
dụng linh hoạt cũng như hợp lý các kỹ năng.
Trên cơ sở đó, SV có thể tư duy, sáng tạo, tìm
6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn văn Tuấn, 2009, Tài liệu bài giảng Lý luận dạy học, Trường Đại học sư phạm kỹ
thuật TPHCM
[2] Nguyễn Văn Tuấn, 2017, Dạy học định hướng năng lực hoạt động - Một xu hướng mới trong
lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Đại học SPKT TP HCM
[3] Hướng dẫn dạy học tích hợp, 2010, Bộ Lao động Thương binh Xã hội
[4] Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường, 2015, Lý luận dạy học hiện đại, Nhà xuất bản Đại học Sư
Phạm Hà Nội.
[5] Nguyễn văn Tuấn, 2010, Phương pháp dạy học tích hợp, Trường đại học Sư phạm kỹ thuật
TPHCM.
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết
Họ tên: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Đơn vị: Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
Điện thoại: 0918284697
Email: thanhthuycyd@gmail.com
Xác nhận của Giáo viên hướng dẫn
7
8
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về dạy học theo định hướng năng lực hoạt động nghề nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_van_de_ve_day_hoc_theo_dinh_huong_nang_luc_hoat_dong.pdf

